Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Việc trị dân trong Kinh Dịch: từ kinh tế đến cách mạng

Bói Dịch26/09/202612 phút đọc4 lượt đọc
Việc trị dân trong Kinh Dịch: từ kinh tế đến cách mạng

Một ông tướng thắng trận đem quân sĩ lập công ra thưởng chức trọng quyền cao - Nguyễn Hiến Lê chỉ thẳng đó là sai lầm mà quẻ Sư đã cảnh báo từ mấy nghìn năm trước: người có công dẹp giặc chưa chắc có tài trị dân, thưởng tiền bạc thì được, giao trọng trách thì hỏng việc. Cũng trong 64 quẻ ấy còn có cả một cẩm nang: đánh thuế sao cho công bằng, xử án sao cho vừa nghiêm vừa có đức, đoàn kết dân sao cho không rơi vào bè phái, và làm cách mạng sao cho khỏi chuốc oán. Duy chỉ một chuyện, quẻ Cách nói thẳng: thay đổi mấy cũng phải...

Mục lục · 1 phần

Việc trị dân

Về nhiệm vụ dưỡng dân, giáo dân của nhà cầm quyền, chúng ta có thể suy từ những quẻ Di, Mông, Đại Súc chúng tôi đã giới thiệu ở tiết trên, khỏi phải nhắc lại, chỉ xin nói thêm về chính sách kinh tế trong quẻ Tiết và quẻ Khiêm.

Thoán truyện quẻ Tiết bảo nhà cầm quyền nên theo luật tiết chế của trời đất "bốn mùa nắng, mưa, nóng lạnh đều có chừng mực", mà trị dân: hạn chế lòng ham muốn, tính xa xỉ của con người, bắt dân làm việc vừa sức thôi, như vậy không tổn của cải, không hại dân.

Đại Tượng truyện hiểu xa hơn, khuyên người trị dân hạn định một chừng mực nào đó trong sự làm việc và hưởng thụ của dân, tùy đạo đức, tài nghệ của mỗi người. Như vậy là cho chữ Tiết một tác dụng rất lớn: tiết chế có nghĩa gần như kế hoạch hóa ngày nay và có mục đích thi hành sự công bằng trong xã hội, như lời Đại Tượng truyện quẻ Khiêm: "xứng vật bình thí": cho sự vật được cân xứng, quân bình.

Muốn "xứng vật bình thí" thì phải "biểu đa ích quả": bớt chỗ nhiều bù chỗ ít. Đó là đạo của trời: "khuy doanh nhi ích khiêm", đầy thì làm cho vơi đi, kém thì bù đắp vào.

Khổng, Lão đều đã nghĩ như vậy. Luận ngữ, thiên Quí Thị, bài 1, Khổng Tử bảo Nhiễm Cầu: trong nước hễ phân phối quân bình thì dân không nghèo (quân vô bần); và Lão Tử trong Đạo Đức kinh Chương 77 bảo:

"Đạo trời bớt chỗ dư bù chỗ thiếu. Đạo người thì không vậy: bớt chỗ thiếu mà thêm chỗ dư. Ai là người có dư mà cung cấp cho người thiếu thốn trong thiên hạ đây?"

Về việc hình pháp có quẻ Phệ hạp, đại ý khuyên người xử hình phải sáng suốt trước hết, cương quyết mà cũng cần có đức nhu (để bớt cương đi), có chút từ tâm, và luôn luôn giữ đạo chính, thận trọng như hai hào 4, 5.

Nếu không trung chính, dùng hình ngục mà không được người phục, có phần bị oán nữa thì tuy đáng ăn hận đấy mà không có lỗi lớn vì mình muốn giữ trật tự trong xã hội. Tôi cho như vậy không hợp với chủ trương trọng lễ hơn hình pháp, chủ trương trung hậu của đạo Nho (tội mà còn nghi ngờ thì nên phạt nhẹ - tội nghi duy khinh), và tôi ngờ rằng Dịch truyện đã chịu chút ít ảnh hưởng của thời Chiến Quốc, của phái pháp gia.

Nhưng quẻ Phệ hạp cũng khuyên nên răn đe từ khi dân mới mắc tội nhỏ, nếu không dân sẽ quen làm bậy, ác cứ tích lũy mà mắc tội lớn. Lời đó rất đúng.

Thời Xuân Thu và Chiến Quốc, người ta thường coi quẻ trước khi ra quân. Quẻ Sư bàn về việc ra quân, ý nghĩa hay, đủ, lời gọn mà không gượng. Quẻ một hào dương (hào 2) với 5 hào âm: nhất dương thống lĩnh quần âm, như một ông tướng điều khiển đoàn quân.

Đại ý của quẻ:

- Bất đắc dĩ mới phải ra quân, ra quân phải có chính nghĩa.

- Dùng tướng phải lựa người xứng đáng (như hào 2, dương cương mà đắc trung), đừng để cho kẻ bất tài (hào 3) tham gia.

- Phải cẩn thận từ lúc đầu, kỉ luật nghiêm minh, nhưng phải khéo léo để khỏi mất lòng dân, quân.

- Nếu gặp kẻ địch đương ở thế mạnh thì hãy tạm tránh, không sao.

- Điều này đáng để ý nhất: khi thành công rồi, luận công ban thưởng thì kẻ tiểu nhân (ít tài, ít đức, chỉ giỏi giết giặc thôi) có công, chỉ nên thưởng họ tiền bạc, đừng giao cho họ trọng trách (như cai trị một vùng, cầm đầu một bộ, một viện...); trọng trách phải về những người có tài đức, như vậy mới thịnh được. Từ xưa tới nay, biết bao nhà cầm quyền mắc lỗi đó khiến cho "thắng trong chiến tranh mà lại bại trong hòa bình".

Bất đắc dĩ mới ra quân, ra quân phải có chính nghĩa, đó là chủ trương chung của các phái Khổng, Lão, Mặc. Họ trọng văn hơn võ. Dịch cho Càn là chính, Khôn phụ thuộc Càn, nhưng cũng nhận âm có các ý văn vẻ, khiêm nhu, là đức của người văn minh, cho nên cho hào 5 quẻ Khôn là rất tốt, và tượng trưng bằng cái xiêm vàng, xiêm thì đẹp đẽ mà màu vàng vừa đẹp vừa sáng, quí, chỉ vua chúa mới được dùng. Dân tộc Trung Hoa thời Xuân Thu hiếu hòa cũng như mọi dân tộc nông nghiệp, nên trên hai ngàn năm mấy lần điêu đứng vì các dân tộc du mục hiếu chiến ở phía Bắc và Tây, hết rợ Hồ, tới rợ Kim, rợ Mông, rợ Mãn.

- Cách đối với dân, có các quẻ Đồng nhân, Tỉ, Hoán.

Điều quan trọng nhất là đoàn kết được nhân dân, khiến cho trên dưới hòa đồng. Muốn vậy thì phải bỏ tinh thần đảng phái, tôn trọng quyền của mỗi người, phân biệt nhiều hạng người, cho mỗi người được phát triển sở năng, thỏa mãn sở nguyện (Đại Tượng truyện quẻ Đồng Nhân). Công việc hòa đồng nào mới đầu cũng bị nhiều kẻ ngăn cản, không dễ gì thực hiện ngay được, dù là hợp với công lí, với hạnh phúc số đông (hào 5 quẻ Đồng nhân).

Cũng nên nhớ thêm hào 5 quẻ Tỉ: để cho người ta tự do, ai phục tòng mình thì tới, không thì cứ rút lui, mà mình thì phải trung, chính; nếu mình có tà tâm, mưu cầu tư lợi, dùng thủ đoạn để ép buộc người ta thì người ta miễn cưỡng theo rồi cũng chống lại mình.

Có khi để đoàn kết toàn dân, mình phải biết giải tán bè phái của mình, như lời khuyên trong các hào 3, 4 quẻ Hoán.

- Hào 3 bảo: đánh tan lòng riêng tư của mình đi thì không hối hận.

- Hào 4: giải tán bè phái của mình đi, rất tốt, vì như vậy là giải tán cái nhỏ để tập hợp thành cái lớn (như tập hợp cả quốc dân mà cùng lo cứu nước).

- Ngược lại với quẻ Hoán là quẻ Tụy nói về sự lập đảng hay liên minh.

Thoán Truyện quẻ đó khuyên người lập đảng hoặc vị minh chủ phải là bậc đại nhân, tài đức hơn người, được mọi người tin, trọng; phải giữ vững đạo chính có đường lối chính đáng, nhất là phải có lòng chí thành như khi vua vô nhà Thái Miếu dâng lễ.

Đại Tượng truyện khuyên thêm: Khi nhóm họp, nên có tinh thần hòa thuận.

- Cách dùng người: Không có một quẻ riêng nói về cách dùng người, nhưng xét các hào 5, 4, 2 trong các quẻ thì chúng ta gặp rất nhiều trường hợp dùng người. Hào 5 thường là vị nguyên thủ, người cầm đầu, có quyền nhất; hào 4 thường là vị cận thần tay chân của vị nguyên thủ; còn hào 2 thường là một chức quan lớn hay nhỏ ở xa nguyên thủ, hoặc một kẻ sĩ chưa ra làm quan. Hào 5 và hào 2 tương ứng với nhau nhưng ở xa nhau; hào 5 và hào 4 không tương ứng nhưng ở gần nhau.

Trường hợp tốt nhất là vị nguyên thủ có tài đức mà gặp được một kẻ sĩ cũng có tài đức, người trên biết tin dùng người dưới, người dưới cùng chí hướng với người trên thì dễ làm nên việc lớn như hào 5 và hào 2 quẻ Càn.

Người trên ít tài nhưng sáng suốt, biết dùng người có tài thì cũng tốt, như hào 5 với hào 2 quẻ Lâm, hoặc như hào 5 và hào 2 quẻ Sư: vua trao toàn quyền cầm quân cho một vị tướng lão thành.

Ông vua có tài, có đức mà cận thần biết phục đức sáng của vua, đem tài đức ra giúp đời thì cũng tốt, như hào 5 và hào 4 quẻ Quán.

Nếu hào 5 và 4 đều là dương cương cả, vua và cận thần đều có tài, đều cương cường cả thì dễ lập được sự nghiệp, nhưng cận thần công lao lớn quá mà lại được lòng dân nữa thì khi công thành rồi, sẽ bị vua ghen ghét mà nguy cho mình, như trường hợp Nguyễn Trãi.

Nếu hào 5 và 4 đều khiêm nhu như trong quẻ Khiêm thì tốt cho 4 nhưng không tốt mấy cho 5, vì 5 thiếu uy.

Theo luật âm dương thì như vậy, nhưng Dịch phải có tính cách biến thông, cho nên tốt xấu còn tùy ý nghĩa của cả quẻ, tức của thời, chứ không phải chỉ tùy ý nghĩa của mỗi hào.

Nguyên tắc chung trong sự dùng người là người trên phải chí thành mới cảm hóa được người dưới, nhưng cũng phải có uy mới sai khiến được họ; mà người dưới cũng phải có lòng chí thành với người trên; như hào 5 và 2 quẻ Trung Phu (có đức tin trong lòng, tức có lòng chí thành).

- Hào 5: Ở ngôi chí tôn, có đức trung chính, thành tín, buộc được lòng thiên hạ.

- Hào 2: Ứng với hào 5, cũng có đức dương cương, có lòng thành thực như 5, nên tương đắc nhau, như hạc mẹ gáy, hạc con họa lại.

Hai hào đó họp thành một cặp rất tốt, cũng như hai hào 5 và 2 quẻ Càn. Trái lại, hào 5 quẻ Đại Hữu tuy cũng có đức chí thành nhưng ở vị chí tôn mà là âm, nhu nhược, nên hào từ khuyên phải có chút uy. Hào 5 quẻ Khiêm cũng vậy, tuy đắc trung thu phục được nhiều người, nhưng vì là âm, nhu quá, không phải là tư cách ông vua, nên Hào Từ khuyên nên dùng uy võ.

Tôi xin giới thiệu hai quẻ nữa: Cách và Giải.

Cách có nghĩa là thay đổi (như từ ngữ cải cách), mà trong xã hội, sự thay đổi lớn nhất là Cách mạng, thay đổi mạng trời, tức hạ một ông vua tàn bạo không làm trọn sứ mạng trời trao cho, để lập một triều đại mới, như vua Thang đuổi Kiệt mà cách mạng nhà Hạ, vua Võ diệt Trụ mà cách mạng nhà Thương.

Thoán Từ của Văn Vương chỉ nói "thay cũ đổi mới là một việc phải lâu ngày người ta mới tin được", vì người ta có thói quen thủ cựu, "lại phải hợp thời, hợp chính đạo thì người ta mới phục".

Thoán Truyện giảng thêm: phải sáng suốt, hòa duyệt (hợp lòng dân) thì mới thành công. Mà như vậy là hợp đạo trời: trời đất thay đổi bốn mùa, mà vạn vật mới sinh trưởng được. Hào Từ của Chu Công bàn kĩ hơn về điều kiện, tư cách người làm cách mạng, sự chuẩn bị và kết quả.

Điều kiện là phải hợp thời. Tư cách là phải có địa vị, có tài (hào 1) tức như Mạnh Tử sau này nói, phải là một bực "thiên lại", có thể "thế thiên hành đạo" được.

Phải chuẩn bị kĩ, tạo những hoàn cảnh thuận tiện để người trên kẻ dưới tin mình (hào 2); nếu nóng nảy làm liều thì hỏng việc, nên thận trọng tính toán kế hoạch ba lần (hào 3), nên có lòng chí thành, và biết uyển chuyển vừa cương vừa nhu (hào 4).

Được như vậy thì dân chúng hết lòng tin và sẽ thành công mĩ mãn, làm cho "xã hội thay đổi, tốt đẹp, mới mẻ lên, như con hổ thay lông" (hào 5).

Tuy nhiên, ta nên nhớ bản tính con người vốn ghét sự thay đổi thói quen, lối sống, cho nên chỉ có bậc quân tử mới thực tâm hiểu và theo sự cải cách, còn hạng tiểu nhân thì chỉ miễn cưỡng theo ngoài mặt. Như vậy cũng tốt đẹp rồi; và nên ngưng lại đừng cải cách hoài mà gây lòng oán của dân (hào 6). Tóm lại, bất đắc dĩ mới phải làm cách mạng. Lời khuyên đó thật sáng suốt, thấu tâm lí con người; phải là người đã làm cách mạng như Chu Công mới nghĩ tới.

Quẻ Cách này là tài liệu duy nhất tôi được thấy về thuật làm cách mạng thời Tiên Tần.

Trong một cuộc cách mạng dù hợp thời, hợp lòng dân tới mấy, thế nào cũng có một số người vì trung thành với triều đại cũ, vì tư lợi, chống đối mình, gây rối loạn, mình phải dẹp để giải nạn. Đó là ý nghĩa quẻ Giải.

Thoán Từ và Thoán truyện quẻ này khuyên: Khi giải nạn xong, thì dân chỉ mong an cư lạc nghiệp, người trị dân nên có chính sách khoan đại, giản dị, đừng đa sự, cứ khôi phục trật tự cũ cũng đủ tốt rồi. Tuy nhiên cũng phải trừ những tệ đã gây ra những hoạn nạn trước kia, cũng phải sửa đổi cho sự bình định được lâu dài, công việc đó làm cho mau xong (vẫn là ý đừng đa sự) thì tốt.

Đại Tượng truyện bảo nên tha tội cho những kẻ lầm lỗi trước, nếu không thể tha được thì cũng nên giảm án cho nhẹ đi.

Những lời khuyên đó đều xác đáng.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương VI.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch