Bài tổng quan
Lôi Hỏa Phong: ban ngày thấy sao Bắc Đẩu, hào nào cũng có lời răn
Giữa ban ngày mà thấy cả sao Bắc Đẩu, ấy là khi tấm màn lớn che kín mặt trời. Người sáng suốt gặp chủ tối tăm thì gãy cánh tay phải mà không biết trách ai; kẻ ở ngôi cao mà tự che mình thì nhà lớn thành nhà vắng. Thịnh đến đỉnh rồi, điều gì đáng lo hơn cả?
Mục lục · 8 phần
- 01Phong là thịnh lớn: sấm chớp cùng tới, sáng suốt mà hành động
- 02Mặt trời đứng giữa trời: thịnh thì phải lo, nhưng đừng lo suông
- 03Hào sơ cửu: gặp bạn ngang sức, cùng nhau thì không lỗi
- 04Hào lục nhị: màn che lớn, giữa ngày thấy sao đẩu, giữ lòng thành sẽ được tỉnh ngộ
- 05Hào cửu tam: gãy cánh tay phải vì tấm màn dày, biết trách ai
- 06Hào cửu tứ: có bạn cùng chí hướng thì tối cũng hóa sáng
- 07Hào lục ngũ: mời người tài về, phúc đến và tiếng thơm ở lại
- 08Hào thượng lục: nóc nhà dựng quá cao, nhìn qua cửa không thấy ai
Phong là thịnh lớn: sấm chớp cùng tới, sáng suốt mà hành động
Quẻ số năm mươi lăm là Lôi Hỏa Phong, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng năm. Phong là đầy đặn, phong phú, là lớn, là thịnh; nhưng cần nhớ rằng thịnh đến cực điểm rồi sẽ suy. Quẻ trên là Chấn, là sấm; quẻ dưới là Ly, là lửa, là sáng.
Lôi điện giai chí, Phong. Quân tử dĩ chiết ngục trí hình.
Lời Tượng nói sấm chớp cùng đến là quẻ Phong, tức lớn. Người quân tử nhìn đó mà làm cho gọn gàng lời xét đoán tù đày, làm sáng tỏ hình án.
Người sinh vào tháng năm gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng ước hẹn rồi như mộng, vô duyên bị kẹt liền; nếu cầu vận hanh thái, phải đợi buổi Dần, Thìn.
Mặt trời đứng giữa trời: thịnh thì phải lo, nhưng đừng lo suông
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói thịnh lớn thì hanh thông, bậc vương giả tới được; đừng lo, nên giữ được đạo trung như mặt trời đứng giữa trời. Quẻ dưới là Ly, nghĩa là sáng suốt; quẻ trên là Chấn, nghĩa là hành động. Sáng suốt mà hành động thì làm nên sự nghiệp lớn. Chỉ bậc vương giả có quyền, có vị mới làm tới nơi được. Khi đã thịnh lớn thì người sáng suốt biết rằng sẽ phải suy, nên thường lo; nhưng đừng lo suông, cứ giữ được đạo trung như mặt trời đứng giữa trời thì sẽ tốt.
Quẻ trong Ly tượng là mặt trời, là sáng suốt; quẻ ngoài Chấn tượng là sấm, là hành động. Vì vậy lời Đại tượng truyện áp dụng vào việc hình ngục, khuyên người trị dân phải sáng suốt mà soi xét dân tình khi có việc xử đoán.
Phan Bội Châu phụ chú: thời Phong là thời thịnh cực, chính là lúc mặt trời đứng giữa trời. Muốn mặt trời luôn luôn đứng giữa trời là việc rất khó, có lẽ nào mặt trời cứ đứng mãi giữa trời hay sao? Trong câu mặt trời đứng giữa trời, thâm ý của thánh nhân đặt nặng ở chữ giữa. Mặt trời chỉ là một thí dụ; đứng giữa mới là chân lý.
Lẽ trong thiên hạ, từ một người, một nhà, một nước cho đến cả thiên hạ, hễ đã đến lúc thịnh thì đáng lo nhất là quá thịnh. Gặp việc đắc ý thì đáng lo nhất là quá đắc ý. Nên gặp thời tiết ấy phải lo sao cho khỏi quá. Giữ được khỏi quá tức là đứng giữa; chỉ một chữ giữa là vừa đủ làm thuốc chữa bệnh thịnh quá.
Hào sơ cửu: gặp bạn ngang sức, cùng nhau thì không lỗi
Hào dương, hào tốt. Gặp được người trên sáng suốt thì dễ thăng tiến. Gặp được bậc chủ sánh ngang với mình, vì hào bốn sánh cùng đức với hào một; tuy ngang nhau mà không có lỗi, tiến đi sẽ có điều đáng khen.
Ngộ kỳ phối chủ, tuy tuần vô cữu, vãng hữu thượng.
Hà Lạc nói ngang nhau thì giúp nhau.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở quẻ trong Ly, có đức sáng suốt, có tài vì là dương; ở trên ứng với hào bốn thuộc quẻ ngoài Chấn, có đức hoạt động, cũng có tài vì dương cương. Bình thường hai hào ứng nhau thì phải một âm một dương mới tốt; ở hào này thì khác, cùng là dương cả mà cũng tốt. Vì một sáng suốt, bốn hoạt động, hai bên tương thành chứ không tương phản, giúp nhau làm nên sự nghiệp lớn. Hai hào ngang nhau, biết châm chước ý kiến nhau là điều tốt cho sự hợp tác; nếu một bên cầu thắng, một bên chỉ nhường, thì không còn là hợp tác nữa, khó thành công lớn.
Người mệnh hợp cách tài cao, gặp thời thịnh, cùng ngang đức, dắt dìu nhau, thành nghiệp lớn. Người mệnh không hợp cách cậy tài, kiêu hãnh, gây oán ghét, tự làm hại mình.
Về vận hạn: quan chức gặp cấp trên sáng suốt dễ vượt lên; giới sĩ gặp nhiều tri kỷ dễ thành danh; người thường được quý nhân dẫn dắt, toại ý; số xấu thì mắc lầm lớn, thêm tai ương. Câu thơ của hào nói trên dưới gặp nhau là phúc, giúp nhau thì nên nghiệp, ganh nhau thì tàn.
Hào lục nhị: màn che lớn, giữa ngày thấy sao đẩu, giữ lòng thành sẽ được tỉnh ngộ
Hào âm, hào tốt nhưng phát chậm. Hào hai âm trong sáng gặp hào năm âm ở ngôi chí tôn mà hôn ám, vì bất chính, nên phải giữ lòng trinh thì sau mới lợi.
Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đẩu, vãng đắc nghi tật, hữu phu phát nhược, cát.
Lớn thay cái vật che lấp mình, tức hào năm âm, nên giữa ngày mà thấy được sao đẩu, tức ngày tối tăm; đi thì bị ngờ ghét, nhưng cứ giữ lòng chí thành, mong làm cho người trên khai phát thì tốt. Hà Lạc nói có đức mà bị người trên che lấp, cứ giữ lòng chí thành.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm ở giữa quẻ Ly, đắc trung đắc chính, nhưng hào ứng với nó là hào năm, âm nhu bất chính, không giúp được nó, không tin nó; như một hiền thần gặp một ám chúa, ví với mặt trời tức quẻ Ly bị mây mù che đầy. Có muốn theo thì bị hào năm nghi kỵ và ghét; chỉ có cách giữ đức trung chính, lấy lòng chí thành mà đối xử với hào năm, rồi sau hào năm sẽ tỉnh ngộ.
Phan Bội Châu phụ chú: lời hào này tượng như ông Chu Công giúp Thành Vương mà bị Quản Thúc, Thái Thúc dèm pha; ông Khổng Minh giúp Hậu Chúa mà bị họa sàm ngôn của Hoàng Hạo. Đó là cái màn che, giữa ban ngày mà thấy sao Đẩu. Nhưng hai người ấy vì lấy lòng chí thành cảm hóa được chân chúa, kết quả Thành Vương mất lòng nghi, Hậu Chúa biết nhận lỗi, mà sự nghiệp Chu Công, Khổng Minh đều được thủy chung.
Người mệnh hợp cách ngôi vị cao ở trung ương, tuy gặp bề trên hôn ám, nghi ghét, vẫn lấy lòng thành thực để tìm cách chuyển hóa. Người mệnh không hợp cách không có người che chở, trơ trọi, ít bạn, hay bị dèm pha, oán trách; trước trở ngại, sau mới thuận tiện.
Về vận hạn: quan chức nói đúng mà hay bị xuyên tạc sự thực, trước xấu sau lành; giới sĩ chờ lâu may phát đạt; người thường khấn lâu may phát tài, có kiện tụng rồi tự nhiên lý sẽ sáng tỏ, bệnh sẽ khỏi. Số xấu thì phòng người trên có chuyện lo buồn. Câu thơ của hào nói trước bị ngờ, chờ tin hay, tượng trâu voi đem ngay điềm lành.
Hào cửu tam: gãy cánh tay phải vì tấm màn dày, biết trách ai
Hào dương, hào xấu. Gặp phải chủ hôn ám thì dù mình sáng suốt cũng thành vô dụng, như người gãy cánh tay phải nhưng không có lỗi. Hào ba dương cương đắc chính nhưng gặp hào đối ứng là hào sáu âm, như người ở ngôi cao mà hôn ám, không biết dùng người.
Phong kỳ bái, nhật trung kiến muội, chiết kỳ hữu quăng, vô cữu.
Lớn thay cái màn bịt kín mình, bị hào sáu xấu che, giữa ngày mà thấy cả đám sao nhỏ, tức là tối tăm mịt mùng. Gãy cánh tay phải, tức hào sáu, thì biết trách lỗi ai. Hà Lạc nói gặp chủ không xứng đáng, mình sáng suốt cũng vô dụng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, ở trên cùng quẻ Ly là người sáng suốt, có tài, nhưng hào trên cùng ứng với nó lại là kẻ bất tài, âm nhu, không giúp gì được. Đã thế nó lại bị hào bốn che ám, hoàn cảnh còn tệ hơn hào hai, cho nên bảo là bị tấm màn che kín mít, ban ngày mà tối như đêm, thấy được cả những sao nhỏ. Như vậy hào ba như người bị gãy cánh tay phải, trỏ hào sáu không giúp gì được, nhưng không có lỗi vì hoàn cảnh khiến vậy.
Người mệnh hợp cách có tài đức làm phụ tá, nhưng bề trên hôn ám, động liều là lầm lỗi. Người mệnh không hợp cách đẹp nhưng không ngon, thương thân phá tổ, chỉ tính được việc nhỏ, hoặc có tật chân tay.
Về vận hạn: quan chức muộn thì về hưu; giới sĩ khó tiến; người thường khó toại ý, bị che mắt, hay sinh tranh tụng, chân tay có tật ách, khó làm việc. Câu thơ của hào nói giữa ngày mà lại tối tăm, việc không thành việc, đau cả cánh tay.
Hào cửu tứ: có bạn cùng chí hướng thì tối cũng hóa sáng
Hào dương, hào tốt. Biết hướng xuống dưới để hành động khi cấp trên hôn ám. Lời hào dùng chữ di chủ, danh từ cổ xưa chỉ người ở cấp dưới gọi người thông gia ở cấp trên của mình là phối chủ, còn người ở cấp trên gọi người thông gia ở dưới là di chủ.
Phong kỳ bộ, nhật trung kiến đẩu, ngộ kỳ di chủ, cát.
Lớn thay cái vật che lấp mình, giữa ngày mà thấy cả sao đẩu; nhưng gặp ông di chủ ngang hàng, tức hào bốn và hào một cùng dương, nên tốt. Hà Lạc nói tuy gặp cấp trên không xứng đáng nhưng cùng bạn tiến lên thì tốt.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương ở địa vị cao, có thể lập được sự nghiệp, nhưng bất trung, bất chính, lại bị hào năm âm nhu hôn ám che lấp; hoàn cảnh cũng như hào hai, cũng ban ngày mà thấy sao Bắc Đẩu. May được hào một ở dưới đồng đức, tức cũng dương cương, sánh vai về ứng với nó, nên coi là tốt được.
Phan Bội Châu phụ chú: hào hai âm, hào bốn dương, lời hào sở dĩ giống y nhau là vì hai hào ấy có cảnh ngộ xử lý ban đầu giống nhau với những điều trông thấy ở trước mặt, nên lời hào cũng không cần khác.
Người mệnh hợp cách tuy bị che lấp nhưng có bạn cùng chí hướng hiệp lực, nên cũng thành sự nghiệp, phúc trạch dồi dào. Người mệnh không hợp cách bỏ nhà đi xa lập nghiệp, dựa vào người thân quý để làm ăn, trước tối sau sáng.
Về vận hạn: quan chức giữa trên dưới có nghi kỵ, không ổn; giới sĩ gặp tri kỷ nhờ đó mà tiến; người thường sáng bị che lấp, có người giải thích cho, khách buôn ra ngoài gặp bạn. Phòng thuyền gãy cột buồm. Câu thơ của hào nói việc cần, đường vẫn xa xôi, rồi đi cũng tới, chẳng ai lỗi gì.
Hào lục ngũ: mời người tài về, phúc đến và tiếng thơm ở lại
Hào âm, hào tốt. Như người ở ngôi cao mà biết trọng dụng nhân tài, dân được nhờ, để lại tiếng thơm. Mời người có tài tốt đến thì thảy đều hạnh phúc, được tiếng khen, tốt.
Lai chương, hữu khánh dự, cát.
Hà Lạc khuyên bề trên cầu hiền, nhờ đó mà được người hiền.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở địa vị chí tôn, âm nhu, không đủ tài để dựng sự nghiệp thịnh lớn, nhưng khá là có đức trung ở giữa quẻ ngoài, lại có hai hào ba, bốn dương cương hiền tài ở dưới mình. Nếu biết mời họ giúp mình thì có phúc và được tiếng khen, tốt.
Người mệnh hợp cách trước tối sau sáng, tích đức bỏ cái riêng, nên hiển đạt, dồi dào. Người mệnh không hợp cách văn chương nổi tiếng, lộc vị cao.
Về vận hạn: quan chức lên cao được; giới sĩ đỗ cao thành danh; người thường được người đề cử, mưu vọng toại ý. Câu thơ của hào nói tin qua người lại vui mừng, lợi danh đổi thay, như đàn nhạn bay.
Hào thượng lục: nóc nhà dựng quá cao, nhìn qua cửa không thấy ai
Hào âm, hào xấu. Hào ở trên cùng quẻ Chấn nên rất động, sắp biến, như người ở ngôi cao sắp gặp tai nạn, kết cục xấu; hôn ám mà ở ngôi quá cao, như một ngôi nhà lớn không người ở.
Phong kỳ ốc, bộ kỳ gia, khuy kỳ hộ, khích kỳ vô nhân, tam tuế bất địch, hung.
Lớn thay cái nóc nhà, che lấp cả chỗ ở; nhìn vào ngõ thì vắng tanh không người, ba năm chẳng thấy mặt. Xấu. Hà Lạc nói sáng quá hóa tối, nên xấu vậy.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu như người hôn ám, mà ở trên cùng, có địa vị rất cao; như người cất nhà nóc rất cao, tức địa vị cao, mà bản thân ở thì lại thấp hẹp, tức bản tính âm nhu. Thế là tự mình che lấp mình, nên không ai lui tới với mình, do đó mà đứng ở cửa nhìn vào không thấy bóng người, ba năm không thấy ai. Không gì xấu hơn.
Tên quẻ là thịnh lớn, rất tốt mà không có hào nào thật tột; hào nào cũng có lời răn đe. Cổ nhân muốn cảnh cáo chúng ta ở thời thịnh lớn: có phúc thì cũng có sẵn mầm họa, phải cẩn thận lắm mới được. Các quẻ khác thường hào dương ứng với âm, hoặc âm ứng dương thì tốt; quẻ này trái lại, dương ứng với dương, như hào một với hào bốn, mới tốt. Đó lại là một lời khuyên nữa: ở thời thịnh, người ta thường vì quyền lợi chia rẽ mà biến thịnh thành suy; phải biết đồng đức, đồng tâm với nhau thì mới tránh được họa.
Phan Bội Châu phụ chú: các hào một và bốn, hai và năm đều cùng một đức mà lại đồng tâm nên đều tốt. Chỉ có hào ba dương với hào sáu âm thì cương đụng nhu, sáng đụng tối, đức không đồng nhau mà mỗi người mỗi bụng, dữ đến như thế; tội chỉ vì chia rẽ tâm và đức mà thôi. Ở vào thời Phong mà tính đức chẳng đồng còn tai họa như thế, huống gì gặp lúc truân chuyên khó khăn, mà người trong thời đó chẳng biết đồng tâm, đồng đức với nhau, còn mong làm được việc gì nữa? Thánh nhân nhân quẻ Phong mà biện luận cương nhu tương ứng, rồi thay bằng nghĩa cương nhu đồng đức, thật mầu nhiệm thay.
Người mệnh hợp cách có tổ nghiệp mà không tiếp nối được, cậy tài thông minh làm bậy, sau mê tối không tỉnh, khó tránh tai họa. Người mệnh không hợp cách có tài mà không có đức, tự tôn tự đại, tuyệt người thân, bỏ bạn hữu, chấp nhặt, không ổn định, công việc chất lượng kém; chỉ làm tăng đạo nơi núi rừng là đỡ tai họa.
Về vận hạn: quan chức vị cao nhưng bị tai ách; giới sĩ có triệu chứng bay bổng; người thường cốt nhục tương tàn, ly tổ thành gia, khó tránh kiện tụng, hình ngục, khẩu thiệt, hoặc lầm lỗi ở nơi môn hộ. Câu thơ của hào nói ca buồn, hoa rụng, cành trơ; trời tà nhuộm cảnh, trăng mờ cửa son.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
