Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Sơn Địa Bác: núi tựa vào đất, trái lớn chưa hái vẫn giữ hạt mầm

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Sơn Địa Bác: núi tựa vào đất, trái lớn chưa hái vẫn giữ hạt mầm

Chiếc giường bị mọt đục từ chân lên đến mặt, năm vạch âm lấn dần chỉ còn lại một vạch dương trên cùng. Thế mà trái lớn trên cành vẫn chưa ai hái, hạt bên trong đã lặng lẽ chờ ngày nảy mầm... Vậy kẻ ngay thẳng nên làm gì trong lúc đang bị bóc từng lớp?


Bác là rụng, là bóc: núi tựa vào đất

Quẻ số hai mươi ba là Sơn Địa Bác, thuộc hàng quẻ xấu, tiết khí tháng Chín. Bác nghĩa là rơi rụng, tan mất, bị bóc dần từng lớp. Trên là Cấn, là núi; dưới là Khôn, là đất.

Sơn phụ ư địa, Bác. Thượng dĩ hậu hạ an trạch.

Lời Tượng nói núi tựa vào đất là quẻ Bác. Người ở trên nhìn quẻ này mà làm cho kẻ dưới được đầy đủ, dày dặn, thì chỗ ở của mình mới yên.

Toán Hà Lạc nhận xét: người được quẻ này phần nhiều là người làm việc lớn hoặc bậc quý nhân, nhưng khó tránh cảnh cô lập, hình khắc. Sinh vào tháng Chín thì là cách công danh phú quý; sinh vào các tháng khác thì khó khỏi cảnh anh em bất hòa, bôn ba vất vả.

Năm hào âm lấn một hào dương

Lời Thoán cho biết quẻ này mang nghĩa tiêu mòn, hễ tiến tới, hành động thì không có lợi. Nhìn tượng quẻ, năm hào âm chiếm hết chỗ của dương, âm đã đến lúc cực thịnh, dương chỉ còn một hào, sắp đến lúc tiêu hết. Đó là quẻ âm thịnh dương suy, thuộc thời tiểu nhân đắc chí hoành hành, người quân tử nên nhìn thế mà chỉ chờ thời, chớ vội hành động. Chờ được là vì theo luật tự nhiên, âm thịnh đến cực rồi sẽ suy, dương suy đến cực rồi sẽ thịnh.

Nguyễn Hiến Lê nêu thêm một cách giảng khác. Quẻ nội là Khôn, nghĩa là thuận; quẻ ngoại là Cấn, nghĩa là ngừng. Vậy hãy thuận theo đạo trời mà biết dừng, biết đợi, bởi đạo trời là hết hao mòn thì sẽ sinh nảy, hết đầy thì sẽ trống không. Xét theo tượng quẻ thì quẻ ngoại là núi, quẻ nội là đất; đất là nền móng của núi, đất có dày thì núi mới vững. Từ đó suy ra: người ở trên phải lo cho dân được an cư lạc nghiệp thì địa vị của mình mới vững.

Phan Bội Châu hỏi: lời Thoán bảo quân tử tiến tới thì không lợi, vậy quân tử ở thời ấy chẳng có việc gì làm hay sao? Ông đáp rằng không phải. Theo ý Kinh Dịch, mầm suy thường nấp ngay lúc thịnh, mầm thịnh thường nấp ngay lúc suy. Bác nghĩa là rụng, trái cây rụng xuống là bóc lột hết, nhưng hạt cây chẳng bao lâu ngầm ngầm mọc lên. Quân tử ở thời này không phải không có việc làm, mà làm bằng tâm trí, nên âm thầm, chớ lòe loẹt, nên kín đáo, chớ tiến nhố nhăng.

Ông dẫn Lão Tử: có óc khôn mà làm như người ngu, có mưu khéo mà làm như người vụng, có đức thắng mà làm như người cong. Lão Tử lại có câu: biết cách trống mà giữ lấy cách mái, biết cách trắng mà giữ lấy cách đen. Những câu ấy chính là thủ đoạn, là tác dụng của người quân tử ở thời Bác vậy.

Chữ biến ở quẻ Bác và chữ quyết ở quẻ Quải

Phan Bội Châu còn bàn về hai chữ trong lời Thoán truyện: chữ quyết ở quẻ Quải và chữ biến ở quẻ Bác. Quẻ Quải có năm hào dương, tượng cho năm quân tử quyết trừ một tiểu nhân. Quẻ Bác có năm hào âm, tượng cho năm tiểu nhân làm biến đổi một quân tử. Hai chữ khác nhau, một bên miêu tả tiểu nhân hại quân tử nên nói chữ biến, một bên miêu tả thủ đoạn quân tử trừ tiểu nhân nên nói chữ quyết.

Bởi quân tử thường mắc bệnh nhân từ, do dự; nếu không cương quyết thì không trừ nổi tiểu nhân. Quẻ Quải chỉ còn một hào âm mà vẫn phải dùng chữ quyết, vì biết tiểu nhân là giống khó trừ, phải dạy cho quân tử lòng quả quyết. Còn tiểu nhân thì thường dùng âm mưu quỷ kế khiến quân tử ngày mòn tháng rụng, đến nỗi phải biến cách theo nó, tựa lửa làm hao dầu mà dầu không biết, tằm ăn hết lá mà lá không hay. Đến khi quân tử hết sạch thì toàn xã hội chỉ thấy tiểu nhân. Thánh nhân ghê sợ thủ đoạn ấy nên dùng chữ biến. Hai chữ khác nhau mà ý nghĩa rất vi diệu, chứng tỏ không nên đọc lướt qua mà không nghĩ.

Hào sơ lục: hỏng giường bắt đầu từ chân

Hào âm, hào xấu. Hào từ nói hỏng giường từ chân, tiêu diệt đạo chính, xấu. Đây là hào của bọn tiểu nhân làm hại; người bị kẻ hầu hạ làm hại; người buôn bán gặp vận xấu, thất thoát; anh em bất hòa, gia đình thất đức. Toán Hà Lạc nói kẻ tiểu nhân làm hại đạo chính.

Nguyễn Hiến Lê giảng: âm bắt đầu tiêu diệt dương, cũng như bắt đầu phá cái giường, tượng cho chỗ nằm yên ổn, từ dưới chân lên.

Người mệnh hợp cách vẫn là quân tử nhưng ý chí nông hẹp. Người mệnh không hợp cách thì chân chẳng đứng yên, việc không nhất định, hoặc bị tiểu nhân làm hại, hoặc chính mình sinh chuyện vụn vặt.

Về vận hạn: quan chức thấy cơ hội thì tiến được. Ngoài ra có thể bị bệnh chân tay, kẻ hầu hạ làm tổn hại, anh em bất hòa, chỉ lợi cho việc tu đạo. Xấu thêm nữa thì thân tan nhà nát, mưu việc thất bại.

Hào lục nhị: hỏng đến phần then giường

Hào âm. Hào từ nói hỏng giường đến phần then, tiêu diệt đạo chính, xấu. Giới chức được tin tưởng; kẻ sĩ phải đi xa mới lập nên nghiệp; người thường không được yên, vướng về đường vợ con và gia cảnh. Toán Hà Lạc nói họa tiểu nhân càng gần.

Nguyễn Hiến Lê giảng: nghĩa của hào này cũng như hào một, bọn tiểu nhân đã phá tới thanh giường rồi, nhưng chưa tới mặt giường.

Người mệnh hợp cách là người giàu sang, trung trực, nhưng bị gièm pha. Người mệnh không hợp cách thì nhà không yên, thân quyến hết chỗ nhờ vả, có hơn nhau cũng khó thành.

Về vận hạn: quan chức phòng bị truất giáng; kẻ sĩ khó tiến; người thường không toại nguyện, dưới thì ghét, trên thì ngờ.

Hào lục tam: bỏ hết bè lũ thì không lỗi

Hào âm. Hào từ nói bỏ hết đi, tức bỏ bè đảng tiểu nhân, thì không có lỗi. Toán Hà Lạc nói tiểu nhân biết quay về điều thiện.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này cũng là âm, cũng là tiểu nhân, nhưng vì ứng với hào dương, là quân tử, ở trên cùng, nên theo hào đó mà bỏ các hào âm ở dưới nó và ở trên nó, tức các hào một, hai, bốn. Chịu mất lòng với những hào này mà theo đạo chính thì không có lỗi.

Người mệnh hợp cách là bậc quý nhân đứng riêng một mình, khác người thường. Người mệnh không hợp cách thì phúc mỏng.

Về vận hạn: quan chức được cấp trên quý mến; người thường khó gặp tri kỷ, phải tìm lối khác mà lập công danh, hoặc có điều lo phiền về cha mẹ và con cái.

Hào lục tứ: hỏng giường đến tận da người nằm

Hào âm, hào xấu. Hào từ nói hỏng giường đến tận da, xấu. Chỉ tai nạn đã sát đến bên mình. Thời vận xấu thì dễ bị gièm pha, kiện tụng; kẻ sĩ khó tiến thân; nhà buôn thất thoát, thất bại. Toán Hà Lạc nói họa của âm đã sát người rồi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm này đã lên đến quẻ ngoại, thế là tiểu nhân đã hoành hành, quân tử bị hại rất đau, tai họa bức sát quá rồi, nên xấu.

Người mệnh hợp cách dù là quý nhân cũng mất cả tư cách, thể diện. Người mệnh không hợp cách thì gặp tai họa, tự mình hại mình.

Về vận hạn: quan chức phòng bị gièm pha; kẻ sĩ khó gặp cơ hội; người thường gian nan, hình khắc, kiện tụng.

Hào lục ngũ: dắt cả xâu cá theo hầu, không gì là không lợi

Hào âm, hào tốt. Hào từ nói dắt cả xâu cá, để làm cung nhân được yêu thương, không có gì là không lợi. Tốt cho mọi người, mọi việc; có nhiều cơ may, dễ thăng tiến, dễ thành công thành danh; người thường nhiều phúc lợi. Toán Hà Lạc nói đem đám đông quy về điều thiện thì được lợi lớn.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này làm thủ lãnh cả bầy âm. Theo nghĩa mấy hào trước, ta tưởng hào này càng phá quân tử mạnh hơn nữa. Nhưng ngược lại, vì hào năm nằm sát hào sáu dương trên cùng, thân cận và chịu ảnh hưởng của hào sáu, nên dắt cả bầy âm, tượng bằng xâu cá vì cá thuộc loài âm, theo hào sáu quân tử, như bà hoàng hậu dắt các cung phi lên hầu vua. Thế là theo đạo chính nên không gì là không lợi. Theo Phan Bội Châu, câu dắt cung nhân lên chỉ là cách nói ví dụ; ý chính là dắt bầy tiểu nhân thuận theo quân tử, nghĩa là theo đạo chính.

Phan Bội Châu chú rằng nên biết nỗi khổ tâm của thánh nhân vì thế đạo. Quẻ Bác này dương tiêu gần hết, âm lớn đến cực; theo thiên đạo thì lúc ấy quyền thuộc âm, theo nhân sự thì quyền thuộc tiểu nhân. Tuy vậy, ở thiên đạo chẳng ngày nào không có dương, ở thế đạo cũng chẳng ngày nào không có quân tử. Còn có dương thì quốc gia xã hội mới thành. Nên đến hào năm âm, thánh nhân bỏ nghĩa âm bóc dương mà đặt ra nghĩa âm thuận theo dương. Lời quẻ nói tiến tới thì không lợi là hết sức lo cho quân tử; lời hào năm lại nói không gì là không lợi là hết sức khuyến miễn tiểu nhân. Trên mặt chữ là khuyên tiểu nhân, nhưng thâm ý chỉ cốt phù trì cho quân tử; tấm lòng lo tính cho người quân tử sâu xa đến thế.

Người mệnh hợp cách là bậc đại quý nhân, văn võ song toàn. Người mệnh không hợp cách thì đứng đầu đám đông, dựa vào người giàu, được cơm no áo ấm.

Về vận hạn: quan chức giữ việc trọng yếu; kẻ sĩ đứng đầu bảng, nên danh; người thường kinh doanh vượt người, hòa hợp. Nữ mệnh được tiền tài, nhà cửa thăng tiến, có phước.

Hào thượng cửu: quả lớn còn trên cành, quân tử được xe

Hào dương, hào bình. Hào từ nói quả lớn không ăn, người quân tử được xe, kẻ tiểu nhân thì nhà sụp. Hào vừa tốt vừa xấu: ở trên cao mà được lòng dân thì thuận lợi như quân tử được xe chở; ngôi cao mà rơi vào tay tiểu nhân thì như nhà đổ. Quan chức, kẻ sĩ có tài đức thì nhiều cơ may thành đạt; kẻ vô tài mà nhiều tham vọng thì thất bại, mất cả cơ nghiệp. Người bình thường phải biết an phận; kinh doanh phải biết lựa sức mình. Toán Hà Lạc nói đi đến cùng đường mà người quân tử vẫn giữ nguyên vẹn, vững vàng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: cả quẻ chỉ còn mỗi hào dương này, nên ví với trái cây lớn còn lại trên cành mà không ai hái; không hái xuống ăn thì có ngày nó rụng xuống rồi mọc mầm, như vậy đạo quân tử không bao giờ hết. Hào năm đã dắt các hào âm khác theo hào dương này, nên bảo quân tử được dân chúng theo, tượng bằng cỗ xe. Hào dương trên cùng như cái nhà che chở cho mọi hào âm ở dưới. Nếu bọn tiểu nhân phá cho nhà ấy sập, nghĩa bóng là không còn quân tử thì quốc gia suy vong, chủng tộc tiêu diệt, thì chúng cũng chẳng sống nổi, không chốn dung thân. Quẻ này nói về thời âm thịnh dương suy, tiểu nhân tàn hại quân tử. Nhưng tiểu nhân tuy rất đông vẫn có một số, như hào ba và hào bốn, hiểu đạo mà cải tạo mình, đứng về phe quân tử, và khi xã hội lâm nguy thì ủng hộ quân tử. Người quân tử lúc đầu chỉ tiện im hơi lặng tiếng mà chờ thời, chuẩn bị cho lúc thịnh trở lại. Đó là luật âm dương trong vũ trụ.

Phan Bội Châu bàn rằng đọc hết quẻ này mới phát minh ra một nghĩa. Ban đầu thuần dương là quẻ Càn; biến một nét dưới cùng thành quẻ Cấu, lần lượt biến thêm thành các quẻ Độn, Bĩ, Quán; biến đến năm nét dương thành quẻ Bác; chốc nữa biến hết sáu nét thành thuần Khôn. Vậy đoạn từ Bác qua Khôn, nhất là lúc ở quẻ Khôn, chẳng phải là không có dương hay sao?

Đạo lý này các bậc tiên nho Trình Di, Chu Hy đã giải thích rõ: nguyên lai phải có cả âm dương mới thành vũ trụ, thiên đạo, đâu có lúc nào không dương hay không âm. Chỉ tranh nhau ở chỗ một bên tiêu, một bên sinh; nhưng tiêu hay sinh hiện ra ở chốn hữu hình thì ta thấy, còn nấp ở chốn vô hình thì ta không thấy. Tỷ như quẻ Khôn là tháng Mười, trên mặt quẻ là thuần âm. Nhưng trong một tháng ba mươi ngày, mỗi ngày dương đã sinh ngầm một phần; chưa đủ ba mươi ngày thì bào thai một dương chưa hoàn mãn. Đến cuối tháng, đủ ba mươi ngày, khí dương sinh đầy ba mươi phần, vừa vào tháng Mười Một thì thấy hào dương xuất hiện mà thành quẻ Phục. Một hào dương đó vẫn phôi thai từ lúc còn trong tháng Mười, có bao giờ không có dương đâu.

Hiểu đạo lý ấy thì biết đang giữa lúc thiên hạ cực loạn, chính là lúc cái mầm của thời trị đã sinh ngầm rồi. Vì mắt người chỉ thấy ở chốn hữu hình mà không ai để mắt đến chốn vô hình. Than ôi, thiên đạo quá bất trắc, nhân sự quá vô thường, nên càng cần nghiên cứu lý Dịch.

Người mệnh hợp cách giữ ngôi vị lớn, dẹp loạn, trị nước. Người mệnh không hợp cách thì bạc đức, dù có kỷ luật nghiêm cũng vô dụng.

Về vận hạn: quan chức có quyền binh; kẻ sĩ được tiến cử; người thường cẩn thận, giữ luật pháp thì an toàn, hoặc nên tu tạo cung thất.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc