Bài tổng quan
Địa Hỏa Minh Di: mặt trời lặn vào đất, giấu sáng trong lòng để giữ chí
Mặt trời lặn vào lòng đất, ánh sáng không mất đi mà chỉ chìm xuống. Có người giả điên làm kẻ đầy tớ để giữ lại một dòng dõi, có người bỏ nước ra đi trong đêm... Khi cái sáng bị tổn thương, giấu nó đi hay mang nó theo mới là cách giữ?
Mục lục · 8 phần
- 01Minh Di là ánh sáng bị tổn thương
- 02Giữ sáng trong lòng, tỏ nhu thuận ngoài mặt
- 03Hào sơ cửu: chim cụp cánh, bỏ đi ngay dù phải nhịn đói
- 04Hào lục nhị: bị thương ở đùi trái, nhưng như ngựa khỏe sẽ mau lành
- 05Hào cửu tam: săn về phương Nam, bắt được tên đầu sỏ
- 06Hào lục tứ: vào bên trái bụng rồi ra khỏi cửa sân
- 07Hào lục ngũ: như Cơ Tử, sáng trong lòng mà giả điên ngoài mặt
- 08Hào thượng lục: không sáng mà tối đen, lên tận trời rồi sụp xuống đất
Minh Di là ánh sáng bị tổn thương
Quẻ số ba mươi sáu là Địa Hỏa Minh Di, thuộc hàng quẻ xấu, tiết khí tháng tám. Minh Di nghĩa là thương tổn, ánh sáng bị tổn thương. Trên là Khôn, là đất; dưới là Ly, là lửa, là mặt trời.
Minh nhập địa trung, Minh Di. Quân tử dĩ lị chúng, dụng hối nhi minh.
Lời Tượng nói mặt trời lặn vào trong đất là quẻ Minh Di, tức thương tổn. Người quân tử nhìn quẻ này mà đến với công chúng, dùng cái tối để làm ra cái sáng. Người sinh vào tháng tám gặp quẻ này là cách công danh phú quý.
Giữ sáng trong lòng, tỏ nhu thuận ngoài mặt
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói ánh sáng bị tổn hại, chịu gian nan giữ điều chính thì lợi. Người quân tử ở thời u ám này gặp nhiều gian nan, chỉ có cách giữ điều chính của mình thì mới có lợi. Muốn vậy, ở trong lòng phải giữ đức sáng, mà ở ngoài thì nhu thuận để chống với hoạn nạn, đúng như tượng của quẻ: Ly là sáng, là văn minh ở quẻ nội; Khôn là nhu thuận ở quẻ ngoại.
Ông kể: Văn vương bị vua Trụ nghi ngờ, giam trong ngục Dữu Lý, tỏ vẻ rất nhu thuận, không chống đối, mà để hết tâm trí vào việc viết lời giảng các quẻ trong Kinh Dịch, nhờ vậy vua Trụ không có cớ gì để giết, sau thả ông ra. Không những ở ngoài phải tỏ vẻ nhu thuận, mà có khi còn nên giấu cả sự sáng suốt của mình đi, trong lòng vẫn giữ chí hướng, như Cơ Tử, một hoàng thân của vua Trụ. Trụ vô đạo, Cơ Tử can không được. Trong khi Tỷ Can chịu chết với vua Trụ, Vi Tử bỏ nước ra đi, thì Cơ Tử giả điên, làm nô lệ để khỏi bị giết, mong có cơ hội dựng lại nhà Ân. Võ vương, con Văn vương, diệt Trụ rồi, trọng tư cách của Cơ Tử, mời ra giúp nước nhưng ông không chịu. Sau Võ vương cho ông ra ở Triều Tiên, lúc ấy còn là một hòn đảo giữa biển, lập một nước riêng. Như vậy là Cơ Tử giấu sự sáng suốt để giữ vững chí, không làm mất dòng dõi nhà Ân. Nay Hàn Quốc còn coi Cơ Tử như quốc tổ.
Lời Tượng bảo người quân tử gặp thời Minh Di, muốn thống ngự quần chúng thì nên dùng cách kín đáo mà vẫn thấy được rõ; nghĩa là làm ngơ với kẻ tiểu nhân, đừng rạch ròi, nghiêm khắc quá mà bị hại; tóm lại làm bộ như không biết để chúng không nghi ngờ mình và để lộ hết dụng tâm ra, mà mình sẽ biết được.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: quân tử xem tượng mặt trời lặn vào trong đất mà điều khiển quần chúng, khoan dung, hòa nhã, bỏ nhỏ nhặt, rất sáng suốt mà ra vẻ hồ đồ, khiến người không kiêng sợ cái sáng của mình, bao nhiêu sự tình đều lộ ra cho mình biết hết. Giả như làm ngơ mà thực ra chỗ nào cũng soi xét tới. Nhìn thoáng qua hình như tối mờ, mà kỳ thực rất sáng. Như thế thì đức sáng của mình có gì phải lo bị tổn thương nữa.
Ông phụ chú: ở quẻ Tấn, mặt trời lên trên đất, quân tử xem đó mà tự làm cho tỏ đức sáng, vì trí mình cần cho hết sức sáng. Còn ở quẻ Minh Di, mặt trời lặn vào trong đất, quân tử xem đó mà làm cho quần chúng không sợ cái sáng của mình. Bởi ở thời này, muốn trị người thì không nên quá sáng. Câu che cái sáng của mình với câu làm cho người không sợ cái sáng của mình chỉ thay đổi mấy chữ mà thành hai thủ đoạn rất hay: che cái sáng của mình là thủ đoạn của thánh hiền khi gặp hoạn nạn; làm cho người không sợ cái sáng của mình là thủ đoạn của thánh hiền khi được quyền thống ngự thiên hạ. Đó là hai cách ứng dụng kỳ diệu của Dịch.
Về dự báo, quẻ Minh Di chỉ thời vận xấu, không thuận lợi cho mọi việc. Công danh sự nghiệp khó thành; tài vận không có, kinh doanh thua lỗ; kiện tụng kéo dài và thua kiện, bên nào cố gắng dàn hòa ngay từ đầu thì hơn; đi xa không thuận; thi cử khó đậu; ước nguyện khó thành; bệnh tật dai dẳng, dễ nặng lên; hôn nhân trắc trở, khó thành lương duyên. Tuy nhiên, nếu có lòng kiên nhẫn chờ thời, giữ được trung chính, biết lấy cái tối làm cái sáng thì thời cơ tốt ắt sẽ đến.
Hào sơ cửu: chim cụp cánh, bỏ đi ngay dù phải nhịn đói
Hào dương, hào xấu. Ở vào thời Minh Di, như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống. Người quân tử biết thời thì bỏ đi ngay để tránh nạn, dù phải nhịn đói ba ngày; đi tới đâu gặp chủ cũ cũng bị chủ cũ chê trách.
Minh di vu phi, thùy kỳ dực, quân tử vu hành, tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn.
Học Năng dịch: vội nên ba ngày không ăn; có chuyện đi xa như thế, chắc hẳn người ta cũng có lời bàn tán, nghi ngờ. Hào một tránh xa được hào sáu âm, là lúc cực tổn thương. Toán Hà Lạc nói biết thời cơ nên tránh sự tổn thương.
Nguyễn Hiến Lê và Phan Bội Châu giảng: hào dương ở đầu thời Minh Di là người quân tử có chất sáng ở đầu thời hắc ám, có thể bị hại, đau như con chim rũ cánh. Hiền thì bị người ghét, tài thì bị người ghen. Cách xử thế là nên bỏ đi ngay, như Phạm Lãi bỏ nước Việt, vì biết vua Việt là Câu Tiễn sẽ nghi ngờ mà hại các công thần, nhờ vậy mà tránh được cái họa bị giết như đại phu Chủng. Như ông Mục Công bỏ nước Sở mà khỏi mắc họa như Thân Công, Bạch Công. Khi cất gói ra đi vội vàng có thể phải nhịn đói ba ngày, còn có thể bị chê cười. Nhưng đạo minh triết của người quân tử là nhìn thấy tình hình đại cuộc đã hiển hiện, cái họa đã rõ ràng.
Người mệnh hợp cách sáng suốt, trong sạch, nên đắc dụng thời bình, tránh họa thời loạn; là người có cơ mưu, sáng suốt, tránh được tai họa thời loạn, làm nên sự nghiệp; kẻ sĩ thành công, thành danh. Người mệnh không hợp cách có chí lớn nhưng động làm là tổn thương, có công nhưng khó được hưởng lộc; cũng là người tài trí nhưng hay gặp gian nan.
Về vận hạn: giới quan có thể gần bậc trên, phụ tá thân mật, nhưng phòng tổn thương, đề phòng bị nghi ngờ; kẻ sĩ có tin thắng lợi; người thường tai bay vạ gió, chân tay bị đau, số tốt thì có người đem ngựa xe đến.
Hào lục nhị: bị thương ở đùi trái, nhưng như ngựa khỏe sẽ mau lành
Hào âm. Tổn thương ở bắp đùi bên trái, muốn dùng cách cứu thì cũng chóng lành, như con ngựa khỏe, kết quả tốt. Hào tốt cho những người có quyền lực, có thể lập nhiều công lớn; xấu cho những người thân cô thế kém lại không biết lượng sức mình, dễ bị tai vạ.
Minh di, di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng, cát.
Toán Hà Lạc nói muốn khởi binh phạt kẻ tàn bạo thì phải xem có thuận lòng trời không.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này làm chủ quẻ nội Ly, là sáng suốt, đắc trung, đắc chính, là bậc quân tử có tài, nhưng ở thời Minh Di hôn ám nên bị tiểu nhân làm hại ít nhiều, như bị thương ở đùi bên trái; nhưng sẽ mau khỏi, như con ngựa mạnh mẽ. Tốt, vì hào hai trung chính, lại vẫn thuận theo phép tắc, vì là hào âm.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: việc tốt lành của hào hai là bởi sẵn có đức trung, chính, tuy xử vào nghịch cảnh mà vẫn nhu thuận, lại còn có phép tắc, còn sợ gì Minh Di nữa.
Người mệnh hợp cách có uy quyền để chinh phạt, làm cho dân an, nước vững; là người có binh quyền trị nước, làm cho dân yên, nước mạnh. Người mệnh không hợp cách đắc chí hoành hành, nghịch trên nạt dưới, chỉ làm quân nhân thì lập được chút công lao; là kẻ lộng quyền đắc chí, không biết lựa sức mình, dễ chuốc lấy tai vạ.
Về vận hạn: giới quan có quyền binh tướng soái ở bên trong; kẻ sĩ có cái mừng chiếm được công đầu; người thường dễ bị tai họa. Thương sớm cấp cứu khỏi ngay, xuân sang nạn khỏi phúc đầy lộc hơn.
Hào cửu tam: săn về phương Nam, bắt được tên đầu sỏ
Hào dương, hào xấu. Tổn thương ở chỗ đi trừ loạn ở phía Nam, bắt được tên đầu sỏ lớn, nhưng chẳng nên vội, dù là chính. Đây là hào của tật ách và kiện tụng, cần đề phòng.
Minh di vu nam thú, đắc kỳ đại thủ, bất khả tật trinh.
Toán Hà Lạc nói trên dưới đều có tổn thương, nên ánh sáng chiếu vào bị tổn hại; nếu không tránh tụng thì cũng bị tổn hại.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng quẻ nội Ly là cực sáng suốt; nó là dương cương ở vị dương, vậy là rất cương kiện; nó ứng với hào âm ở trên cùng quẻ Khôn, quẻ ngoại, hào này cực hôn ám. Nó sẽ đánh đổ hào âm đó. Nó đem binh đi tuần về phương Nam, sẽ bắt được tên đầu sỏ phản loạn. Nhưng nó cương cường, nóng nảy, nên phải khuyên: đừng gấp, phải bền chí giữ đạo chính.
Phan Bội Châu phụ chú: lời hào này giống như việc vua Lê Thái Tổ ở nước ta chém được Liễu Thăng, bắt được tên đầu sỏ giặc; đó là đi săn phía Nam mà bắt được tên đầu sỏ, nhưng việc trải năm năm mới xong, vẫn là phải bền chí giữ chính mà không nóng vội được. Người gặp thời Minh Di, đừng mong đến vận hào ba dương làm gì.
Ông giảng lời Tượng: lấy một người chí sáng ở dưới, trừ khử một người chí ám muội ở trên, ý chí người ấy đâu phải vì thân vì nhà mà thôi, còn vì sinh linh, vì muôn nhà, thiên hạ được nhờ, hoài bão cao cả chừng nào. Một khi săn đuổi hạ được tên đầu sỏ thì công thành mà thiên hạ có phúc, như thế thật là đạt chí lớn.
Người mệnh hợp cách là người có công lớn nhưng không khỏi bị tổn thương. Người mệnh không hợp cách bị tổn thương ở bên trái, hoặc phải chia tay đi xa ngàn dặm; là người phải đi công tác xa xôi, gian khổ, hoặc người bị thương ở tay, chân. Về vận hạn cũng như vậy. Việc làm đến vận đạt to, nhưng nên thong thả để đỡ tai nguy.
Hào lục tứ: vào bên trái bụng rồi ra khỏi cửa sân
Hào âm, hào xấu. Đi vào chỗ tối như bên trái bụng, muốn thỏa lòng trong thời Minh Di thì nên ra khỏi cửa, sân. Toán Hà Lạc nói vào chỗ tối còn nông, còn có thể đi ra xa được.
Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, ở vào thời Minh Di mà lại vượt quẻ Ly sang quẻ Khôn rồi, tức bỏ chỗ sáng sủa bước vào chỗ tối tăm, cho nên ví như vào phía bên trái của bụng. Nhưng hào này đắc chính, vì là âm ở vị âm, nên có thể rút chân ra khỏi cảnh khốn nạn ấy được: cứ bỏ nhà ra đi, tức tránh cho xa cảnh đó, mặc nó. Đó là hiểu theo Phan Bội Châu; Chu Hy nói không thấy được nghĩa hào này.
Theo Phan Bội Châu, hào này ứng vào cảnh ông Chu Thuấn Thủy bỏ nước Tàu mà sang Nhật. Ông giảng lời Tượng: hào bốn khi trước là vào phía trái bụng, nhưng sau là ra khỏi cửa sân, kết cục tránh được nơi tối, tìm được nơi sáng, cũng là thỏa cái tâm ý vậy.
Người mệnh hợp cách là người tâm phúc, được sủng ái của chính quyền; là người biết trước âm mưu của đối phương, có tài ứng phó tránh được gian nan, hoặc tố giác được âm mưu của kẻ xấu, góp sức ứng phó nên lập được công trạng. Người mệnh không hợp cách quỷ quyệt, là sâu mọt của dân nước; người bị kỷ luật, biếm trích, người bị bệnh ở tim, ở bụng.
Về vận hạn, với mọi giới: chức nhàn thì được giao việc quan trọng; ở trong được chuyển ra ngoài, ở tối lâu được ra sáng; người bị giam được thoát thân; ra ngoài làm doanh nghiệp thường gặp bạn buôn đắc lực; đàn bà có mang thì sinh sản; số xấu thì có bệnh ở tim, ở bụng. Nguy lo thoát, vững tinh thần, bây giờ danh lợi tiến thân được rồi.
Hào lục ngũ: như Cơ Tử, sáng trong lòng mà giả điên ngoài mặt
Hào âm. Như Cơ Tử bị tổn thương, cứ giữ chính thì có lợi. Đó là sự tổn thương của Cơ Tử ở cạnh hào sáu như vua Trụ.
Cơ Tử chi minh di, lợi trinh.
Toán Hà Lạc nói ở giữa hoạn nạn mà vẫn giữ được chí ngay.
Nguyễn Hiến Lê giảng: thường các quẻ khác, hào năm là ngôi chí tôn; ở quẻ Minh Di này, hào trên cùng mới là ngôi chí tôn. Hào năm là người thân cận với ngôi chí tôn. Hào trên cùng là ông vua rất hôn ám như vua Trụ; hào năm là người thân cận có đức trung như Cơ Tử, giữ vững đạo chính, ở ngoài làm ra vẻ hôn mê mà trong lòng vẫn sáng suốt.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: có được đạo chính như Cơ Tử thì đức sáng mới không thể tắt được vậy.
Ông phụ chú thêm: tâm sự của Cơ Tử, Khổng Tử đã khen nhưng chưa nói cho thấu triệt; phải đến một bài văn bia của Liễu Tông Nguyên mới nói được rõ ràng, minh bạch. Bài văn ấy đại ý hỏi: Cơ Tử vì cớ sao không đi mà cũng không chết? Vi Tử bỏ đi vẫn là người trí; Tỷ Can tử tiết vẫn là người trung. Duy Cơ Tử giả người cuồng mà sống trơ ngôi đó, chẳng phải tham sống sợ chết hay sao? Không phải. Tâm sự của thánh hiền đâu phải phường lưu tục phán đoán ra được. Hãy thử nghĩ: lúc bấy giờ vận nhà Thương chưa hết, sự nghiệp nhà Chu chưa thành, Văn vương còn giữ đạo làm tôi, nhân dân còn nhiều người luyến chúa; mà trung thần như Tỷ Can thì đã chết, thân thần như Vi Tử thì đã bỏ đi. Nếu một mai lòng trời hối họa, tổ tiên nhà Thương còn anh linh, khiến lão Trụ kia vô cớ chết trước, con Trụ là Vũ Canh tất nhiên nối ngôi, hậu chúa biết sửa chữa việc đổ nát của cha, thần dân nhà Thương trông mong có người chỉnh đốn. Nếu một người quốc thân hiền thánh như Cơ Tử mà cũng theo gót Tỷ Can, Vi Tử thì ngọn lửa tàn còn thoi thóp đó, toan cậy vào ai mà nhen lên bây giờ? Cơ Tử sở dĩ nhẫn nhục, dương cuồng, mong hãy tồn thân, sẽ có ngày khôi phục nước cũ, chẳng phải là đại trung, đại trí, đại dũng, đại nhân hay sao? Quẻ Minh Di hai lần nhắc đến Cơ Tử, chẳng phải tùy tiện mà viết ra.
Người mệnh hợp cách có cơ mưu lớn mà vẫn giữ được thân mình; là người có tài đức lớn, gặp thời hôn ám vẫn giữ được thân nếu theo đúng chính nghĩa. Người mệnh không hợp cách khó gặp đồng chí, lo lắng, gian nan, bôn tẩu; là người không gặp may, gian nan bôn tẩu, sự nghiệp không thành.
Về vận hạn: giới quan giữ bền đức, tránh nạn, đề phòng bị nghi ngờ, truất giáng, thải hồi; kẻ sĩ khó gặp tri kỷ, không gặp thời, khó thành sự nghiệp; người thường gia đình có hoạn nạn. Gặp thời đen tối đừng sầu, giữ mình ngay thẳng ắt sau tốt lành.
Hào thượng lục: không sáng mà tối đen, lên tận trời rồi sụp xuống đất
Hào âm, hào xấu. Chẳng sáng mà tối đen; lúc đầu thì lên tận trời, sau thì chui vào tận đất.
Bất minh hối, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.
Toán Hà Lạc nói không có đức nên không giữ được ngôi lớn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào trên cùng, âm, ở cuối thời Minh Di, lại ở trên cùng quẻ ngoại Khôn, tức như người có địa vị tối cao mà lại hôn ám cùng cực; như vậy là tối mù mù, chứ không phải chỉ là ánh sáng bị tổn hại nữa. Cho nên lời hào bảo là chẳng sáng mà tối đen. Có cái tượng lên cao tới trời, là địa vị tối cao, mà rồi sụp xuống đất.
Phan Bội Châu phụ chú: lời hào này ứng với vua Đinh Tiên Hoàng ở nước ta, lúc đầu dẹp được mười hai sứ quân, lên làm vua một nước, chẳng phải là mới thì lên tận trời hay sao? Đến lúc sau hung bạo, hoang dâm, tin dùng gian thần, lập năm hoàng hậu, chẳng bao lâu nhà Đinh mất, chẳng phải là sau vào tận đất hay sao?
Ông lại phụ chú: lời năm hào trước đều có chữ Minh Di, duy đến hào trên cùng thì không có chữ Minh Di. Bởi chất sáng của năm hào trước đều vì hào sáu âm làm cho bị thương nên đều có chữ Minh Di. Đến hào trên cùng âm, nó đã làm bại hết chất sáng của người, cuối cùng nó lại tự làm bại chất sáng nó có luôn, còn đâu là sáng mà phải nói bị thương nữa. Đó cũng là một nghĩa đặc biệt trong quẻ này.
Người mệnh hợp cách chí cao, vị lớn, cứu đại nạn cho nước; là người có tài đức, ở ngôi cao, lập công lớn nhưng không bền, về già dễ bị tai tiếng. Người mệnh không hợp cách ỷ thế làm bậy, nhỏ thì cuồng ngôn, lớn thì gặp sóng gió; là kẻ thiếu tài đức ở ngôi cao, không thận trọng, làm bừa, gặp thất bại, gian nan.
Về vận hạn: giới quan bị chỉ trích, thiếu tài đức, ngôi cao không bền, dễ mắc sai lầm, gặp gian nan vất vả; kẻ sĩ chìm nổi, long đong, không gặp vận; người thường trước dễ sau khó, về già quẫn bách, kinh doanh thua lỗ, công việc không thành.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
