Bài tổng quan
Thiên Sơn Độn: núi vươn lên, trời lùi xa và nghệ thuật rút lui đúng lúc
Đứng dưới chân núi, ta thấy trời ở ngay trên đỉnh; càng leo lên, trời càng lùi xa như đang tránh mình. Người quân tử gặp thời tiểu nhân lấn tới cũng học cách ấy: rút lui, nhưng không vội vã và không để mất uy nghiêm... Lùi đến đâu thì gọi là khôn, lùi đến đâu thì thành hèn?
Mục lục · 8 phần
- 01Độn là lùi lại: dưới trời có núi
- 02Núi càng lên cao, trời càng lùi xa
- 03Hào sơ lục: ở lại sau cùng như cái đuôi
- 04Hào lục nhị: buộc bằng da bò vàng, chắc không gì cởi được
- 05Hào cửu tam: đang chạy trốn mà còn vướng tình riêng
- 06Hào cửu tứ: bỏ cái mình ưa để đi theo chính nghĩa
- 07Hào cửu ngũ: tránh cho đẹp, giữ chính thì tốt
- 08Hào thượng cửu: trốn đi mà ung dung, không gì không lợi
Độn là lùi lại: dưới trời có núi
Quẻ số ba mươi ba là Thiên Sơn Độn, tiết khí tháng sáu. Độn nghĩa là thoái, là lùi về, ở ẩn, trốn, lánh đi. Trên là Càn, là trời; dưới là Cấn, là núi.
Thiên hạ hữu sơn, Độn. Quân tử dĩ viễn tiểu nhân, bất ác nhi nghiêm.
Lời Tượng nói dưới trời có núi là quẻ Độn, tức ẩn tránh. Người quân tử nhìn quẻ này mà tránh xa kẻ tiểu nhân; không tỏ ra ác nhưng giữ vẻ nghiêm. Người sinh vào tháng sáu gặp quẻ này là cách công danh phú quý.
Núi càng lên cao, trời càng lùi xa
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán bảo trốn đi thì hanh thông; trong các việc nhỏ, giữ được điều chính thì có lợi. Trên là trời, dưới là núi. Đứng dưới chân núi thì thấy đỉnh núi là trời, nhưng càng leo lên càng thấy trời lùi lên cao nữa; tới đỉnh núi thấy trời mờ mịt tít xa, như trời đang trốn tránh núi. Vì vậy quẻ được đặt tên là Độn.
Ông xem cấu trúc quẻ: hai hào âm ở dưới, bốn hào dương ở trên, có cái tượng âm, tức tiểu nhân, đang mạnh lên, còn dương, tức quân tử, đang đi, trái hẳn với quẻ Lâm. Độn thuộc về tháng sáu, Lâm thuộc về tháng mười hai. Ở thời Độn, âm đã tiến dần, dương nên rút lui là hợp thời, nên được hanh thông; cũng có thể hiểu là đạo quân tử vẫn hanh thông.
Tuy nhiên âm mới có hai mà dương còn tới bốn, chưa phải là thời Bĩ, là thời cả ba âm đều tiến lên, nên chưa đến nỗi nào, trong các việc nhỏ giữ được điều chính thì còn có lợi. Sở dĩ còn hanh thông là vì trong quẻ có hào năm dương ứng với hào hai âm, cả hai đều trung, chính. Vậy ở thời đó chưa nên trốn hẳn, nên tính xem việc nào còn làm được thì làm, tùy cơ ứng biến. Cho nên lẽ tùy thời trong quẻ Độn rất quan trọng. Còn lời Tượng khuyên người quân tử trong thời này xa lánh tiểu nhân, cứ giữ vẻ uy nghiêm, đừng dữ dằn với họ quá.
Về dự báo, quẻ Độn chỉ thời cuộc biến đổi, cái tốt giảm dần, cái xấu thắng thế. Không phải thời thuận lợi để triển khai những công việc mới mẻ, nên duy trì việc cũ thì hơn. Không thích hợp cho việc chuyển đổi công việc hay ngành nghề, không nên đi xa. Tài vận không có, kinh doanh khó phát triển, càng mở rộng càng thất bại; thi cử không thành; bệnh tật dễ nặng nhất là với người già; kiện tụng dễ thua; tình yêu và hôn nhân trắc trở, khó thành.
Hào sơ lục: ở lại sau cùng như cái đuôi
Hào âm, hào bình. Ở đuôi thời Độn là nguy; chớ có tiến, đừng làm việc gì.
Độn vĩ, lệ. Vật dụng hữu du vãng.
Toán Hà Lạc nói ẩn tránh khéo thì thoát nạn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào ở dưới cùng nên ví với cái đuôi ở lại sau cùng. Nó là âm, nhu nhược, hôn ám, không trốn theo kịp người, còn rù rờ ở sau nên bảo là nguy.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: độn ở sau người, vẫn có lẽ nguy, nhưng nếu biết nép mình, không tiến đi đâu thì cũng không có tai họa gì.
Người mệnh hợp cách thì lúc đầu làm nhỏ, về sau làm lớn, ước nguyện về sau dễ thành; gian nan lúc đầu, sau trót lọt; là người có hậu vận, làm nghiệp lớn về sau. Người mệnh không hợp cách thì lo phiền, gian nan, dù có được đề huề cũng chẳng làm nên chuyện; là người không biết lo xa, không tính trước mọi việc, nước đến chân mới nhảy, rơi vào cảnh gian nan nguy khốn.
Về vận hạn: giới quan được dịp thì buông cương, khó thăng tiến; kẻ sĩ luyện tài đợi thời, hành động dễ thất bại; người thường giữ phận thì hơn, kinh doanh không gặp dịp, kém kết quả. Đất hiểm lại đường cùng; lui về mà thủ phận, tiến lắm chỉ toi công.
Hào lục nhị: buộc bằng da bò vàng, chắc không gì cởi được
Hào âm. Màu vàng là màu hoàng cực, chỉ cái đạo lý trung tâm; lấy đạo lý đó mà ràng buộc thì vững chắc, không gì thoát được. Cố thủ giữ lấy chí hướng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào hai là âm, đắc trung, đắc chính, ứng với hào năm dương cũng đắc trung, đắc chính, làm nên cái tượng khăng khít với nhau, không thể rời nhau ra được; hào hai không thể bỏ hào năm mà trốn đi. Màu vàng của da bò là màu ở giữa, ám chỉ hai hào đó đều đắc trung.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: giữ chặt bằng da bò vàng, ý nói hào hai với hào năm bền chặt, vì đạo nghĩa mà không dám trốn đi. Xưa Cơ Tử trong lúc triều đình nguy vong, giả điên, làm kẻ đầy tớ, mà nói rằng không bỏ đi trốn; đúng với ý hào này.
Người mệnh hợp cách cố thủ giữ được chí xưa, tránh bọn gian tà, đem đức trung thuận ứng xử vào việc đời; là người giữ được chí bền, chấn hưng sự nghiệp, có công lớn, phúc lộc bền. Người mệnh không hợp cách thì nuôi trâu bò có lợi.
Về vận hạn: người biết duy trì đức hạnh thì gặp được quý nhân, có thể tạo dựng sự nghiệp lớn; số xấu thì lỡ vận, không nắm được thời cơ, khó thành đạt; kinh doanh kém phúc lợi, đề phòng kẻ dưới kiện cáo, anh em bất hòa. Nếu hay giữ được chí mình thì tung hoành chẳng thua ai.
Hào cửu tam: đang chạy trốn mà còn vướng tình riêng
Hào dương, hào xấu. Số tốt thì công thành danh đạt, có vợ hiền giúp đỡ; số xấu thì lỡ cơ lỗi vận, công việc không thành, ốm đau bệnh hoạn.
Hệ độn, hữu tật lệ, súc thần thiếp cát.
Ý hào: ẩn tránh mà bị ràng buộc, đang lúc trốn mà bịn rịn tư tình, vì hào hai âm ở ngay dưới, nên có bệnh và nguy. Chỉ nuôi người giúp việc trai gái thì tốt, vì mình tốt với họ thì họ vui lòng mà dễ sai khiến. Toán Hà Lạc nói đang ẩn tránh mà còn hệ lụy thì không tránh được.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào dương này ở gần hào hai âm, có vẻ bịn rịn tư tình với hào đó, không thể trốn mau được, như bị bệnh mà nguy. Có tư tình đó thì không làm được việc lớn, chỉ nuôi người giúp việc trai gái, mình tốt với họ thì họ vui lòng mà dễ sai khiến, được việc cho mình.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: ở vào thời Độn, vẫn nên chạy xa bay cao; bây giờ vì bịn rịn tư tình mà mắc nạn, tất nguy. Không trốn được, cũng không làm được việc lớn; duy có việc nhỏ là nuôi người giúp việc thì còn có thể tốt lành. Ngoài ra, quyết không làm nổi việc gì lớn trong cảnh bịn rịn tư tình.
Ông phụ chú thêm: lời hào này cũng mang nghĩa quyền biến trong Kinh Dịch. Ở Trung Hoa có chuyện Thái Tùng Pha, người tài giỏi, làm đô đốc Vân Nam. Viên Thế Khải muốn xưng đế, triệu ông lên Bắc Kinh; nếu không lên sẽ bị trừng phạt. Thế yếu, ông đành nín nhịn mà lên. Viên cho làm tướng nhưng không cho coi việc binh, ngày nào cũng cho người theo dõi. Ông phải nhẫn nhịn chờ hai năm, nuôi một đào hát tên Phụng Tiên. Lính trinh sát thấy ông chỉ mê cô đào, không hành động gì. Ông lại bày trò để bà vợ ghen, tự cào rách mặt rồi bỏ về quê. Viên cho ông là người bậy bạ, không có mưu mô gì. Sáng hôm Viên xưng đế, Thái Tùng Pha mặc áo đeo kiếm vào chầu; trong lúc chờ đợi, thừa dịp lơi lỏng, ông bỏ trốn về nhà Phụng Tiên, ăn mặc đàng hoàng, cùng nàng đáp xe lửa về Thiên Tân, đáp tàu thủy về Hương Cảng, hội nhập với Lương Khải Siêu và các bạn cách mạng. Chỉ một tháng sau Vân Nam nổi dậy; ba tháng sau Viên đổ và chết. Người đời lúc đó mới biết cách độn của tay anh hùng, và việc nuôi người hầu thiếp chẳng phải là vô dụng. Khi Tùng Pha mất, cả nước làm lễ truy điệu.
Người mệnh hợp cách minh triết giữ được thân, dũng thoái thoát được nạn; hoặc có vợ hiền, chồng giỏi giúp sức, hoặc có người giúp việc hết lòng; vượt qua được hoạn nạn, tạo dựng được sự nghiệp. Người mệnh không hợp cách chỉ chè chén, tham tài tham sắc, tổn thương liên miên hoặc bị người hầu liên lụy; là kẻ tham danh lợi, ham mê tửu sắc, sa vào tai họa hoặc ôm đau dai dẳng.
Về vận hạn: giới quan có cái lo về chức phận; kẻ sĩ không thành đại sự; người thường nhiều tật ách, số tốt thì được vợ đắc lực, nhà thêm người. Phòng tật bệnh, gần việc thường; mưu to chớ ngả, rẽ đường đưa tin.
Hào cửu tứ: bỏ cái mình ưa để đi theo chính nghĩa
Hào dương, hào tốt. Ẩn tránh cái ưa thích của mình; người quân tử thì tốt, kẻ tiểu nhân thì không làm được.
Hảo độn, quân tử cát, tiểu nhân phủ.
Toán Hà Lạc nói tin ở người quân tử có thể quyết chí ẩn tránh.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào bốn dương cương, ứng với hào một âm nhu, có tình thân thiết với nhau; nhưng hào bốn là quân tử, hào một là tiểu nhân, nên hào bốn cắt được tư tình mà trốn đi theo chính nghĩa. Chỉ hạng quân tử mới làm vậy được, tiểu nhân thì không.
Người mệnh hợp cách có ý kiến, có tinh thần trách nhiệm, có xác định, nên lợi lộc không quyến rũ được, tránh được tai ương, hưởng phúc lâu dài; là người ngay thẳng công bằng, không bị lợi lộc tầm thường lôi cuốn, tạo dựng được sự nghiệp lớn, được mọi người kính trọng. Người mệnh không hợp cách thì tham lam không chán, xu phụ quyền thế, hoặc có chí, có tài kỹ nghệ lập thân, hoặc chán đời.
Về vận hạn: giới quan khó thăng tiến, gặp lúc khó khăn nên về nghỉ thì hơn; kẻ sĩ giao tiếp không đúng thời, khó tiến thủ; người thường được tiểu nhân che chở nhưng về sau phòng họa ngầm, dễ bị tai vạ bất ngờ, kiện cáo. Một được thì một mất; con đường mở rộng đi đâu cũng được, tự nhiên lòng chẳng bận cạnh ai.
Hào cửu ngũ: tránh cho đẹp, giữ chính thì tốt
Hào dương, hào tốt. Ẩn tránh hay, chính nên tốt.
Gia độn, trinh cát.
Toán Hà Lạc nói khen cho người biết ẩn tránh đẹp đẽ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào năm dương có đức trung, chính, ứng với hào hai âm cũng trung, chính. Vào thời Độn, cả hai cùng tương trợ nhau trốn khỏi tiểu nhân, giữ được điều chính, cho nên tốt.
Người mệnh hợp cách là bậc đại nhân, dẹp loạn, đem về đường chính. Người mệnh không hợp cách thì điềm đạm dưỡng tính tình, bình ổn tâm trí, sống yên vui.
Về vận hạn: giới quan được thăng chuyển; kẻ sĩ và người thường đều gặp quý nhân và có chuyện vui mừng.
Hào thượng cửu: trốn đi mà ung dung, không gì không lợi
Hào dương, hào bình. Thời vận an nhàn.
Phì độn, vô bất lợi.
Ẩn trốn mà ung dung, đàng hoàng thì không có gì là không lợi. Ẩn tránh mà thân khoan thai là hay.
Nguyễn Hiến Lê giảng: vào cuối thời Độn, càng trốn được xa càng được tự do. Hào này dương cương, quân tử, không bịn rịn với hào nào cả; hào ba cũng là dương, nên có thể ung dung đàng hoàng mà trốn đi, không nghi ngại gì.
Phan Bội Châu bình về cả quẻ: người ta ở đời có xuất có xử, có tiến có thoái; chẳng những tiến với xuất là có việc, mà thoái với xử cũng là có việc. Vì có Thời nên phải có Việc, mà làm việc tất phải đúng với Thời. Dịch học vì người quân tử mà đặt ra quẻ Độn, tức là đặt ra Thời; độn chóng hay chậm, độn xa hay gần, độn khéo hay vụng, độn hay không độn, tức là Việc.
Ông nói tiếp: hào một độn chậm nên nói đuôi thời độn mà nguy; hào ba độn mà còn bìu ríu nên nói có nguy; hào bốn vướng tư tình mà quyết độn xa nên được tốt; hào năm độn bằng trung chính nên tốt; hào sáu độn một cách ung dung nên tốt nhất trong thời độn, không gì không lợi. Duy hào hai có nghĩa đặc biệt trong thời Độn: thân mình là đại thân, nghĩa là có vai trò hệ trọng với nước, mà lại lấy không trốn làm việc. Tóm lại, chung một thời Độn mà việc làm khác nhau như thế.
Ông kết: chúng ta xem Thời ở toàn quẻ, lại phải xem Việc ở sáu hào. Tỷ như một ngày là thời chung, hai mươi bốn giờ là thời riêng; vì thời riêng có khác nhau nên việc cũng so le nhau. Chỉ xem ở quẻ Độn cũng đã biết được Dịch lý.
Người mệnh hợp cách có lòng rộng rãi, quảng đại, không quan tâm đến yêu ghét, phúc họa mà hưởng phúc lâu dài; là người có danh vọng, vị trí cao sang, quang minh chính đại, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách cũng được cơm áo đầy đủ, chẳng nhục chẳng vinh; là người có cuộc sống sung túc, an nhàn.
Về vận hạn: giới quan thoái mà nhàn, dễ thăng tiến; kẻ sĩ đợi thời; người thường kinh doanh đắc lợi, gia nghiệp tăng trưởng. Phiêu phiêu ngoại vật là tiên, việc gì cũng tự nhiên tốt lành.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
