Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thuần Cấn: núi chồng núi, biết dừng đúng chỗ thì không lỗi

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Thuần Cấn: núi chồng núi, biết dừng đúng chỗ thì không lỗi

Đi giữa sân mà không thấy bóng người, đứng giữa đời mà quên cả thân mình. Có kẻ dừng ở ngón chân, có kẻ dừng nơi bắp chân, có người chỉ biết khép miệng đúng lúc... Dừng ở đâu mới là dừng cho trọn?


Cấn là ngăn: hai trái núi chồng lên nhau, bước chân phải dừng lại

Quẻ số năm mươi hai là Thuần Cấn, thuộc hàng quẻ bình, ứng với tháng tư. Cấn nghĩa là ngăn bước, là ngừng lại, là trở ngại trùng trùng. Cả quẻ trên lẫn quẻ dưới đều là Cấn, tượng hai trái núi nối nhau chặn lối.

Kiêm sơn, Cấn. Quân tử dĩ tư bất xuất kỳ vị.

Lời Tượng nói hai trái núi gộp lại là quẻ Cấn, tức ngăn cản. Người quân tử nhìn đó mà nghĩ cho đúng địa vị của mình, không bước ra ngoài phận vị ấy.

Người sinh vào tháng tư gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng hôm nay đi hướng Bắc, mai sang hướng Đông, cầu lộc cầu tài việc cũng hanh thông.

Ngừng ở cái lưng, đi giữa sân mà không thấy bóng người

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói ngừng ở cái lưng, không thấy thân mình; đi ở trước sân, không thấy có người; không có lỗi. Quẻ này vốn là quẻ Khôn, lấy nét thứ ba của Khôn thay bằng một nét dương, thành ra một nét dương nằm trên, hai nét âm nằm dưới. Nét dương chặn lại ở trên, hai nét âm cũng bị chặn ở dưới, cho nên đặt tên là Cấn, nghĩa là ngừng.

Trong thân thể con người, đầu, cổ, tay chân lúc nào cũng cử động, chỉ có lưng là thường lặng yên. Đó là nghĩa của ba chữ ngừng ở lưng. Hễ lặng yên thì không bị tình dục sai khiến, không làm điều ác; lặng yên đến độ không nghĩ tới mình, mà cũng quên luôn người khác, như đi trước sân mà chẳng thấy ai. Ấy là chẳng còn phân biệt mình với người, nên không có lỗi.

Lời Thoán truyện giảng thêm: lúc đáng ngừng thì ngừng, lúc đáng đi thì đi, động hay tĩnh đều hợp thời. Lại phải biết ngừng ở chỗ đáng ngừng, như đối xử với mọi người cho đạt được đức nhân, đức tín. Quẻ trong là Cấn, quẻ ngoài cũng là Cấn, cùng một thể với nhau, nên người và ta chỉ là một. Đó là nghĩa sâu xa của quẻ.

Lời Đại tượng khuyên người quân tử chỉ nên dừng ở chỗ làm trọn bổn phận của mình, và đừng trật ra ngoài bổn phận ấy.

Hào sơ lục: dừng ngay từ ngón chân, lúc việc mới chớm

Hào âm, hào bình. Hào đầu quẻ ví như ngón chân cái, chỉ cái lúc việc mới phát sinh; biết dừng ngay thì tốt. Hào chỉ người ở cấp dưới, địa vị thấp kém.

Cấn kỳ chỉ, vô cữu, lợi vĩnh trinh.

Hà Lạc nói có đường lối giữ cho ngay thẳng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm ở dưới cùng quẻ Cấn, như ngón chân, lúc mới bắt đầu động mà biết cẩn thận, ngưng lại thì không có lỗi. Sở dĩ khuyên như vậy vì hào một không đắc chính, nên phải kiên nhẫn giữ chính đạo mãi thì mới có lợi.

Người mệnh hợp cách theo chính, giữ phận, nên kết quả hay; dù không phát đạt trọn vẹn cũng tránh được tai nguy. Người mệnh không hợp cách khiêm tốn giữ phận nhỏ, bảo vệ gìn giữ được thân và nhà, không gặp tai họa.

Về vận hạn: quan chức giữ được địa vị thì cũng chẳng có gì thật; giới sĩ tiến thủ thì chậm bước; người thường biết giữ phận thì hơn. Câu thơ của hào nói tiến thì hai chí chưa toàn, cho nên phải giữ niềm chung thủy, ngại để lâu.

Hào lục nhị: dừng ở bắp chân mà phải đi theo kẻ khác, lòng không vui

Hào âm, hào xấu. Bị ngăn ở bắp chân mà không cứu được cái đang đi theo, vì hào hai âm phải theo hào ba dương nên lòng không vui.

Cấn kỳ phì, bất chửng kỳ tùy, kỳ tâm bất khoái.

Hà Lạc nói thành tựu được ở mình, nhưng chưa được ở người.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên hào một, như bắp chân. Nó đắc trung, đắc chính, biết lúc nào nên ngưng, nhưng lại tùy thuộc vào hào ba ở trên, như bắp chân phải chạy theo bắp vế. Hào ba thì lầm lỗi mà không sửa được, nên hào hai phải theo một kẻ làm lỗi, lòng làm sao vui.

Phan Bội Châu phụ chú: lời hào này giống chuyện thầy Mạnh với Tề Tuyên Vương. Vua nói gì thầy cũng chiều mà nói theo; như khi vua bảo mình thích sắc, thầy cũng đáp rằng ngày xưa Thái Vương cũng thích sắc. Không phải thầy không muốn cứu vua, nhưng biết vua chẳng nghe lời mà vẫn nói theo cho qua. Kết cục thầy phải bỏ nước Tề mà đi. Ấy là không cứu được mà phải theo, lòng làm sao vui.

Người mệnh hợp cách tài đức cao, có chí phục vụ, nhưng tiếc rằng mưu chẳng được dùng, việc bị trở ngại bởi bề trên, nên lòng không thỏa; tuy chưa đạt chí cũng để lại tấm gương tốt về sau. Người mệnh không hợp cách tâm không nhất định, chính tà lẫn lộn, không thu xếp được việc nhà, không sửa trị nổi cái lầm của cha, gian nan cô lập, buồn bực quanh năm.

Hào cửu tam: ngăn ngang hông, đứt giữa xương sống, nóng ruột như lửa

Hào dương, hào xấu. Chỉ sự bỏ lỡ thời cơ vì trên dưới không đồng lòng. Hào dương ở vị dương, quá cương lại không có hào đối ứng.

Cấn kỳ hạn, liệt kỳ dần, lệ huân tâm.

Hà Lạc nói không đáng ngăn mà bị ngăn, mất cả thời cơ.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng quẻ nội, như chỗ ngang lưng quần, nơi phân cách trên và dưới. Nó dương cương mà bất trung, tiến lên thì người trên không nghe, lui xuống cũng không được, như bị đứt giữa xương sống, rất nguy khốn, lo đến cháy cả ruột.

Người mệnh hợp cách làm việc lớn nhưng lòng tham không đáy, để hỏng việc nước, trên dưới cách trở, khó tránh lỗi. Người mệnh không hợp cách tuy có của nhưng ương ngạnh, làm liều, thiếu thiện duyên.

Về vận hạn: quan chức phải di chuyển, sửa đổi; giới sĩ thành danh; người thường ương ngạnh, phá tán không yên. Số xấu thì già trẻ mắc bệnh ở tim, mắt, lưng, hoặc có tang phục, tổn thương xảy ra ngay trong nhà. Câu thơ của hào nói cầu trời thì họa đổi ra cát tường.

Hào lục tứ: ngăn được thân mình thì không lỗi

Hào âm, hào bình. Phải tự chế thì an toàn; buông thả thì gặp gian nan. Hào bốn đắc chính nên biết tự ngăn thân mình.

Cấn kỳ thân, vô cữu.

Hà Lạc nói thời nên ngừng thì ngừng, không động càn.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này lên đến giữa thân mình, đắc chính vì âm ở vị âm, biết lúc nên ngừng thì ngừng, tuy chưa làm được việc gì lớn nhưng không có lỗi.

Phan Bội Châu phụ chú: chữ ngừng ở thân ở đây cũng tương tự chữ ngừng ở lưng trong lời quẻ. Chỉ có điều lời quẻ nói không thấy thân mình, tức là quên cả thân mình; còn hào bốn chỉ ngừng ở thân, tức là vẫn biết có mình. Khác nhau chỉ hai chữ mà giới hạn giữa bậc thánh và người thường cách xa nhau. Đọc Dịch phải biết ý ấy.

Người mệnh hợp cách kín đáo tu luyện, cẩn trọng, rộng rãi; tuy không đủ sức dạy hóa thiên hạ nhưng riêng mình vẫn giữ trọn điều thiện, dù không cứu được đời cũng tránh được lỗi lầm. Người mệnh không hợp cách chỉ lo riêng mình, tự túc, hoặc chỉ biết gắng gượng giữ thân.

Về vận hạn: quan chức nên giữ chỗ đang đứng; giới sĩ đừng tiến liều để cầu may; người thường yên phận, đừng cầu cạnh xa xôi. Câu thơ của hào nói thân ngồi địa vị cao sang, giữ mình yên thẳng thì ngoài càng thơm danh.

Hào lục ngũ: dừng nơi má miệng, lời nói có thứ tự thì hối hận tan

Hào âm, hào tốt. Hợp với nghề ngoại giao, ngôn luận, phúc lộc cao. Số xấu thì dễ bị vạ miệng, mang tiếng xấu. Hào năm biết ngừng ở má, ở miệng, lời nói có thứ tự thì hối hận mất đi.

Cấn kỳ phụ, ngôn hữu tự, hối vong.

Hà Lạc nói dè dặt lời nói thì sẽ đỡ lỗi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này lên tới chỗ má miệng, đắc trung, biết thận trọng trong lời nói; lúc nào không đáng nói thì không nói, nên không có gì phải hối hận.

Phan Bội Châu phụ chú: Khổng Tử nói rằng người có đức tất có lời nói hay, nhưng người chỉ có lời nói chưa chắc đã có đức. Xưa vua Cao Tôn ba năm không nói, đến khi nói một lời thì bốn bể đều tin mà hướng về. Tề Uy Vương ba năm không ngáy, đến khi ngáy một tiếng thì nước Tề kinh động. Đó chính là nói năng có thứ tự mà khỏi ăn năn như hào này vậy.

Người mệnh hợp cách có đức, có lập ngôn; lớn thì làm việc ngoại giao, nhỏ thì làm thầy dạy học. Người mệnh không hợp cách thì cũng ngâm nga như Đào Tiềm, luận bàn kim cổ, bạn bè quây quần, sinh kế bình thường.

Về vận hạn: quan chức đã hiển đạt thì ở vị cao cấp trung ương, chưa hiển đạt thì cũng giữ chức ngôn luận; giới sĩ nhờ một lời nói trúng ý bậc đại nhân mà khoa danh thành tựu; người thường hợp lòng người, mưu việc toại ý, số xấu thì vạ miệng. Câu thơ của hào nói lời ngay hợp lẽ phải nên chẳng có gì hối hận, đừng hiềm danh lợi đến muộn, xuân sang phúc lộc sẽ tới.

Hào thượng cửu: dày dặn đến cùng, núi đứng yên mà vẫn sáng

Hào dương, hào tốt. Biết dừng ở chỗ chí thiện thì tốt. Hào ở trên cùng, làm chủ cả quẻ dương cương, tính đôn hậu, biết lúc nào nên ngừng thì ngừng.

Đôn Cấn, cát.

Hà Lạc nói ngừng lại ở mức chí thiện.

Phan Bội Châu phụ chú: đọc Dịch đến quẻ Cấn thấy là một quẻ rất tốt, đọc lời hào quẻ Cấn đến hào thượng dương thật là hào rất tốt. Cấn tượng là núi, núi là giống vật rất trọng hậu, ăn ở chú trọng cái dày. Người có đức trọng hậu thì còn gì quý hơn.

Khi động đúng với thời, khi tĩnh cũng đúng với thời, đạo Cấn nhờ vậy ngày càng rực rỡ. Quẻ Đại Súc có quẻ ngoài là Cấn cũng nói: chứa chất dày dặn, tỏa sáng, ngày ngày làm mới đức mình. Đã chứa chất dày dặn, lại tỏa sáng, lại ngày một mới thì đủ bấy nhiêu lời tốt, chẳng phải do trọng hậu mà được vậy sao?

Thánh nhân sợ người ta nhầm người trọng hậu là người kém tài. Nhưng xưa nay những bậc đại tài bao nhiêu thì cũng là bậc trọng hậu bấy nhiêu. Có chứa chất dày dặn thì đến khi phát triển mới rõ ràng; chỉ chứa dày mới tỏa sáng, chính là điểm tốt của Cấn. Vì vậy trong Dịch có tám quẻ lấy Cấn làm quẻ ngoài, đến hào thượng thảy đều tốt.

Lời Tượng hào thượng quẻ Cấn nói sở dĩ tốt là vì dày cho đến cùng. Xem thêm lời Tượng ở hào thượng các quẻ ngoại Cấn khác: quẻ Bí thì nói ở trên đạt được chí; quẻ Bác thì nói được dân chở che; quẻ Đại Súc thì nói đường lớn thông hành; quẻ Cổ thì nói chí ấy đáng làm phép tắc; quẻ Di thì nói người lớn có phúc; quẻ Tổn thì nói bậc đại nhân đạt được chí; quẻ Mông thì nói lợi cho việc chống giặc. Hào đã tốt, lời Tượng lại thêm tán dương như thế.

Tóm lại, hai chữ đôn hậu thu gọn cả hào. Hậu trái nghĩa với mỏng. Đất sở dĩ chở được núi sông, đựng được bốn bể, nuôi được muôn vật chỉ vì có đức dày; nền móng dày mới dựng được nhà lớn, sức lực dày mới gánh được việc nặng. Xưa nay chẳng thấy hạng người mỏng manh nào làm nên nghiệp lớn.

Người mệnh hợp cách phong độ cao, tiết khí vững, làm biểu tượng cho người của thời đại, phúc trạch sâu bền. Người mệnh không hợp cách cũng thành thực, không phù hoa, ruộng vườn rộng lớn, tuổi thọ dài.

Về vận hạn: quan chức đổi chức vụ; giới sĩ thành danh; người thường làm ruộng, buôn bán đều được lợi, nhưng chí hướng chưa được thỏa mãn. Câu thơ của hào nói vốn người đôn hậu, im hơi lặng tiếng, bỗng nhiên vận đến, lộc ngôi đường hoàng.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc