Bài tổng quan
Trạch Sơn Hàm: núi rỗng chứa nước, lòng trống mới cảm được người
Trên đỉnh núi có một vũng đầm, vì lòng núi chịu lõm xuống nên mới đựng được nước. Người ta cảm nhau bằng ngón chân, bằng bắp chân, bằng cái lưng hay bằng đầu lưỡi, rồi cũng chỉ đi được đến đó... Vậy phải trống rỗng đến đâu thì người ta mới thật sự cảm được nhau?
Mục lục · 8 phần
- 01Hàm là cảm: trên núi có đầm nước
- 02Trai gái cảm nhau và chuyện ai phải hạ mình trước
- 03Hào sơ lục: cảm ở ngón chân cái
- 04Hào lục nhị: cảm ở bắp chân, ở yên thì tốt
- 05Hào cửu tam: cảm ở bắp đùi, cố theo người thì hối thẹn
- 06Hào cửu tứ: cảm ở trái tim, đi lại bối rối
- 07Hào cửu ngũ: cảm ở thịt lưng, không có gì phải hối
- 08Hào thượng lục: cảm bằng mép, má và đầu lưỡi
Hàm là cảm: trên núi có đầm nước
Quẻ số ba mươi mốt là Trạch Sơn Hàm, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Giêng. Hàm nghĩa là cảm, giao cảm, cảm thông, cảm động. Trên là Đoài, là đầm; dưới là Cấn, là núi.
Sơn thượng hữu trạch, Hàm. Quân tử dĩ hư thụ nhân.
Lời Tượng nói trên núi có đầm là quẻ Hàm, tức giao cảm. Người quân tử nhìn quẻ này mà giữ lòng hư không, vô tư, không thành kiến, để tiếp nhận người.
Trai gái cảm nhau và chuyện ai phải hạ mình trước
Nguyễn Hiến Lê giảng: Kinh Dịch phần thượng bắt đầu bằng hai quẻ Càn và Khôn, nói về trời đất, về vũ trụ. Phần hạ bắt đầu bằng hai quẻ Hàm và Hằng, nói về nhân sự: Hàm là trai gái cảm nhau; Hằng là vợ chồng ăn ở với nhau lâu dài. Lời Thoán nói rằng giao cảm thì hanh thông, giữ đạo chính thì lợi; theo đạo chính mà cưới người con gái làm vợ thì tốt.
Đoài tượng cho thiếu nữ, Cấn tượng cho thiếu nam. Đặc điểm của quẻ Hàm là thiếu nữ ở trên, thiếu nam ở dưới. Nghĩa là lúc mới gặp nhau, chàng trai phải hạ mình để cầu sự giao cảm của cô gái; còn nếu cô gái đi cầu cạnh chàng trai thì cô gái đã bất chính, mà chàng trai cũng không cảm, làm sao nên đạo Hàm được. Quy tắc tâm lý ấy ngày nay vẫn đúng.
Phan Bội Châu giảng lời Tượng: lời Tượng truyện không theo ý nghĩa của lời quẻ nói về nam nữ tương cảm, mà chỉ lấy nghĩa theo tượng quẻ. Cấn là núi mà ở dưới, Đoài là đầm mà ở trên; đó là do trên núi có chỗ trũng sâu xuống, nhờ vậy mà đựng được nước. Nghĩa là trong lòng núi có rỗng không thì mới chứa được nước. Quân tử xem tượng ấy mà biết rằng trong lòng mình phải trống không, chẳng để vật gì nhập vào trước làm chủ thì mới dung nạp được người. Trống không trong lòng là không có cái tôi, không có gì riêng tư, tức vô ngã, vô tư. Nếu trong lòng trước đã sẵn ý riêng, ham muốn riêng thì ra là đầy ở giữa. Đã đầy đặc trong lòng thì còn thu nhận được gì nữa, nên quân tử phải lấy cái rỗng không để thu nhận người.
Ông phụ chú thêm: tâm lý con người, về bản chất thì tất phải trung thực, nghĩa là trong lòng đã chất chứa sẵn sự chí thành, vì nếu không có chí thành thì không làm ai cảm được. Nhưng về cách ứng dụng trong thực tế thì lại phải trống rỗng bên trong, nghĩa là trong lòng không có sẵn ham muốn riêng tư, thì mới dung nạp được đạo lý xưa nay. Nghiên cứu tâm lý học, cần phải có đầy đủ hai phương diện ấy. Vậy nên học Dịch, xem quẻ Đại Súc có chữ dày dặn, lại xem quẻ Hàm có chữ trống không; hai nghĩa vẫn bổ sung cho nhau.
Ông còn nhắc: quẻ Hàm với quẻ Hằng đều biểu hiện một nam một nữ, nhưng ở quẻ Hàm thì thiếu nam phải ở dưới thiếu nữ. Đến quẻ Hằng, sau khi vợ chồng đã thành, trưởng nam là Chấn ở trên, trưởng nữ là Tốn ở dưới; vợ thuận theo chồng thì mới phải nghĩa. Nếu trái lại, trưởng nữ ở trên trưởng nam ở dưới thì trái nghĩa vợ chồng, làm sao mà lâu dài được. Lý do thánh nhân sắp đặt và đặt tên quẻ là như vậy.
Về dự báo, quẻ Hàm chỉ thời vận có lợi cho giới trẻ. Con người dễ thông cảm lẫn nhau, mọi việc tiến hành đều thuận lợi; đó là thời cơ tốt để hoàn thành sự nghiệp, có nhiều cơ may trong cuộc sống. Những mong muốn, ước nguyện nếu biết hợp tác với nhiều người đều có thể hoàn thành. Tài vận tốt, dễ kiếm tiền; kinh doanh phát đạt nhưng phải đề phòng sa vào ăn chơi sa đọa; việc làm dễ kiếm; thi cử dễ đỗ; xuất hành gặp hay; bệnh tật chóng lành; kiện tụng dễ hòa giải; tình yêu hôn nhân thuận lợi, tìm được người vừa ý, dễ thành lương duyên.
Hào sơ lục: cảm ở ngón chân cái
Hào bình. Hào từ nói cảm được ngón chân cái.
Hàm kỳ mẫu.
Ý hào: mới cảm ứng bề ngoài, chưa vào được đến tâm. Thời vận chưa đến, còn phải kiên trì, nóng vội thì khó thành. Toán Hà Lạc nói không nên cảm mà đã cảm.
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời hào của cả quẻ này lấy thân người làm ví dụ. Hào một ở dưới cùng, ứng với hào bốn; thấp mà cảm với bậc trên cao, sức cảm còn nhỏ, chưa động được lòng người, mới hơi động được ở ngón chân. Không khen cũng không chê.
Người mệnh hợp cách phận nhỏ mà chí cao, thành danh lúc còn trẻ, về già mới hưởng lộc; là người có chí nhưng chưa thành danh, còn phải chờ đợi. Người mệnh không hợp cách thì trung niên rời nhà đi xa, chưa được toại nguyện; là người chưa toại chí, phải tha phương cầu thực.
Về vận hạn: quan chức ở gần thì đổi đi xa, chưa nhàn thì lại bận; người thường nên đi buôn xa; tăng ni thì tiến tới được. Đại để mưu cầu việc gì càng vội thì càng khó thành.
Hào lục nhị: cảm ở bắp chân, ở yên thì tốt
Hào âm, hào bình. Hào từ nói cảm ở bắp chân nên xấu, nóng đi mà chưa đi được; ở yên thì tốt.
Hàm kỳ phì, hung, cư cát.
Hào chỉ thời tĩnh lợi hơn động, động nhiều thì có hại, ở yên thì tốt. Khó có dịp may; khó thăng tiến, khó hoàn thành sự nghiệp; kinh doanh không có lợi. Toán Hà Lạc nói tĩnh lợi hơn động.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào hai cao hơn một chút, nên ví với bắp chân. Nó ứng với hào năm, nhưng nó là âm, là phận gái, lại còn ở dưới thấp; nếu nóng lòng cầu thân với hào năm thì xấu. Nó nên giữ nết trung chính của nó, vì hào hai đắc trung, đắc chính, thì mới tốt, như vậy mới hợp đạo lý.
Phan Bội Châu giảng: nơi bắp chân, hễ sắp sửa đi thì nó động trước, tượng cho người có tính hiếu động. Thánh nhân có lời răn: hào hai muốn cảm ứng với hào năm, nhưng hào hai phải biết mình ở dưới, hào năm ở trên; người dưới muốn cảm được người trên, tất mình phải tự trọng trước, im lặng chờ người trên cầu mình thì mới có cái hay. Nếu hấp tấp, vội vàng cầu ứng với người thì đó là cách cảm bằng bắp chân: chân chưa đi mà bắp đã động, e đến nỗi xấu. Nhưng vì hào hai là trung chính, thánh nhân lại khuyên: hào hai chẳng phải đến nỗi thấy người sang thì bắt quàng làm họ; nên tự trọng lấy thân, chờ cho hào năm đến cầu mình thì tốt. Nghĩa là ở yên thì tốt.
Người mệnh hợp cách xem thời mà tiến; thấy phải mới làm, với bề trên không vượt phận, với kẻ dưới không trái đạo, tai hại không phát sinh, cái vui cái lành thường tự đến; là người biết xem thời hành động, biết lấy tĩnh thắng động, an cư lạc nghiệp, giữ được cơ nghiệp. Người mệnh không hợp cách thì chí lớn, tham vọng nhiều, bôn tẩu cũng vì cơm áo, cực khổ mới nên nghiệp nhà; nhiều tham vọng, phải bôn ba xoay sở nhưng khó thành, về già mới thành đạt.
Về vận hạn: quan chức ngồi yên thì tốt, lưu động có hại; kẻ sĩ khó gặp dịp may; người thường tất tả ngược xuôi, tĩnh thì hơn.
Hào cửu tam: cảm ở bắp đùi, cố theo người thì hối thẹn
Hào dương. Hào từ nói cảm ở bắp đùi, cứ khăng khăng theo người; tiến đi thì hối thẹn.
Hàm kỳ cổ, chấp kỳ tùy, vãng lận.
Ý hào: cảm ứng không chính đáng, xấu hổ. Hành động thiếu chính đáng thì chỉ làm được những việc bình thường, không có cơ hội thăng tiến. Toán Hà Lạc nói cảm không chính đáng thì không khỏi hối thẹn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng quẻ nội nên ví với bắp đùi. Nó là dương cương, hăm hở, muốn theo hào bốn cũng là dương cương ở trên nó. Trong thời Hàm nên tĩnh, mà nó lại động, lại động theo người khác nữa, nên đáng chê trách.
Người mệnh hợp cách biết liệu thời cơ mà tiến lui, hoặc có vài việc làm để rồi hối không kịp; là người có chức vị khá, biết tiến thoái nhưng làm nhiều điều không đúng, phải hổ thẹn. Người mệnh không hợp cách thì tính khéo làm vụng, chạy theo người, thất bại; là người tài nhỏ chí to, học đòi làm việc lớn mà chuốc vạ vào thân.
Về vận hạn: quan chức phòng bị truất giáng; kẻ sĩ chí xoàng, thi cử ở dưới người; người thường được giao việc gì làm việc ấy, chẳng nên chuyên một mình mà chỉ nên theo đàn anh. Phàm việc nhiều hối thẹn, chỉ tốt cho chuyện hôn nhân.
Hào cửu tứ: cảm ở trái tim, đi lại bối rối
Hào dương, hào bình. Hào từ nói giữ chính thì tốt, mất hết điều hối tiếc; đi lại bối rối, bạn bè chỉ theo ý nghĩ của anh mà thôi.
Trinh cát, hối vong, đồng đồng vãng lai, bằng tòng nhĩ tư.
Hành động và suy nghĩ không thực tế, cho người biết ăn năn, giữ được chính nghĩa. Chưa phải thời làm ăn lớn, kinh doanh to; giữ trung bình thì tốt.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đã lên ngoại quái, dương cương, lại ở quẻ Đoài là vui vẻ, tức mang tính hòa vui, nặng về cảm tính, nên ví với trái tim, tấm lòng. Tình cảm phải chính đáng, chí công vô tư, như vậy mới không hối hận. Nếu có óc tính toán, tốt với người để mong người tốt lại với mình, có đi có lại, thì số bạn sẽ không đông.
Phan Bội Châu dẫn Hệ Từ để giải thích thêm: từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, thiên hạ đường đi tuy khác nhau nhưng đến lúc quy kết thì như nhau; sắp đặt tuy có trăm lối nhưng cuối cùng chỉ tóm vào một lẽ. Như thế thì đạo lý trong thiên hạ cần gì phải ngẫm nghĩ bằng bụng riêng, cần gì phải tính toán bằng mẹo vặt. Ta thường nói tư lự: tư là ngẫm nghĩ trong lòng riêng, lự là tính toán mẹo vặt. Trong vũ trụ cũng như trong một vật nhỏ, sự cảm ứng chẳng qua là cảm ứng đắp đổi cho nhau mà thôi.
Cảm là động cơ; đã có cảm tất có ứng; cái ứng đó quay lại làm cái cảm, cái nhân trước tạo ra cái quả sau, cái quả sau lại thành nhân cho điều sau nữa. Như mặt trời cảm cho mặt trăng, mặt trăng ứng lại mặt trời; rồi mặt trăng chạy qua cảm với mặt trời, mặt trời ứng lại mặt trăng; nhật nguyệt xô đẩy nhau mà nảy nở ra ánh sáng. Không gian như thế mà thời gian cũng như thế: mấy phút trước là cái đã qua đi, là co rút lại; mấy phút sau là cái sắp tới, là kéo dài ra. Lại giống như con sâu đo, tiến lên bằng cách co mình lại rồi duỗi dài ra. Suy đó mà tìm ra chân lý: muốn phát triển sự nghiệp, trước phải lo bồi dưỡng trí thức, tìm nghĩa lý cho thấu tới chốn tinh vi, rồi sau suy ra hành động cho kết quả tới nơi tới chốn. Đã thành công rồi thì càng nuôi chí lớn, làm cho tinh thần sự nghiệp càng cao lớn, cứ thế mà tiến lên mãi, rất mực thần diệu, không thể dùng mắt thường mà đo lường được.
Ông phụ chú thêm: trong lời hào bốn của đạo Hàm, thánh nhân sử dụng đến mặt trời, mặt trăng, là đạo lý rất lớn. Chẳng mấy người để ý con sâu đo, nhưng thánh nhân nhìn đó mà suy biết đạo cảm ứng co rút và kéo dài, biết rằng trong thiên hạ không có gì nhỏ mà không theo đạo. Thời nay có Vương Dương Minh chủ trương thuyết tri hành, nghĩa là tri, tức nắm biết, kết hợp với hành, tức hành động, trong một việc. Hễ tri đến nơi thì hành được đến nơi, và đã tri thì tất phải hành; cái tri vun đắp nền tảng cho cái hành, cái hành mở rộng phạm vi cho cái tri. Nước Nhật thời duy tân rất trọng thuyết tri hành của Vương.
Người mệnh hợp cách thành thật, cảm được bậc trên, làm ơn được cho dân, công lớn, lộc nhiều; là người trung chính, sống thực tế, phúc lộc nhiều. Người mệnh không hợp cách thì tâm ám muội, thiên lệch, bôn ba, tư cách xoàng, không có gì mở mang.
Về vận hạn: quan chức nắm chính quyền thì có bước tiến; kẻ sĩ có lợi nhưng chưa sáng tỏ; người thường bạn bè nhờ nhau, được việc nhỏ, cầu to thì hỏng, lòng ít an tĩnh.
Hào cửu ngũ: cảm ở thịt lưng, không có gì phải hối
Hào dương. Hào từ nói cảm ở miếng thịt nơi lưng, không có gì phải hối hận.
Hàm kỳ mai, vô hối.
Ý hào: không dính líu đến việc gì quan trọng nên không hối hận. Thời cuộc không thuận lợi: quan chức khó tiến, kẻ sĩ long đong, kinh doanh không thuận, phúc lộc ít. Toán Hà Lạc nói không cảm với vật nào nên không bị hệ lụy.
Nguyễn Hiến Lê giảng: bắp thịt ở trên lưng, cao hơn tim mà lại trái với tim, nên không cảm được vật. Không cảm được vật mà cũng không có tư tâm, tư ý, nên chẳng có gì hối hận. Có lẽ vì hào năm này dương cương, ở ngôi cao, trung chính, cách biệt dân chúng quá, nên Chu Hy bảo là không cảm được vật chăng.
Người mệnh hợp cách tự lập; tuy không có sự nghiệp với đời nhưng cũng không bị hệ lụy hay hối tiếc gì; nhưng cũng có thể là người có vị trí mà hẹp hòi, hay chấp nhặt, gây sự, làm mất lòng người, bỏ gốc theo ngọn, phúc mỏng, lộc thưa. Người mệnh không hợp cách thì chí mê, lượng hẹp, bỏ gốc theo ngọn, tầm thường, phúc mỏng.
Về vận hạn: quan chức hay chấp nhặt, hay mất lòng đồng liêu; kẻ sĩ khó tiến thủ; người thường tính tình khó hợp, mưu việc nhỏ.
Hào thượng lục: cảm bằng mép, má và đầu lưỡi
Hào âm, hào bình. Hào từ nói cảm đến mép, má, lưỡi, tức toàn bộ phận ăn nói.
Hàm kỳ phụ, giáp, thiệt.
Ý hào: sự cảm thông đã đến mức sâu sắc. Có lợi cho nhiều người làm nghề luật sư, bình luận. Công chức không gặp vận tốt thì dễ bị gièm pha, kỷ luật. Toán Hà Lạc nói nói năng làm cho người cảm được.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng quẻ Hàm nên ví với mép, má, lưỡi. Nó là âm nhu ở trong ngoại quái Đoài là vui vẻ, ham cảm người ta bằng miệng lưỡi, không thành thực. Chẳng cần nói cũng biết là đáng chê rồi.
Người mệnh hợp cách có đức, có ngôn luận, hoặc giữ chức việc thuyết đàm, tức giảng dạy, thuyết trình, đàm luận, đàm phán; được lòng bề trên, xứng đáng được quần chúng khen; là người có tài thuyết phục người khác, làm nên sự nghiệp, phúc lộc cao. Người mệnh không hợp cách thì khua môi múa mép, làm loạn đầu óc mọi người, khó tránh lỗi; là kẻ hay gây thị phi, làm loạn dư luận xã hội, không tránh khỏi bị chê trách, bị kỷ luật.
Về vận hạn: quan chức phòng bị dèm pha, trách cứ; kẻ sĩ nên thử làm khách du thuyết, như thuyết khách đời xưa, như các chuyên gia đàm phán ngày nay, hoặc làm dịch vụ, công nghệ; lời bình luận thường dễ bị báng bổ, hủy hoại.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
