Bài tổng quan
Sơn Lôi Di: dưới núi có sấm, cái miệng nuôi thân và nuôi đức
Cái cằm của người ta giống hệt quẻ này: trên dưới đặc, giữa trống không, một bên ngăn lại, một bên cựa động. Có kẻ bỏ rùa thiêng đi nhòm miếng ăn người khác, có kẻ nhờ vả đảo lộn trên dưới, và có người gánh việc nuôi cả thiên hạ... Vậy cùng là nuôi, vì sao kết cục lại khác nhau một trời một vực?
Mục lục · 8 phần
- 01Di là nuôi: dưới núi có tiếng sấm
- 02Cái cằm, cái miệng và hai cách nuôi
- 03Hào sơ cửu: bỏ rùa thiêng, xệ mép nhìn miếng ăn của người
- 04Hào lục nhị: đảo ngược cách nuôi, trông gò cao mà đi thì xấu
- 05Hào lục tam: nuôi trái đạo thì mười năm cũng chớ dùng
- 06Hào lục tứ: đảo ngược mà vẫn tốt, mắt hổ nhìn đăm đăm
- 07Hào lục ngũ: trái lẽ thường, giữ chính thì tốt, chớ qua sông lớn
- 08Hào thượng cửu: do mình mà có cái nuôi, nguy nhưng tốt
Di là nuôi: dưới núi có tiếng sấm
Quẻ số hai mươi bảy là Sơn Lôi Di, tiết khí tháng Tám. Di nghĩa là dưỡng, là nuôi. Trên là Cấn, là núi; dưới là Chấn, là sấm.
Sơn hạ hữu lôi, Di. Quân tử dĩ thận ngôn ngữ, tiết ẩm thực.
Lời Tượng nói dưới núi có sấm là quẻ Di, tức nuôi. Người quân tử nhìn quẻ này mà cẩn thận lời nói, tiết độ ăn uống.
Cái cằm, cái miệng và hai cách nuôi
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán bảo nuôi đúng chính đạo thì tốt; cứ xem cách nuôi người và cách tự nuôi mình thì biết tốt hay xấu. Suy rộng ra, trời đất khéo nuôi vạn vật nên vạn vật sinh sôi nảy nở; thánh nhân nhìn đó mà dùng người hiền để giúp mình nuôi dân chúng. Cái đạo nuôi lớn như vậy. Lời Tượng đưa thêm một ý: dưới núi có tiếng sấm, khí dương bắt đầu phát, vạn vật trong núi được phát triển, ấy là trời đất nuôi vạn vật. Người quân tử nhìn đó mà tự nuôi mình, biết cần cẩn thận về lời nói để nuôi đức, tiết độ về ăn uống để nuôi thân thể.
Phan Bội Châu giảng: chữ Di có hai nghĩa. Một nghĩa thuộc động từ là nuôi, như dưỡng tâm, dưỡng đức, dưỡng sinh; một nghĩa thuộc danh từ là cái cằm, cái miệng của người. Coi tượng quẻ thì thấy dưới là Chấn, trên là Cấn; một nét dương ở dưới đỡ hết, một nét dương ở trên trùm hết, ở giữa ngậm bốn hào âm; ngoài đặc, chính giữa trống không, trên thì ngăn lại, dưới thì động, y như cái miệng và hai mép của người. Vì miệng dùng để ăn uống nuôi thân nên Di còn có nghĩa là nuôi.
Nuôi có nuôi tinh thần, như đạo đức, trí thức, chí khí; có nuôi thân xác, như vật chất, cơ thể, hình thức bên ngoài. Bất luận người nào cũng có hai phần nuôi ấy. Nhưng nuôi lại có đường lối chính và đường lối bất chính. Nuôi linh hồn theo lối mê tín, huyền hoặc là bất chính. Nuôi xác thịt theo cách nô lệ, hèn hạ, hủy hoại lương tâm cũng là bất chính.
Ông chú thêm rằng quân tử và tiểu nhân khác nhau chính ở chỗ này: một bên ăn cho sướng miệng là phần nhẹ, đạo nghĩa là phần nặng; một bên ăn cho sướng miệng quá chừng trọng, đạo nghĩa quá chừng khinh. Lối nuôi vốn chỉ chừng ấy mà kết quả khác nhau một trời một vực.
Chỉ một chữ Di mà trời đất, thánh nhân đều bao bọc trong đó: trời đất nuôi vạn vật, thánh nhân nuôi người hiền để người hiền đến với vạn dân. Quân tử xem tượng quẻ Di mà nghĩ cách nuôi thân, gom lại trong hai chữ thận và tiết, cẩn thận việc nói năng, tiết độ việc ăn uống. Tục ngữ Trung Hoa có câu: tai vạ từ trong miệng phun ra, tật bệnh từ ngoài miệng nuốt vào. Nhưng chữ thận và chữ tiết có ý nghĩa rất sâu xa. Bảo thận, đâu phải bảo người ta ngậm miệng không nói; nói mà hợp đạo lý, hợp lòng người thì mới nói, như bài sớ xin chém bảy người nịnh thần của thầy Chu Văn An, đó là thận rất mực. Bảo tiết, đâu phải bảo kén ăn lựa uống; vì ăn mà hoại danh tiết, họa cho nước nhà thì không thèm ăn, như ông Bá Di, Thúc Tề không ăn lúa nhà Chu, đó là tiết rất mực.
Về dự báo, quẻ Di chỉ vận thế bề ngoài tốt nhưng thực chất khó khăn, như hình của quẻ: số đông bị kẹt giữa hai thế lực cứng rắn. Cơ hội không thuận lợi, sự nghiệp khó thành. Tài vận không đến; kinh doanh khó khăn, ai biết điều tiết hành động thì còn có cơ may thành công; thi cử khó đạt; xuất hành bất lợi; tình yêu hôn nhân long đong, gặp nhiều trở ngại.
Hào sơ cửu: bỏ rùa thiêng, xệ mép nhìn miếng ăn của người
Hào dương, hào xấu. Hào từ nói bỏ con rùa thiêng của ngươi, nhìn ta mà xệ mép thèm thuồng, thế là xấu.
Hào ngụ ý bỏ phẩm giá của mình để dòm ngó người khác quá mức là xấu. Đó là tính vị kỷ, vụ lợi, tham nhũng, đắm mê tửu sắc, hay gây tranh cãi, kiện cáo.
Nguyễn Hiến Lê giảng: quẻ nội là Chấn, nghĩa là động, nên cả ba hào đều diễn ý đi cầu cạnh người. Hào một dương cương, khôn lanh, nhưng ứng với hào bốn âm có thế lực ở trên, bám theo âm đến nỗi bỏ cả con rùa thiêng, là giống chỉ nuốt linh khí mà sống. Ý nói bỏ phần linh thiêng, phần linh hồn, mà thèm thuồng cầu ăn nơi người khác, nơi hào bốn, để nuôi xác thịt mà quên phần tinh thần, như vậy rất xấu. Nói xệ mép xuống là lời khinh miệt. Đây là lời của hào bốn nói với hào một bằng giọng khinh khi, nên gọi hào một là ngươi. Thánh nhân giận cho hào một mà đặt lời hào như thế.
Phan Bội Châu nhắc rằng tục ngữ ta có câu miếng ăn là miếng nhục, cũng hợp với nghĩa xấu của hào này.
Người mệnh hợp cách thì nhờ người để lập thân nơi khác, nhưng vì hay nhờ vả mưu lợi riêng, tham lạm nên được ít mất nhiều. Người mệnh không hợp cách thì bất nghĩa, tham ô, có hại.
Về vận hạn: quan chức nhục vị, tham nhũng; kẻ sĩ hoang dâm, bị chê cười, nhưng học trò thì được lương ăn; người thường bội ngược, tranh giành của cải, có hại. Đại để cứ giữ chính đạo thì tốt.
Hào lục nhị: đảo ngược cách nuôi, trông gò cao mà đi thì xấu
Hào âm, hào xấu. Hào từ nói đảo ngược sự nuôi thì trái lẽ thường, nhờ hào một nuôi; trông vào gò cao để nuôi mà tiến đi thì xấu, là nhờ hào trên cùng nuôi.
Điên di, phất kinh; vu khâu di, chinh hung.
Như người nuôi dưỡng không đúng cách sinh nguy bại. Thời vận xấu thì viên chức dễ bị kỷ luật, truất giáng; kẻ sĩ dễ bị tai tiếng; nhà buôn thua lỗ; người thường ốm đau, bệnh nặng. Toán Hà Lạc nói cầu người nuôi không đúng chỗ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm nhu không đủ sức tự nuôi mình nên phải cầu ăn với hai hào dương là hào một và hào sáu. Nhưng hào một ở dưới mình, như vậy là người trên đi xin ăn người dưới, đảo lộn, trái lẽ thường. Còn cầu hào sáu dương ở trên cùng, ví như cái gò cao, thì hào này không ứng với hào hai, nên hào hai sẽ bị từ chối, bị khinh mà mắc nhục. Cần lưu ý rằng theo thường lệ hào này đắc trung, đắc chính, xem ra có vẻ tốt, vậy mà ở đây lại xấu. Vì nghĩa quẻ là nuôi dưỡng, mà hào này lại không đủ sức tự nuôi mình.
Phan Bội Châu cho rằng đó là lẽ tùy thời của Dịch. Thời quẻ Di quý nhất là nuôi người hoặc tự nuôi mình. Hào hai âm nhu, không có tài nuôi người, lại không đủ sức tự nuôi, ở vào thời Di thì tất nhiên phải xấu.
Người mệnh hợp cách giữ điều chính mà kiên nhẫn nuôi thân dưỡng tính, hoàn thành sự nghiệp, tuy gặp khó khăn nhưng vượt qua được. Người mệnh không hợp cách thì thay đổi bất định, kiêu căng, hợm hĩnh, coi thường người trên, tâm thân bất định, gặp nhiều gian nan.
Về vận hạn: quan chức và kẻ sĩ phòng bị truất giáng, khiển trách, nhục; người thường tiến thoái, thị phi không dứt, xấu quá có thể bệnh nặng đến nguy.
Hào lục tam: nuôi trái đạo thì mười năm cũng chớ dùng
Hào âm, hào xấu. Hào từ nói trái với đạo chính của sự nuôi, xấu; mười năm cũng chớ dùng, chẳng có lợi gì.
Phất di trinh, hung, thập niên vật dụng, vô du lợi.
Hào ngụ ý nuôi dưỡng trái phép, trái đạo thì thành vô dụng. Quan chức, kẻ sĩ không gặp thời, dễ mang tiếng xấu hoặc làm trái đạo thường, thất bại, gian nan. Toán Hà Lạc nói cách nuôi trái đạo.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, bất trung, bất chính, lại hay động vì ở trên cùng quẻ Chấn, không chịu ngồi yên, thấy đâu có ăn là đến, rất xấu. Hai chữ mười năm cũng giống như ở hào cuối quẻ Phục, nghĩa là cho đến kết cục.
Người mệnh hợp cách mà biết sửa lỗi, bỏ những thèm khát thì có thể làm được việc quy mô nhỏ. Người mệnh không hợp cách thì trái nghĩa, mất tín nhiệm, thân và nhà bị phá tổn, khuynh gia bại sản.
Về vận hạn: người thường hoang đàng, hỏng việc, khổ sở.
Hào lục tứ: đảo ngược mà vẫn tốt, mắt hổ nhìn đăm đăm
Hào âm, hào tốt. Hào từ nói đảo ngược sự nuôi mà vẫn tốt; mắt hổ nhìn chằm chằm, lòng ham muốn rộn rập, nhưng không có lỗi.
Điên di, cát. Hổ thị đam đam, kỳ dục trục trục, vô cữu.
Hào ngụ ý nuôi dưỡng đức của con người đôi khi phải làm trái phép thường, như dạy hổ. Là hào tốt, có cơ may thăng tiến, thành danh; được quý nhân phù trợ; kinh doanh phát đạt. Số xấu thì dễ bị tai tiếng, bị kỷ luật. Toán Hà Lạc nói dùng người hiền để nuôi dân.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu đắc chính, ở địa vị cao, được hào năm chí tôn tương đắc với mình vì cùng là âm, lại có hào một dương ứng với mình. Như vậy là người trên biết trọng nghĩa, biết hạ mình cầu người ở dưới, là hào một, nuôi mình. Tuy trái lẽ thường nhưng vì là người tốt, đắc chính, cầu hào một giúp mình để sau còn giúp đỡ dân chúng, nên không lỗi. Có điều phải nhất quán, hết lòng, không ngừng, như mắt hổ nhìn đăm đăm, ham muốn không nguôi, cứ tiếp tục cầu hào một ứng giúp thì mới có kết quả không lỗi. Khái niệm nuôi ở hào này là nuôi về tinh thần chứ không phải về thể xác.
Phan Bội Châu bàn: hào hai cầu nuôi trái nghĩa, hào bốn cũng cầu nuôi trái nghĩa, đều là kẻ trên cầu người dưới nuôi mà cát hung khác nhau là cớ sao? Bởi hào hai vốn cầu nuôi về phần cái miệng ăn, còn hào bốn vốn cầu nuôi về phần đức nghĩa. Hào hai giống như Ngu công cầu ngọc nơi Ngu thúc; hào bốn giống như vua Thành Thang cầu tài đức nơi ông Y Doãn. Cùng là kẻ trên cầu người dưới mà cát hung khác nhau; đó là chân lý của Dịch học.
Người mệnh hợp cách có tài lớn, dụng được trong việc hòa bình, cải cách, dẹp tà lập chính, đem lại hòa bình, phồn vinh cho dân, phúc lộc nhiều. Người mệnh không hợp cách thì điên đảo, ham muốn dồn dập, tốn tài phá gia, hoặc bị hổ đuổi, sống vất vả; đó là kẻ hay chơi bời, phá gia chi tử.
Về vận hạn: quan chức được trên mến; kẻ sĩ tiến thủ, nên danh; người thường được quý nhân giúp đỡ, toại nguyện.
Hào lục ngũ: trái lẽ thường, giữ chính thì tốt, chớ qua sông lớn
Hào âm, hào tốt. Hào từ nói trái lẽ thường, ở yên giữ chính thì tốt, nhưng không thể vượt sông lớn, vì đó là việc gian nan.
Phất kinh, cư trinh cát, bất khả thiệp đại xuyên.
Như có quý nhân phù trợ nên được hưởng phúc lộc tự nhiên. Quan chức nhiều cơ may thăng tiến, không cần lao tâm khổ tứ; kẻ sĩ gặp thời, thi đỗ, được trọng dụng; người thường cũng gặp nhiều may mắn. Nhưng nên đề phòng tai nạn sông nước. Toán Hà Lạc nói làm bậc nguyên thủ mà phải cậy người khác nuôi dân giúp mình.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này như một vị nguyên thủ có trách nhiệm nuôi người, nhưng vì âm nhu, kém tài nên phải nhờ người, là hào trên cùng, nuôi mình tức giúp đỡ mình. Tuy trái lẽ thường nhưng cứ bền chí giữ đạo chính thì tốt, vì nhờ người khác giúp đỡ mà mình làm trọn nhiệm vụ nuôi dân. Song vì tài kém, làm việc lớn gian hiểm không nổi nên lời hào khuyên không thể vượt sông lớn.
Người mệnh hợp cách hưởng phú quý sẵn có hoặc nhờ tổ nghiệp; gặp thời gặp may tự nhiên được chức vị cao sang, hưởng phúc lộc do người trước làm sẵn. Người mệnh không hợp cách thì bình sinh tân khổ, gian nan nhưng sau được người giúp đỡ làm nên sự nghiệp.
Về vận hạn: quan chức nhờ người mà thành công mới giữ nổi địa vị; kẻ sĩ được đề cử, làm việc nhỏ; người thường có chỗ nhờ vả, đạt được chí, nhưng phòng sông nước.
Hào thượng cửu: do mình mà có cái nuôi, nguy nhưng tốt
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói do mình mà có cái nuôi, tuy nguy nhưng tốt, lợi cho việc vượt sông lớn.
Do di, lệ cát, lợi thiệp đại xuyên.
Hào có ý nói nuôi được người, lại biết lo liệu, có thể gánh việc lớn. Gặp thời vận thì quyền cao chức trọng; kẻ sĩ đỗ đạt cao, giàu sang phú quý. Toán Hà Lạc nói có quyền có vị, làm việc lớn của đất nước.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, ở trên cùng, như bậc làm thầy cho vị nguyên thủ. Vị nguyên thủ nhờ mình mà nuôi được thiên hạ, thì cũng như chính mình nuôi thiên hạ. Trách nhiệm lớn như vậy nên phải thường lo lắng, sợ hãi, rất thận trọng thì mới được tốt lành; mà thiên hạ được phúc lớn. Hào này dương cương, có tài, không như hào năm, nên hào năm không qua được sông lớn, còn hào này thì qua được, nghĩa là làm được những việc gian nan hiểm trở.
Phan Bội Châu chú thêm: sáu hào quẻ Di, ba hào dưới là nhờ người nuôi mình, ba hào trên là có trách nhiệm phải nuôi người. Vì thế ba hào trên đều được cát. Hào năm âm sở dĩ được cát là vì nuôi người hiền để người hiền đến với nhân dân. Hào năm nhờ hào trên cùng mà được cát, nên đến hào trên cùng thánh nhân khen là có phúc lớn. Xưa nay tâm sự của bậc thánh hiền là lấy họa phúc của thiên hạ làm họa phúc của mình.
Ông dẫn lời một vị tiên nho là Phạm Văn Chính: kẻ sĩ lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Lo trước đúng với chữ nguy trong lời hào, vui sau đúng với chữ phúc lớn trong lời Tượng. Người học Dịch nên mở lòng cho rộng, phóng mắt cho xa, chớ bo bo chỉ cầu nuôi cái miệng như ba hào dưới quẻ Di; dù thánh nhân không nói là hung, chúng ta cũng nên lấy làm xấu hổ.
Người mệnh hợp cách vị tôn đức trọng, chăm lo việc nước, công danh để đời, phúc trạch bền lâu; đó là người có tài đức, lo cho dân no ấm. Người mệnh không hợp cách cũng hưởng phúc thọ, được người đời ngưỡng vọng, có địa vị trong xã hội, được dân trọng, phúc lộc nhiều.
Về vận hạn: quan chức quyền cao chức trọng; kẻ sĩ đỗ cao; người thường kinh doanh hoạch lợi.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
