Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thủy Thiên Nhu: nghệ thuật chờ đợi khi mây đã phủ kín trời

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Thủy Thiên Nhu: nghệ thuật chờ đợi khi mây đã phủ kín trời

Nín nhịn năm phút mà thắng được, vội vàng một nhịp mà hỏng cả việc. Người đứng trước sông lớn vẫn phải có tiền sẵn trong lưng để trả cho người chèo đò... Chờ đợi thế nào mới gọi là khôn?


Nhu: mây đã lên trời, hãy đợi mưa

Quẻ số năm là Thủy Thiên Nhu, được xếp vào quẻ tốt, tiết lệnh thuộc tháng Tám. Nhu có nghĩa là thuận, là mềm dẻo, là đợi chờ thời cơ. Quẻ ngoại là Khảm tượng nước, cũng hiểu là mây; quẻ nội là Càn tượng trời. Mây đã bao kín bầu trời, thế nào cũng mưa.

Mây lên trên trời là quẻ Nhu, sắp mưa, hãy đợi. Người quân tử coi đây mà cứ ăn uống an vui.

Ăn uống an vui ở đây chính là tu dưỡng thân thể và tinh thần để chờ thời cơ. Cứ vui vẻ nuôi dưỡng mình, đợi lúc mưa xuống. Chữ Nhu mang ba nghĩa: nghĩa thứ nhất là chờ đợi; nghĩa thứ hai là thức ăn, sự ăn uống, vì ăn uống là điều cần thiết trong những nhu yếu phẩm; nghĩa thứ ba là do dự, nhưng nghĩa này không dùng trong quẻ Nhu.

Lời bàn xưa giải thích: đức của sự chờ đợi là ở chỗ gặp một việc gì, chỉ cần nín nhịn trong năm phút là cuối cùng thắng lợi. Phải tính toan thật lành rồi sau mới động, động cho đúng với thời khắc. Không vì mình cương kiện mà nóng vội làm hỏng việc, khôn khéo là ở chỗ ấy. Nói ăn uống yến lạc không có nghĩa là rượu chè hát xướng: chờ đợi chỉ là chờ trong chốc lát, nhưng trước khi chờ đợi, mọi thứ đã sắp đặt sẵn sàng, chứa trữ đầy đủ. Đó chính là tượng quẻ Nhu.

Cần thì cứng mạnh và muốn tiến lên, nhưng gặp chỗ Khảm hiểm chưa thể tiến được, cho nên nghĩa là chờ đợi. Hào làm chủ quẻ là hào năm dương, ở vị chí tôn, lại trung chính, cho nên có tượng thành thục, tin tưởng, sáng sủa, hanh thông. Miễn là chịu chờ đợi thì việc hiểm gì cũng vượt được mà thành công. Như người toan qua sông lớn còn phải chờ gặp thuyền; có tiền sẵn trong lưng để trả là có niềm tin; đón cho đúng bến, lên cho đúng thuyền là chính; qua được sông, lên được bờ là tốt lành.

Sinh tháng nào thì chờ mà được

Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Nhu vào các tuổi Giáp và Nhâm ứng với các chi Dần, Thân, Thìn, Tuất. Người có quẻ này sinh vào tháng Sáu mà lại được số âm dương thuận thì tốt; nếu sinh vào tháng Tám là cách phú quý. Hào Nguyên Đường đẹp là số tốt, công danh dễ thành đạt cao. Được số âm dương, Nguyên Đường, quẻ và hào đều hợp cách thì đúng là số rất tốt.

Bức tranh chung: còn phải đợi, nôn nóng là sa vào hiểm

Thời vận sắp tới còn phải chờ đợi một thời gian ngắn nữa, lúc đó triển khai công việc thì dễ thành công. Nôn nóng là sa vào nguy hiểm.

Tài vận và công danh: trước mắt còn phải kiên trì nhưng hậu vận rất tốt. Chọn nghề: nhận chức chưa nên vội, hãy chờ một thời gian nữa. Thi cử: dễ đỗ đạt. Kiện tụng: nếu nhẫn nại thì về sau sẽ thắng. Hôn nhân: luyến ái trước mắt chưa nên vội vàng kẻo hỏng việc, nên chậm lại một thời gian nữa vì có duyên nhưng chưa hợp thời.

Hào sơ cửu: đợi ở nơi đất rộng ngoài xa

Đợi ở nơi đất rộng xa, giữ nếp hằng thì có lợi, không lỗi gì. Hào này không hợp thời vận, khó thăng tiến phát đạt; ý hào là đợi nơi đất rộng, tức không nên đi vào nơi nguy hiểm. Dùng đạo hằng có ý khuyên nên kiên trì, vững tâm, không dao động. Nôn nóng dễ dẫn đến tai vạ. Sự hiểm trở còn xa nên chưa nên biến đổi gì.

Hào một là dương cương, kiện, sáng suốt mà ở xa quẻ ngoại là Khảm, tức xa nước, xa chỗ hiểm. Đừng nóng nảy xông vào chỗ hiểm nạn, cứ chịu chờ đợi thì không lỗi. Giữ nếp hằng nghĩa là giữ nếp thường ngày, bình thường. Chớ thấy mình ở xa chỗ hiểm mà vội vàng khinh tiến, thế mới được vô cữu.

Mệnh hợp cách: thanh liêm, công chính, giữ chức, nhà ở đất xa ngoài thành thị; thường là người kiên nhẫn, thanh liêm, còn có cơ may thăng lợi. Mệnh không hợp cách: ẩn dật nơi núi rừng, hưởng lộc tùy phận tùy duyên, không dính dáng vào đường vinh nhục, hỷ nộ của áng công danh; thường là người ẩn dật, tu hành không dính líu đến công danh.

Vận hạn: quan chức nên an thường thủ phận; học trò tiến bước bằng đường đi vòng ngoài, cũng đi tới nhưng không thoái chí; người thường nên giữ phận thường để tránh tai hại, người mất táng nơi nghĩa địa xa.

Hào cửu nhị: bãi cát gần sông, chút tiếng rồi tốt

Hào hai xấu ở giai đoạn đầu, như ý hào muốn nói: sự việc lúc đầu bao giờ cũng bị chê bai, nhưng sau thì tốt. Thời cơ chưa đến, nhưng kiên trì thì sau sẽ tốt. Đợi ở nơi bãi cát, có chút điều tiếng, sau mới tốt; bãi cát là nơi gần quẻ Khảm hiểm trở. Người có phận sự đã bắt đầu tiến bước, trước khó khăn, sau được.

Hào này đã gần quẻ Khảm hơn, ví như tới bãi cát gần sông, chưa tới nỗi sụp hiểm. Lại đắc trung nên tuy là dương cương mà biết khôn khéo, ung dung, không nóng nảy như hào một, cho nên dù có điều tiếng nho nhỏ, rốt cuộc vẫn tốt.

Chữ trung có hai nghĩa: vừa cân (ở giữa) và vừa đúng. Trung nghĩa là vẫn nhiệt tâm mà không quá nóng, vẫn trầm tĩnh mà không quá nguội, vẫn cẩn thận mà không phải hồ nghi, vẫn thong dong mà không phải chậm trễ. Thời chưa đến, ai thúc ta cũng không đi; thời đến rồi, ai kéo lại ta cũng cố tới, đủ các phương diện ấy là đúng nghĩa chữ trung. Xử sự vào thời Nhu, không gì hay hơn. Vì vậy chữ trung của hào hai dương trong thời Nhu đi đôi với chữ cát.

Mệnh hợp cách: gặp quý nhân thì làm nên sự nghiệp, thuận lợi, dễ đạt. Mệnh không hợp cách: là người bôn tẩu giang hồ, múa lưỡi khua môi; tuổi trẻ được học hành nhưng muộn tuổi mới được hưởng phúc, hay bị chê bai, bôn tẩu, gian nan, dễ bị tranh chấp kiện tụng.

Vận hạn: quan chức bị dư luận xuyên tạc; học trò thi thố tài văn, bị trách cứ nhưng sau cũng thanh thản; người thường bị điều tiếng, thưa kiện, tranh chấp rắc rối. Đại để việc gì cũng nên thong thả đợi quý nhân, tự nhiên sẽ có cách giải quyết.

Hào cửu tam: đợi giữa bùn lầy, tự vời giặc đến

Gặp hạn thì dễ bị kiện cáo, kỷ luật, hình phạt. Người thường cần đề phòng tai nạn sông nước, trộm cướp. Đợi ở chỗ bùn, tự vời giặc đến, nghĩa là đã gần nơi hiểm trở rồi. Bản thân đã đi tới gần hiểm trở, phải tự giữ mình.

Hào này ở sát quẻ Khảm, tuy chưa sụp xuống nước nhưng đã ở chỗ bùn lầy rồi. Thể của nó là dương cương, vị cũng là dương, mà không đắc trung, có tượng rất táo bạo, nóng nảy, làm càn, tự vời giặc đến, tự gây tai họa cho mình. Nếu nó biết kính cẩn, thận trọng thì chưa đến nỗi nào, vì tai họa vẫn còn ở ngoài. Kính là cung kính trong lúc bình thường, thận là cẩn thận khi lâm sự.

Mệnh hợp cách: dù có lợi danh vẫn cứ nơm nớp lo buồn, khư khư không sao thoát được cảnh trần ai lận đận; cũng gặp gian nan, luôn luôn lo buồn, tuy có danh vọng lớn. Mệnh không hợp cách: quen thói ngang ngạnh, thân đi vào hiểm trở, chẳng nghe lời ngay, tin miệng nói xằng, nên bị lao đao ở nơi chông gai rậm rạp; tính khí ngang tàng, dễ làm liều, lao vào nơi nguy hiểm.

Vận hạn: quan chức bị bãi giáng; học trò bị hạ nhục, không ngoi lên được; người thường phòng trộm cướp, bóc lột; đi thuyền phòng sóng gió, chìm đắm.

Hào lục tứ: đợi nơi đổ máu mà thoát khỏi hang hiểm

Có tai họa nên đề phòng, có tang phục, ốm đau, phụ nữ đẻ khó. Đợi ở nơi đổ máu nhưng thoát khỏi hang hiểm. Nên biết tránh tai họa.

Hào này đã bắt đầu vào quẻ Khảm, tức chỗ hiểm như vào nơi giết hại. Nhưng nhờ nó là âm, nhu thuận lại đắc chính (ở vị âm) nên tránh được họa.

Mệnh hợp cách: có tài đức, biết thời cơ, ra khỏi hiểm trở một cách vui vẻ, nhờ đó thân được an toàn; có tài đức, mưu lược, có thể thoát hiểm ngay giữa nơi nguy hiểm. Người thường nếu cẩn thận phòng tránh thì có oan được giải, mất của tìm được, ốm nặng thoát chết, nhưng cũng không đạt được mong muốn. Mệnh không hợp cách: bỏ người thân, gần người sơ, rời nhà đi lang thang; bé mồ côi cha mẹ, lớn già làm gia nô cho nhà phú hào; là kẻ cơ nhỡ, côi cút, làm gia nô cho người.

Vận hạn: quan chức toàn được thân, tránh tai hại, chẳng vinh chẳng nhục; học trò ở đại học thì thành danh, ở trung học thì chưa toại chí; người thường bị thương tổn rồi bình phục dần; tù nhân được thả hoặc phân tán, bị giam lâu được minh oan; người đi xa hết bị ràng buộc ở quê người; mệnh nữ thì đẻ khó, băng huyết hoặc có tang phục; mệnh xấu thì nên lùi về nơi vắng vẻ, có thể bị roi vọt đánh đập.

Hào cửu ngũ: đợi nơi cơm rượu, giữ chính thì tốt

Hào năm dễ thăng tiến trong sự nghiệp, ăn nên làm ra, nhiều phúc lộc, cuộc sống nhiều tiệc tùng. Đợi nơi cơm rượu, cứ an vui thư thái, giữ chính thì tốt. Giữ đạo lâu năm thì việc thành đạt.

Hào năm địa vị tôn quý, lại là dương cương trung chính nên tốt. Nhưng muốn hạnh phúc bền thì phải giữ đức trung chính.

Mệnh hợp cách: đại quý nhân, công danh thành đạt; là quý nhân, công danh thành toại. Mệnh không hợp cách: cũng có tiền rương thóc vựa, hưởng phúc, ít nhất là ăn mặc sung túc; cũng là người phú quý giàu sang, dư ăn thừa mặc. Vận hạn: quan chức được phúc lớn, hưởng phúc cả đời; học trò hiển đạt luôn luôn; người thường vui mừng thóc vải gia tăng, hôn nhân tốt.

Hào thượng lục: ba người khách không mời mà đến

Hào sáu dễ ốm đau, mất cắp. Quan chức đề phòng bị dèm pha, khiển trách, khó thăng tiến. Đối với người biết cúi mình cầu người, được nhiều người che chở, gặp nạn cũng qua. Xấu đối với kẻ kiêu căng tự mãn, mất lòng người, dễ rơi vào tai nạn.

Ý hào khuyên: người không mời mà đến cũng nên kính trọng, đối xử với họ thì khi gặp hiểm nguy cũng có người cứu giúp lại. Vào nơi hang hiểm, có ba người khách thong dong đi lại, kính trọng họ, sau tốt. Đối với người tự dưng đến với mình, càng kính trọng họ thì càng có thể thoát hiểm.

Hào này ở trên cùng quẻ ngoại là Khảm, nên bảo là chỗ cực hiểm. Nó có hào ba ở dưới ứng với nó; hào ba là dương, kéo theo cả hào một và hào hai cũng là dương, nên nói là có ba người khách sẽ tới. Họ không tới ngay được vì ở xa hào sáu, cho nên nói họ nhưng chưa tới ngay. Hào sáu tuy âm nhu mà lên ở vị cao tột, tuy tài không xứng với vị, nhưng biết khiêm tốn, kiên trì, kính trọng những bạn dương cương thì cũng chưa đến nỗi thất bại lớn.

Mệnh hợp cách: có học, trước cần cù, sau sẽ tốt; bé thì mãi ham công danh, già thì ẩn dật nơi hang núi; thân người hiền, đối với người thiện không nản lòng; là những bậc có đức có tài, biết chiêu hiền đãi sĩ, có thể vượt qua hiểm nguy. Mệnh không hợp cách: nên giữ phận mình, khiêm tốn, ắt được quý nhân cứu thoát hiểm nguy; dễ rơi vào vòng cô độc hiểm nguy.

Vận hạn: quan chức được gọi về trung ương, nên cẩn thận, dễ bị dèm pha; học trò được vào đại học, cũng dễ bị hiềm nghi; người thường ở mà cũng còn tai ách bất kỳ, nói chung nên thận trọng; số xấu nhẹ thì sửng sốt, ngạc nhiên, nặng thì giảm thọ.

Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc