Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Địa Lôi Phục: sấm nằm trong đất, dương đã đi xa nay trở lại

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/20268 phút đọc3 lượt đọc
Địa Lôi Phục: sấm nằm trong đất, dương đã đi xa nay trở lại

Giữa mùa đông, cửa quan đóng, lái buôn nghỉ chân, vua cũng chẳng đi tuần, vì tận đáy đất một tiếng sấm nhỏ vừa nhú lên. Có người quay về từ rất sớm, có người quay về năm lần bảy lượt, có người đứng lẻ loi giữa bầy âm, và có kẻ mê đến cùng... Vậy trở lại thế nào mới thật là trở lại?


Phục là trở lại: sấm nằm giữa lòng đất

Quẻ số hai mươi bốn là Địa Lôi Phục, thuộc hàng quẻ bình, tiết khí tháng Mười Một. Phục nghĩa là phản, là trở lại. Trên là Khôn, là đất; dưới là Chấn, là sấm.

Lôi tại địa trung, Phục. Tiên vương dĩ chí nhật bế quan, thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh phương.

Lời Tượng nói sấm ở trong đất là quẻ Phục. Bậc tiên vương lấy ngày Đông Chí làm ngày đóng cửa quan: lái buôn và khách đi xa không lên đường, vua cũng không đi xem xét các địa phương. Toán Hà Lạc nói người sinh vào tháng Mười Một thì là cách công danh phú quý.

Một dương sinh ra dưới năm âm

Phan Bội Châu giảng: quẻ này có một hào dương ở dưới, năm hào âm ở trên; âm đã thịnh đến cực ở phía trên, mà dương lại phục sinh ở phía dưới. Đó cũng là đạo của tiểu nhân thịnh đến cực thì phải tiêu dần, đạo của quân tử suy đến cực thì phải lớn dần. Dương đã đi xa lâu ngày, nay trở lại là thiên đạo mang tượng hồi xuân, khí thế hanh thông, thân thể kiện toàn, sự nghiệp hoàn thiện; đó là vận trời.

Hào sơ cửu: chẳng đi xa đã trở lại, tốt nhất

Hào dương, hào tốt. Hào từ nói chẳng đi xa đã trở lại, không có điều hối lớn, rất tốt. Chỉ người biết thận trọng trong việc làm, tiến lui đúng lúc. Có nhiều cơ hội thành đạt, thăng tiến; kẻ sĩ gặp thời; kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc nói lòng ở nơi việc thiện, tiến trên đường đạo, ngày nay có thể hiểu là con đường lý tưởng mình đã chọn.

Bất viễn phục, vô kỳ hối, nguyên cát.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào ở đầu quẻ Phục tượng cho một người đầu tiên trở lại với đạo, biết tu thân, nên rất tốt.

Người mệnh hợp cách có tài lớn, tiến hay dừng đều hợp lý, khai sáng cơ nghiệp, phúc trạch dành cho người sau. Người mệnh không hợp cách thì chuyên tu tính, không cần văn vẻ, vui với lẽ sống đã chọn.

Về vận hạn: quan chức vị cao, gần bậc nguyên thủ; kẻ sĩ đỗ cao; người thường kinh doanh đắc lợi.

Hào lục nhị: trở lại một cách đẹp đẽ

Hào âm, hào tốt. Hào từ nói trở lại một cách đẹp đẽ, tốt. Gặp cơ may, vượt qua được tai nạn; có oan thì được giải, ốm đau thì chữa khỏi. Toán Hà Lạc nói người trở lại với điều thiện là người thiện như chính mình.

Hưu phục, cát.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, trung chính, vốn đã tốt, lại ở sát hào một là người quân tử, tức người biết tu tỉnh, khắc kỷ, trở về đạo nhân nghĩa, nên tuy là âm mà vẫn tốt lành.

Phan Bội Châu chú thêm: quẻ Phục miêu tả cái tâm sinh vật của trời đất, mà tâm sinh vật ấy chính là đức nhân. Trong lời Tượng của ba trăm tám mươi bốn hào, chỉ riêng hào này có chữ nhân, nghĩa là người. Bởi hào một dương của quẻ Phục chính là hào dương làm gốc cho sinh vật trong trời đất, nên thánh nhân đặt chữ nhân vào hào hai này, muốn cho ta biết đúng cách làm người thì phải giữ đức nhân. Cũng như hạt mầm nảy ra cây, nên ta gọi hạt cây bằng chữ nhân: nhân đào, hạnh nhân. Chính từ lẽ ấy.

Người mệnh hợp cách ngay thẳng, không kiêu, lập công, hưởng phúc. Người mệnh không hợp cách thì yên phận nghèo, cuộc sống ổn định, có tuổi thọ.

Về vận hạn: quan chức được phục chức; người thường là hạng phú hào, lâm nguy được yên, bệnh khỏi, nghỉ hưu.

Hào lục tam: trở lại nhiều lần, tưởng nguy mà không lỗi

Hào âm, hào bình. Hào từ nói trở lại nhiều lần, tuy nguy nhưng không có lỗi. Như người luôn phạm sai lầm nhưng cũng luôn biết sửa theo lẽ phải, nên không gặp gian nan lớn, nhưng cũng không làm nên việc lớn. Toán Hà Lạc nói cải lỗi nhiều lần mà không hối thẹn.

Tần phục, lệ, vô cữu.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này bất trung, bất chính, lại ở cuối quẻ nội, mà Chấn nghĩa là động. Nó ví như người không bền chí, theo đường thiện chẳng được lâu, sửa lỗi rồi lại phạm lỗi trở lại. Thế là nguy; nhưng người ấy biết quay về điều thiện, sửa đi sửa lại nhiều lần, nên rốt cuộc không có lỗi.

Người mệnh hợp cách tuy sửa đổi theo điều thiện nhưng chưa phải bậc quý nhân, lúc tiến lúc thoái, dễ sinh miệng tiếng. Người mệnh không hợp cách muốn cầu cái dễ trong cái khó, cái ngắn trong cái dài, nên uất ức.

Về vận hạn: quan chức khó ổn định; người thường muốn hanh thông thì chậm, trở đi trở lại, nghi hoặc, làm lẫn.

Hào lục tứ: một mình trở về giữa đám đông

Hào âm, hào tốt. Hào từ nói đi giữa đường chính, một mình trở lại với đạo lý giữa đám tiểu nhân là năm hào âm. Đó là người trung chính làm nên việc, nhưng phải xa nhà, số cô độc, ít bạn bè. Toán Hà Lạc nói cái đẹp là không ám muội giữa đám tiểu nhân.

Trung hành độc phục.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, đắc chính, đứng giữa các hào âm, nhưng chỉ riêng nó ứng với hào một dương, là quân tử, nên lời hào khen là một mình biết theo đường thiện.

Phan Bội Châu chú rằng thánh nhân không bảo là tốt lành, cũng không bảo là không lỗi, chỉ khen là đi một mình, có thâm ý lắm. Một con phượng giữa bầy cú, một hòn ngọc giữa chòm đá, đâu chắc đã đổi được hoàn cảnh mà gọi là tốt lành; nói là dữ thì cũng không phải. Nên chỉ khen hai chữ một mình. Hơn thua chưa biết, bậc hiền nhân quân tử chỉ biết theo điều phải mà thôi.

Người mệnh hợp cách tuy ở thời loạn, ô trọc, vẫn một mình giữ được đạo chính, hưởng lộc trong lành. Người mệnh không hợp cách thì làm khách đường xa, đi lính đóng nơi xa, cô độc.

Về vận hạn: quan chức được phục chức; kẻ sĩ nổi danh; người thường hoạch lợi.

Hào lục ngũ: đôn hậu trở lại, chẳng có gì phải ăn năn

Hào âm, hào tốt. Hào từ nói đôn hậu mà trở lại, không có gì phải hối. Có nhiều cơ may thành đạt, thăng tiến; kẻ sĩ đỗ đạt, tìm được việc, lập được sự nghiệp; kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc nói trở lại đường thiện, với đạo là một.

Đôn phục, vô hối.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này nhu thuận, đắc trung, lại ở ngôi tôn quý, như người có đức dày trở lại với điều thiện, biết tự sửa mình nên không có điều hối hận.

Người mệnh hợp cách là bậc quân tử trung hậu. Người mệnh không hợp cách tuy không phải quý nhân nhưng cũng có ruộng vườn sung túc.

Về vận hạn: quan chức thăng chuyển; kẻ sĩ đỗ đạt, được tiến cử; người thường tích trữ có lời, nhưng phải phòng có tang và lo cho bậc cha.

Hào thượng lục: mê muội không chịu quay về

Hào âm, hào xấu. Hào từ nói hôn mê ở thời phục là xấu; có tai vạ từ ngoài đến, có lỗi từ trong ra; nếu đem quân ra đánh thì cuối cùng thua to, đến nỗi vua nước ấy cũng gặp hung, tới mười năm chẳng tiến lên được nữa. Nội dung hào muốn nói thời thế đã đổi mà vẫn mê muội, không chịu cải tiến, lại dùng quân sự đàn áp, tự chuốc lấy thất bại. Đó là người gặp nhiều thay đổi, gian nan mà vẫn muốn tham quyền cố vị, bị thiên hạ chê cười. Người thường thì vất vả, sự nghiệp khó thành. Toán Hà Lạc nói sau cùng hôn mê không biết trở lại thì xấu.

Mê phục, hung, hữu tai sảnh. Dụng hành sư, chung hữu đại bại, dĩ kỳ quốc quân hung, chí vu thập niên bất khắc chinh.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào trên cùng như kẻ tiểu nhân hôn mê đến cực điểm, không biết quay về, nên bị đủ thứ tai vạ. Nó có thế lực nhất trong đám hào âm vì đứng ở trên cùng, muốn dùng võ lực để đàn áp người, rốt cuộc sẽ đại bại, gây vạ lây cho cả nước, khiến nước không khá lên được. Nói mười năm là ý nói kết cục tới cùng, chứ không nhất định là mười năm.

Người mệnh hợp cách biết đổi lỗi hóa thiện thì vẫn phú quý. Người mệnh không hợp cách thì hôn mê mãi nên mắc tật ách, thường làm tổn hại nhà, hại nước.

Về vận hạn: quan chức tham quyền cố vị thì bị chê; kẻ sĩ bị nhục; người thường nếu cứ mê muội mà biết yên lặng thì an lành, xáo động thì nguy.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc