Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nhập môn

Bài tổng quan

Chủ khí, khách khí và gốc của dịch lệ trong năm

Bói Dịch - Nhập môn03/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Chủ khí, khách khí và gốc của dịch lệ trong năm

Có năm xuân đã lạnh, có năm hạ còn ẩm, có năm đông lại ấm bất thường, và dịch bệnh theo đó mà nổi. Người xưa giải thích rằng đó là cuộc gặp của hai thứ khí: khí nằm yên dưới đất và khí chạy ngang trên trời. Chúng chia thành sáu bộ, và mỗi lần chủ khách đổi ngôi là một lần thời tiết có thể nghiêng…


Mỗi năm trời đất đều đi qua đủ bốn mùa, nhưng không phải năm nào cũng thuận. Có năm xuân đã lạnh, có năm hạ còn ẩm, có năm đông lại ấm lên bất thường, và khi ấy bệnh dịch dễ nổi theo. Người xưa giải thích chuyện đó bằng cuộc gặp của hai thứ khí: khí nằm yên ở dưới đất và khí đi qua trên trời.

Chủ khí: sáu bộ khí nằm yên theo mùa

Chủ khí chính là địa khí, dựa theo ngũ hành tương sinh Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy rồi lại Mộc. Nó chia ra sáu bộ khí, mỗi bộ chiếm khoảng sáu mươi ngày tám mươi bảy khắc rưỡi. Sáu bộ ấy gồm:

  1. Sơ khí: khí bắt đầu chạy ở tiết Đại hàn, thuộc kinh Quyết âm phong mộc.
  2. Nhị khí: ở tiết Xuân phân, thuộc kinh Thiếu âm quân hỏa.
  3. Tam khí: ở tiết Tiểu mãn, thuộc kinh Thiếu dương.
  4. Tứ khí: ở tiết Đại thử, thuộc kinh Thái âm.
  5. Ngũ khí: ở tiết Thu phân, thuộc kinh Dương minh.
  6. Chung khí: ở tiết Tiểu tuyết, thuộc kinh Thái dương.

Năm ngày làm một hậu, mười lăm ngày làm một khí, gồm ba hậu. Sáu khí làm một thời, chín mươi ngày. Bốn thời làm một năm, gồm hai mươi bốn tiết khí. Một tiết gồm hai khí là một lệnh, tức một tháng. Cho nên một năm có mười hai lệnh, hai mươi bốn khí, bảy mươi hai hậu.

Hỏa ở đây có ba thứ: chân hỏa, quân hỏa và tướng hỏa. Mộc gửi trong mình một thứ chân hỏa vô hình. Quân hỏa cư ngụ ở Ly, hợp với hỏa sinh ở Tốn thì thành tướng hỏa. Quân hỏa và tướng hỏa là hỏa hữu hình, còn hỏa vô hình gửi ở Mệnh Môn. Sự phân biệt này rất cần cho y học. Thủy cũng thế, có thủy vô hình tượng ở quẻ Khảm, gửi ở Càn kim, nghĩa là thủy nằm trong hỏa.

Sáu khí và định số từ một đến sáu

Mỗi mùa một khí, mỗi khí một số, và sáu con số ấy khép lại thành một vòng đi từ gió đến gió.

Hằng năm, từ Đại hàn qua Lập xuân, Vũ thủy đến Kinh trập là khí Mộc, định số một. Từ Xuân phân qua Thanh minh, Cốc vũ đến Lập hạ là khí Hỏa, định số hai. Từ Tiểu mãn qua Mang chủng, Hạ chí đến Tiểu thử là khí Hỏa, định số ba. Từ Đại thử qua Lập thu, Xử thử đến Bạch lộ là khí Thổ, định số bốn. Từ Thu phân qua Hàn lộ, Sương giáng đến Lập đông là khí Kim, định số năm. Từ Tiểu tuyết qua Đại tuyết, Đông chí đến Tiểu hàn là khí Thủy, định số sáu.

Nhìn theo chuỗi sinh hóa thì: khí Mộc là phong ở mùa xuân, vì suối trong đất là thấp, hóa ra gió. Gió nhờ khí dương cổ vũ nên hóa ra quân hỏa. Quân hỏa hóa nhiệt, chủ về cuối xuân sang đầu hạ. Tướng hỏa chủ về mùa hạ, oi bức nhiều, sinh ra Thổ. Nóng nhiều thì sinh táo, thuộc Kim. Hành Thổ sinh thấp, thấp sinh hàn, thổ chết thì thủy được sinh và hóa ra hàn. Khi ấy suối trong đất lại hóa ra thấp và thành phong, vòng khép lại. Cộng sáu khí lại là lục khí, mà lục khí chủ khí có định số.

Theo địa chi, chủ khí rơi vào các tháng như sau: Dần, Mão hành Mộc, tháng giêng, tháng hai, là xuân, phong. Tỵ, Ngọ hành Hỏa, tháng tư, tháng năm, là hạ, nhiệt và hỏa. Thân, Dậu hành Kim, tháng bảy, tháng tám, là thu, táo, thử. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, bốn tháng cuối mỗi mùa, hành Thổ, thấp. Hợi, Tý hành Thủy, tháng mười, tháng mười một, là đông, hàn.

Các thần cùng khí tìm nhau

Các vị thần ở trời, ở đất và ở người cùng khí thì thông cảm mạnh nhau. Quan hệ ấy được xếp như sau:

  • Phong ứng với Mộc, với cơn giận, với gan và tâm bào lạc, thuộc kinh Quyết âm.
  • Nhiệt ứng với Hỏa, với niềm mừng vui, với tim và thận, thuộc kinh Thiếu âm.
  • Hỏa, tức thử hay tướng hỏa, ứng với nỗi buồn sầu, với mật và tam tiêu, thuộc kinh Thiếu dương.
  • Thấp ứng với Thổ, với sự nghĩ ngợi, với phổi và tỳ, thuộc kinh Thái âm.
  • Táo ứng với Kim, với nỗi lo, với dạ dày và đại tràng, thuộc kinh Dương minh.
  • Hàn ứng với Thủy, với nỗi sợ, với bàng quang và tiểu tràng, thuộc kinh Thái dương.

Các thần cư ngụ đúng nơi, đúng chốn thì gọi là chính. Không đúng địa vị thì gọi là tà, như khi chính khí của người suy kém thì tà khí vượng lên. Chính và tà là cặp lưỡng nghi tương phản, cho nên với thần chỉ có thông cảm mà thôi, dù là dương thần hay âm thần, ẩn thần hay hiển thần. Thần nguyên nghĩa là khí Tiên Thiên hợp với Hậu Thiên mà hóa ra, tức nguồn sống là Tinh, hai thứ tinh túy hợp lại nung động nhau thì gọi là Thần.

Chủ khí và khách khí: chỉ có thắng, không có trả thù

Chủ khí là để phụng cho khách khí. Khách khí hơn chủ thì là tòng, là thuận. Chủ hơn khách thì là nghịch. Cặp lưỡng nghi này chỉ có thắng mà không có phục thù. Chủ thắng thì dẹp bớt đi để bồi bổ cho khách. Khách thắng thì dẹp khách đi để bồi bổ cho chủ. Vì vậy, khi chủ khí lâm vào dưới khách khí thì thời tiết không cân bằng và người sinh bệnh. Chủ khí ở dưới mà lâm vào như con ở trên, mẹ ở dưới, trong khi thiên khí là khách khí ở trên thì giúp chủ khí ở dưới phát triển. Trên không giúp gì cho dưới thì cơ tạo sinh hóa không trọn.

Giả như năm Thìn hoặc năm Tuất, sơ khí của khách khí thuộc Thiếu dương hỏa nằm trên chủ khí Quyết âm phong mộc của tháng giêng và tháng hai. Mộc sinh Hỏa, nhưng nay Hỏa như đứa con lại ở trên, đáng ra phải ở dưới nhận sự sinh của mẹ. Ngũ vận là lẽ bất dịch: xuân ấm, hạ nắng, thu mát, đông lạnh, gió động, lửa ôn, nắng bốc lên, ẩm nhuận xuống, ráo khô, rét rắn lại. Đó là chính khí của trời đất. Nay khách khí lâm vào chủ khí thì khí trời không cân bằng, và người sinh bệnh.

Ngũ vận gồm Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Lục khí gồm phong, hỏa, thử, thấp, táo, hàn. Thiên can dùng để tính vận, địa chi dùng để tính khí. Thiên can có mười, phối ra ngũ vận. Địa chi có mười hai, đối xung nhau mà ra lục khí. Khí của trời khởi từ Giáp, khí của đất khởi từ Tý.

Khách khí: ba âm, ba dương trên trời

Khách khí chính là thiên khí, khí ở trên trời của tam âm và tam dương. Về thứ tự an bài thì ba âm đứng trước, ba dương đứng sau. Tam âm và tam dương ứng với lục kinh, thông cảm với lục khí, và đi theo quy luật một sinh hai, hai sinh ba:

  • Tam âm: Quyết âm là một âm, Thiếu âm là hai âm, Thái âm là ba âm.
  • Tam dương: Thiếu dương là một dương, Dương minh là hai dương, Thái dương là ba dương.

Sáu kinh ấy mỗi cái hóa ra một khí: Quyết âm hóa phong, Thiếu âm hóa nhiệt là quân hỏa, Thái âm hóa thấp, Thiếu dương hóa hỏa là tướng hỏa, Dương minh hóa táo, Thái dương hóa hàn.

Sáu bộ khí khách được bố trí theo thứ tự trên, dưới, trái, phải. Tư thiên là bản, tức tam khí, đứng trên ở phương Nam. Tại tuyền là tiêu, tức chung khí, đứng dưới ở phương Bắc. Hai bên trái có sơ khí và nhị khí, hai bên phải có tứ khí và ngũ khí, gọi chung là bốn gián khí. Mỗi bộ khí chiếm khoảng sáu mươi ngày tám mươi bảy khắc rưỡi. Tư thiên chủ khí nửa năm đầu nên ở trên, tại tuyền chủ khí nửa năm sau nên ở dưới, nối thành trục Nam Bắc. Từ mỗi bộ khí khách bắt đầu ở sơ khí, tiến hai bậc thì tới tam khí làm tư thiên, tới tứ khí và ngũ khí rồi qua hai bậc thì tới chung khí là tại tuyền.

Khí của tư thiên hóa ra sáu thứ: Quyết âm tư thiên thì hóa của nó là phong, Thiếu âm tư thiên hóa nhiệt, Thái âm tư thiên hóa thấp, Thiếu dương tư thiên hóa hỏa, Dương minh tư thiên hóa táo, Thái dương tư thiên hóa hàn.

Sáu cặp năm và sáu bộ khách khí của mỗi cặp

Sáu khách khí được lấy theo mười hai địa chi đối xung nhau. Năm Tý đối năm Ngọ, quân hỏa giữ ở Ngọ, thuộc nhiệt hóa Thiếu âm, làm tư thiên. Từ Ngọ tiến lên ba vị tới Dậu, thuộc hóa táo kim Dương minh, làm tại tuyền, vì Thân và Dậu là địa vị của hành Kim. Từ đó có bảng khách khí cho từng cặp năm:

  • Năm Tý và năm Ngọ: tư thiên là Thiếu âm quân hỏa. Tại tuyền là Dương minh táo kim. Sơ khí là Thái dương hàn thủy, nhị khí là Quyết âm phong mộc, tứ khí là Thái âm thấp thổ, ngũ khí là Thiếu dương tướng hỏa.
  • Năm Sửu và năm Mùi: tư thiên là Thái âm thấp thổ. Tại tuyền là Thái dương hàn thủy. Sơ khí là Quyết âm phong mộc, nhị khí là Thiếu âm quân hỏa, tứ khí là Thiếu dương tướng hỏa, ngũ khí là Dương minh táo kim. Thổ ứng vào giữa mùa hạ, là địa vị của Mùi, và Mùi là ngôi thứ hai của Ngọ.
  • Năm Dần và năm Thân: tư thiên là Thiếu dương tướng hỏa. Tại tuyền là Quyết âm phong mộc. Sơ khí là Thiếu âm quân hỏa, nhị khí là Thái âm thấp thổ, tứ khí là Dương minh táo kim, ngũ khí là Thái dương hàn thủy. Tướng hỏa giữ ở Dần, và Dần là ngôi thứ hai của Sửu.
  • Năm Mão và năm Dậu: tư thiên là Dương minh táo kim. Tại tuyền là Thiếu âm quân hỏa. Sơ khí là Thái âm thấp thổ, nhị khí là Thiếu dương tướng hỏa, tứ khí là Thái dương hàn thủy, ngũ khí là Quyết âm phong mộc. Kim ở phương Tây, quẻ Đoài, chủ tạng phế, dương vị nằm trên cách mô, đặt ở địa vị Kim, vì Kim phải đợi dương mới phát ra được, nên thuộc kinh Dương minh.
  • Năm Thìn và năm Tuất: tư thiên là Thái dương hàn thủy. Tại tuyền là Thái âm thấp thổ. Sơ khí là Thiếu dương tướng hỏa, nhị khí là Dương minh táo kim, tứ khí là Quyết âm phong mộc, ngũ khí là Thiếu âm quân hỏa.
  • Năm Tỵ và năm Hợi: tư thiên là Quyết âm phong mộc. Tại tuyền là Thiếu dương tướng hỏa. Sơ khí là Dương minh táo kim, nhị khí là Thái dương hàn thủy, tứ khí là Thiếu âm quân hỏa, ngũ khí là Thái âm thấp thổ. Sở dĩ gọi là Quyết âm phong mộc là vì Mộc ở phương Đông, địa vị quẻ Chấn, ở người chủ gan, nằm dưới cách mô, ở địa vị của Âm. Mộc phải đợi âm mới sinh được, nên Quyết âm là một âm vừa sinh.

Dịch lệ bắt đầu từ đâu

Sáu khách khí tòng, nghịch, thắng nhau mà khiến khí hậu biến đổi khác thường: mùa xuân có gió lạnh, mùa hạ có khí ẩm, mùa thu mưa nhiều, mùa đông lại nóng. Mỗi khí khi thắng lên thì làm đất thay đổi theo kiểu của mình:

  • Phong thắng lên thì sinh động đất.
  • Hỏa thắng lên thì đất chắc lại.
  • Thử thắng lên thì nước dưới đất nóng lên, giống hiện tượng El Niño ngày nay.
  • Thấp thắng lên thì đất nhuận.
  • Táo thắng lên thì đất khô nứt nẻ.

Khí hậu bất tề như thế thì sinh ra dịch lệ.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nhập môn