Bài tổng quan
Kinh nguyệt không đều, thống kinh, bế kinh hiện ở hào Tài, Bạch Hổ, hào hai
Người phụ nữ hỏi vận năm, hỏi vận cả đời, hỏi chuyện tiền bạc, nhưng quẻ lại nhắc đến nhịp đập của chính thân thể mình. Một dòng máu, một cái tên Bạch Hổ, một hào hai nơi tử cung hiện ra cùng lúc. Khi gọi tên một chuyện khó nói như thế, quẻ đã mượn những chữ nào?
Người phụ nữ hỏi vận năm, hỏi vận cả đời, hỏi chuyện tiền bạc, nhưng quẻ lại nhắc đến nhịp đập của chính thân thể mình. Một dòng máu, một cái tên Bạch Hổ, một hào hai nơi tử cung hiện ra cùng lúc. Khi gọi tên một chuyện khó nói như thế, quẻ đã mượn những chữ nào?
Kinh nguyệt không đều gồm những gì
Kinh nguyệt không đều là cách gọi chung cho nhiều chứng bệnh liên quan đến kinh nguyệt. Chúng bao gồm sự thay đổi về chu kỳ, lượng kinh, màu kinh, chất kinh, hoặc một số triệu chứng đặc trưng xuất hiện trước và sau kỳ kinh.
Bốn dấu hiệu nhận ra trong quẻ
Trong dự đoán Lục hào, bệnh này có bốn điểm chính. Một là gắn chặt với cung Ly và cung Khôn, vì hai cung ấy phần nhiều chủ các bệnh phụ khoa. Hai là gắn với hào Tài, vì Tài là kinh nguyệt. Ba là gắn với hào hai và hào ba, vì hai vị trí này là tử cung. Bốn là gắn khá chặt với Bạch Hổ, vì Bạch Hổ chủ máu.
Tám quẻ kinh nguyệt không đều và thống kinh
Tám quẻ dưới đây có chung một mạch: Thế hoặc nguyên thần của Thế bị vây hãm quanh hào hai, hào ba, mà kỵ thần đứng ngay bên cạnh Bạch Hổ hay Huyền Vũ.
Hào hai lâm Huyền Vũ, nguyên thần là Tài hóa ra không vong
Ngày Canh Dần tháng Tý, tuần không Ngọ Mùi, một người phụ nữ xem vận năm, được Hỏa Phong Đỉnh biến Thuần Tốn. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Huynh đệ Kỷ Tỵ hỏa lâm Đằng Xà; hào năm Tử tôn Kỷ Mùi thổ lâm Câu Trần, là Ứng, đang động, hóa ra Huynh đệ Tân Tỵ hỏa; hào bốn Thê tài Kỷ Dậu kim lâm Chu Tước, cũng động, hóa ra Tử tôn Tân Mùi thổ; hào ba Thê tài Tân Dậu kim lâm Thanh Long; hào hai Quan quỷ Tân Hợi thủy lâm Huyền Vũ, là Thế; hào một Tử tôn Tân Sửu thổ lâm Bạch Hổ, có Phụ mẫu Kỷ Mão mộc phục bên dưới. Xem vận năm nhiều khi cũng hiện ra tin tức bệnh tật. Quẻ này có Thế ở hào hai lâm Huyền Vũ, chủ chỗ kín trên thân thể. Nguyên thần là Tài, mà Tài chủ kinh nguyệt; quẻ lại thuộc cung Ly, chủ bệnh phụ khoa. Nguyên thần động rồi hóa ra không vong, sinh cho Thế không đủ lực, nên hẳn là kinh nguyệt không đều. Thực tế đúng là kinh nguyệt không đều.
Thế không vong, nguyên thần lâm Bạch Hổ bị hào hai hợp trói
Ngày Quý Mùi tháng Thân, tuần không Thân Dậu, một người phụ nữ xem vận khí cả đời, được Thiên Trạch Lý biến Thuần Chấn. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Huynh đệ Nhâm Tuất thổ lâm Bạch Hổ, đang động, hóa ra Huynh đệ Canh Tuất thổ; hào năm Tử tôn Nhâm Thân kim lâm Đằng Xà, là Thế, cũng động, hóa ra Tử tôn Canh Thân kim, có Thê tài Bính Tý thủy phục bên dưới; hào bốn Phụ mẫu Nhâm Ngọ hỏa lâm Câu Trần; hào ba Huynh đệ Đinh Sửu thổ lâm Chu Tước; hào hai Quan quỷ Đinh Mão mộc lâm Thanh Long, là Ứng, cũng động, hóa ra Quan quỷ Canh Dần mộc; hào một Phụ mẫu Đinh Tỵ hỏa lâm Huyền Vũ. Thế gặp không vong nên không nhận được sự sinh của nguyên thần. Thế là Tử tôn, chủ tử cung. Nguyên thần lâm Bạch Hổ chủ máu, lại bị hào hai hợp trói nên không sinh được cho Thế. Hào hai là tử cung, lâm Thanh Long chủ đau, vì vậy là thống kinh. Thực tế đúng là thống kinh; ngoài ra còn cận thị.
Nguyên thần là Tài lâm Bạch Hổ, bị khắc rồi hóa vào mộ
Ngày Mậu Tuất tháng Mùi, tuần không Thìn Tỵ, một người phụ nữ xem tài vận và thân thể, được Sơn Hỏa Bí biến Địa Lôi Phục. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Quan quỷ Bính Dần mộc lâm Chu Tước, đang động, hóa ra Tử tôn Quý Dậu kim; hào năm Thê tài Bính Tý thủy lâm Thanh Long; hào bốn Huynh đệ Bính Tuất thổ lâm Huyền Vũ, là Ứng; hào ba Thê tài Kỷ Hợi thủy lâm Bạch Hổ, cũng động, hóa ra Huynh đệ Canh Thìn thổ, có Tử tôn Bính Thân kim phục bên dưới; hào hai Huynh đệ Kỷ Sửu thổ lâm Đằng Xà, có Phụ mẫu Bính Ngọ hỏa phục bên dưới; hào một Quan quỷ Kỷ Mão mộc lâm Câu Trần, là Thế. Lấy Thế làm dụng thần. Nguyên thần ở hào ba là Tài, lâm Bạch Hổ, bị nhật nguyệt khắc, rồi lại hóa thành mộ. Hào ba là tử cung, Tài là kinh nguyệt, Bạch Hổ là máu; nhập mộ có nghĩa là chậm chạp không đến, thất thường. Vì vậy là kinh nguyệt không đều. Thực tế là kinh nguyệt không đều, ngoài ra còn đau đầu.
Quan quỷ hào hai lâm Huyền Vũ khắc Thế, Tài là cội nguồn của kỵ thần
Ngày Canh Ngọ tháng Tuất, tuần không Tuất Hợi, một người phụ nữ xem vận khí, được Hỏa Địa Tấn biến Phong Thủy Hoán. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Quan quỷ Kỷ Tỵ hỏa lâm Đằng Xà; hào năm Phụ mẫu Kỷ Mùi thổ lâm Câu Trần, đang động, hóa ra Quan quỷ Tân Tỵ hỏa; hào bốn Huynh đệ Kỷ Dậu kim lâm Chu Tước, là Thế, cũng động, hóa ra Phụ mẫu Tân Mùi thổ; hào ba Thê tài Ất Mão mộc lâm Thanh Long; hào hai Quan quỷ Ất Tỵ hỏa lâm Huyền Vũ, đang động, hóa ra Phụ mẫu Mậu Thìn thổ; hào một Phụ mẫu Ất Mùi thổ lâm Bạch Hổ, là Ứng, có Tử tôn Giáp Tý thủy phục bên dưới. Xem vận khí gồm cả thân thể, lấy Thế làm dụng thần để phán đoán. Quan quỷ ở hào hai lâm Huyền Vũ đến khắc Thế. Hào hai là tử cung, Huyền Vũ chủ chỗ kín; Tài là cội nguồn của kỵ thần, mà Tài là máu. Đó chính là kinh nguyệt không đều. Thực tế là kinh nguyệt không đều; ngoài ra còn tăng sinh tuyến vú và đau đầu.
Thế bị Quan quỷ ám động lâm Bạch Hổ khắc
Ngày Kỷ Mùi tháng Ngọ, tuần không Tý Sửu, một người phụ nữ xem bệnh, được Trạch Hỏa Cách. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Quan quỷ Đinh Mùi thổ lâm Câu Trần; hào năm Phụ mẫu Đinh Dậu kim lâm Chu Tước; hào bốn Huynh đệ Đinh Hợi thủy lâm Thanh Long, là Thế; hào ba Huynh đệ Kỷ Hợi thủy lâm Huyền Vũ, có Thê tài Mậu Ngọ hỏa phục bên dưới; hào hai Quan quỷ Kỷ Sửu thổ lâm Bạch Hổ; hào một Tử tôn Kỷ Mão mộc lâm Đằng Xà, là Ứng. Lấy Thế làm dụng thần. Thế bị Quan quỷ ở hào hai ám động, lâm Bạch Hổ, đến khắc. Hào hai là tử cung, Quan quỷ là bệnh, Bạch Hổ là máu, nên kinh nguyệt không đều. Thực tế đúng là kinh nguyệt không đều; ngoài ra còn có dịch tiết ra ở vú.
Quan quỷ vượng lâm Câu Trần, u cơ tử cung gây rối loạn kinh
Ngày Bính Tý tháng Tuất, tuần không Thân Dậu, một người phụ nữ xem bệnh, được Thiên Trạch Lý biến Thủy Thiên Nhu. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Huynh đệ Nhâm Tuất thổ lâm Thanh Long, đang động, hóa ra Thê tài Mậu Tý thủy; hào năm Tử tôn Nhâm Thân kim lâm Huyền Vũ, là Thế, có Thê tài Bính Tý thủy phục bên dưới; hào bốn Phụ mẫu Nhâm Ngọ hỏa lâm Bạch Hổ, cũng động, hóa ra Tử tôn Mậu Thân kim; hào ba Huynh đệ Đinh Sửu thổ lâm Đằng Xà, cũng động, hóa ra Huynh đệ Giáp Thìn thổ; hào hai Quan quỷ Đinh Mão mộc lâm Câu Trần, là Ứng; hào một Phụ mẫu Đinh Tỵ hỏa lâm Chu Tước. Lấy Thế làm dụng thần. Quan quỷ ở hào hai vượng lâm Câu Trần, là gốc của kỵ thần Hỏa. Hỏa lâm Bạch Hổ chủ máu, chủ kinh nguyệt; Câu Trần là khối u. Điều đó cho biết kinh nguyệt không đều là do u cơ tử cung gây ra. Thực tế đúng là u cơ tử cung gây kinh nguyệt không đều; ngoài ra còn viêm tuyến giáp, viêm mũi và chóng mặt.
Thế lâm Tài, hào hai ám động là bệnh địa của Thế
Ngày Giáp Thân tháng Dần, tuần không Ngọ Mùi, một người phụ nữ xem bệnh, được Địa Lôi Phục. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Tử tôn Quý Dậu kim lâm Huyền Vũ; hào năm Thê tài Quý Hợi thủy lâm Bạch Hổ; hào bốn Huynh đệ Quý Sửu thổ lâm Đằng Xà, là Ứng; hào ba Huynh đệ Canh Thìn thổ lâm Câu Trần; hào hai Quan quỷ Canh Dần mộc lâm Chu Tước, có Phụ mẫu Ất Tỵ hỏa phục bên dưới; hào một Thê tài Canh Tý thủy lâm Thanh Long, là Thế. Lấy Thế làm dụng thần. Thế lâm Tài; theo phép dời thần thì lâm Bạch Hổ, chủ kinh nguyệt. Hào hai ám động, là bệnh địa của Thế, mà hào hai là tử cung. Thế lâm Thanh Long chủ đau, bệnh nằm ở Mộc, Mộc cũng là đau, nên là thống kinh. Thực tế đúng là thống kinh, trong bụng thấy lạnh.
Thế ở hào hai lâm Huyền Vũ bị khắc, Bạch Hổ khắc đến
Ngày Canh Dần tháng Dần, tuần không Ngọ Mùi, một người phụ nữ xem bệnh, được Phong Hỏa Gia Nhân biến Địa Hỏa Minh Di. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Huynh đệ Tân Mão mộc lâm Đằng Xà, đang động, hóa ra Quan quỷ Quý Dậu kim; hào năm Tử tôn Tân Tỵ hỏa lâm Câu Trần, là Ứng, cũng động, hóa ra Phụ mẫu Quý Hợi thủy; hào bốn Thê tài Tân Mùi thổ lâm Chu Tước; hào ba Phụ mẫu Kỷ Hợi thủy lâm Thanh Long, có Quan quỷ Tân Dậu kim phục bên dưới; hào hai Thê tài Kỷ Sửu thổ lâm Huyền Vũ, là Thế; hào một Huynh đệ Kỷ Mão mộc lâm Bạch Hổ. Lấy Thế làm dụng thần. Thế ở hào hai bị khắc, lâm Huyền Vũ chủ phụ khoa. Tài bị khắc là vấn đề ở kinh nguyệt; theo phép dời thần, Bạch Hổ đến khắc cũng là vấn đề của kinh nguyệt. Mộc chủ đau, nên là thống kinh. Thực tế đúng là thống kinh; ngoài ra còn đau xương bánh chè.
Bế kinh: khi dòng chảy không đến
Kinh nguyệt không đều còn có một dạng nặng hơn: dòng chảy ấy không đến nữa. Quẻ gọi tên dạng đó bằng những dấu hiệu rất khác.
Bé gái bình thường đến khoảng mười bốn tuổi thì có kinh, gọi là phá qua. Nếu quá mười tám tuổi vẫn chưa có kinh, hoặc có rồi mà không ổn định, ba bốn tháng mới thấy một lần, thì đó là bế kinh, trừ trường hợp mang thai. Bế kinh đôi khi cũng xảy ra ở phụ nữ đã trưởng thành: không phải vì có thai mà bỗng dưng vì một nguyên nhân nào đó không còn kinh nữa, cũng gọi là bế kinh.
Người bế kinh thường mỏi lưng, yếu sức, tinh thần mệt mỏi, thậm chí chóng mặt, mất ngủ, rụng tóc. Nguyên nhân có nhiều. Ở bé gái phần nhiều do cơ quan sinh dục phát triển không tốt hoặc dị dạng, hoặc nội tiết rối loạn. Ở người trưởng thành, có khi do khối u hay những bệnh khác gây ra. Theo Đông y, chủ yếu là do tỳ thận bất túc, can thận âm hư, không có huyết để chảy, hoặc khí trệ huyết ứ làm mạch đạo bị bít tắc.
Bốn dấu hiệu của bế kinh trong quẻ
Về ngũ hành, chủ yếu dùng Thủy, vì Thủy là chất lỏng, có điểm giống với kinh nguyệt. Về lục thân, chủ yếu là hào Tài, vì Tài là thứ chảy động, tự nó đã hàm ý kinh nguyệt. Về lục thần, Bạch Hổ chủ máu nên tin tức kinh nguyệt liên quan đến Bạch Hổ. Về vị trí hào, kinh nguyệt là thứ do tử cung bài xuất, nên gắn chặt với hào của tử cung, thường định ở hào hai và hào ba.
Trong quẻ bế kinh thường thấy Thủy hoặc Tài bị hợp trói, nhập mộ, phục tàng. Bị trói mà không sinh được cho dụng thần nghĩa là kinh không chảy ra; nhập mộ nghĩa là không thấy; phục tàng cũng là không thấy. Muốn đoán lúc nào có kinh thì thường lấy dụng thần định ngày ứng: tự xem cho mình thì nhìn Thế, xem cho vợ con thì nhìn hào Tài.
Thế không vong, nguyên thần là Thủy bị ngày hợp trói
Ngày Quý Sửu tháng Sửu, tuần không Dần Mão, một người phụ nữ xem bệnh, được Sơn Thiên Đại Súc. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Quan quỷ Bính Dần mộc lâm Bạch Hổ; hào năm Thê tài Bính Tý thủy lâm Đằng Xà, là Ứng; hào bốn Huynh đệ Bính Tuất thổ lâm Câu Trần; hào ba Huynh đệ Giáp Thìn thổ lâm Chu Tước, có Tử tôn Bính Thân kim phục bên dưới; hào hai Quan quỷ Giáp Dần mộc lâm Thanh Long, là Thế, có Phụ mẫu Bính Ngọ hỏa phục bên dưới; hào một Thê tài Giáp Tý thủy lâm Huyền Vũ. Lấy Thế làm dụng thần. Thế ở hào hai, không được nhật nguyệt sinh phù nên hưu tù. Theo phép dời thần, Thế có thể lên lâm Bạch Hổ, mà Bạch Hổ chủ máu. Nguyên thần là Thủy, bị ngày hợp trói nên không sinh được cho Thế; Thế lại gặp không vong nên không nhận được sự sinh; hào hai thì là vị trí tử cung. Tổng hợp lại thì phán đoán là bế kinh. Ngoài ra quẻ còn có tin tức đau răng.
Tài là Thủy gặp không vong, bệnh địa ở hào hai, nhập mộ ở hào ba
Ngày Nhâm Tuất tháng Hợi, tuần không Tý Sửu, một người đàn ông xem bệnh của vợ, được Sơn Thiên Đại Súc biến Sơn Lôi Di. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Quan quỷ Bính Dần mộc lâm Bạch Hổ; hào năm Thê tài Bính Tý thủy lâm Đằng Xà, là Ứng; hào bốn Huynh đệ Bính Tuất thổ lâm Câu Trần; hào ba Huynh đệ Giáp Thìn thổ lâm Chu Tước, đang động, hóa ra Huynh đệ Canh Thìn thổ, có Tử tôn Bính Thân kim phục bên dưới; hào hai Quan quỷ Giáp Dần mộc lâm Thanh Long, là Thế, cũng động, hóa ra Quan quỷ Canh Dần mộc, có Phụ mẫu Bính Ngọ hỏa phục bên dưới; hào một Thê tài Giáp Tý thủy lâm Huyền Vũ. Xem bệnh của vợ thì lấy Thê tài làm dụng thần. Thê tài Tý thủy được tháng nâng đỡ, bị ngày khắc, mạnh yếu ngang nhau. Tài là Thủy mà gặp không vong; Thủy chủ chất lỏng, bệnh địa ở hào hai, nhập mộ ở hào ba, mà hào hai và hào ba chính là vị trí tử cung, nên đó là tin tức của bế kinh. Nội quái phục ngâm cho thấy sự chậm chạp, mãi không xuất hiện. Thực tế người vợ đã hai tháng không có kinh.
Thế động ở hào ba hóa phá, Tài không lên quẻ
Ngày Bính Thìn tháng Dậu năm 2004, tuần không Tý Sửu, một người phụ nữ xem bệnh của mình, được Trạch Sơn Hàm biến Lôi Địa Dự. Sáu hào tính từ trên xuống: hào sáu Phụ mẫu Đinh Mùi thổ lâm Thanh Long, là Ứng; hào năm Huynh đệ Đinh Dậu kim lâm Huyền Vũ, đang động, hóa ra Huynh đệ Canh Thân kim; hào bốn Tử tôn Đinh Hợi thủy lâm Bạch Hổ; hào ba Huynh đệ Bính Thân kim lâm Đằng Xà, là Thế, cũng động, hóa ra Thê tài Ất Mão mộc; hào hai Quan quỷ Bính Ngọ hỏa lâm Câu Trần, có Thê tài Đinh Mão mộc phục bên dưới; hào một Phụ mẫu Bính Thìn thổ lâm Chu Tước. Lấy Thế làm dụng thần. Thế lâm hào ba, động rồi hóa ra phá, phá ngay ở hào Tài, mà Tài là kinh nguyệt; hào ba là tử cung. Tài không lên quẻ, lại ở cung Đoài, mà Đoài là khuyết. Vì thế là bế kinh. Thực tế sau khi sinh con trai năm 2002 thì bà không còn có kinh nữa.
Nguồn: Vương Hổ Ứng, Lục hào trắc bệnh phân khoa tường giải.
