Bài tổng quan
Chọn dụng thần cho nhà, hàng xóm, con dấu và hành lý bị mất
Một căn biệt thự dột mái đã sửa, một căn khác còn mới; một con dấu của cơ quan mất, sáu người đoán đều bảo không tìm lại được. Mỗi chuyện nhà cửa, mỗi món đồ thất lạc, dụng thần nằm ở một hào khác nhau. Lấy nhầm hào nào là đoán sai cả quẻ?
Một căn biệt thự dột mái đã sửa, một căn khác còn mới; bà chủ hỏi khi nào bán được, và quẻ lại nói về cả hai căn cùng lúc. Hỏi chuyện nhà cửa thì lấy hào nào làm gốc? Còn khi hỏi chuyện của người hàng xóm chẳng liên quan gì đến mình, hào nào đại diện cho họ?
Nhà cho thuê, nhà muốn bán thì lấy Phụ mẫu
Thường thì chuyện nhà cửa lấy Phụ mẫu làm dụng thần, Thê tài chỉ để tham khảo. Phụ mẫu bị khắc hoặc hưu tù thì nhà cho thuê không được, bán không được. Phụ mẫu vượng tướng, được hào Ứng sinh hợp hoặc nằm ngay ở hào Ứng, thì nhà dễ thuê, dễ bán.
Biệt thự ở Bắc Kinh: hai căn, hai Phụ mẫu
Tháng Thìn, ngày Canh Tuất, một phụ nữ ở Bắc Kinh hỏi khi nào bán được biệt thự của mình, gieo được Thủy Sơn Kiển biến Phong Sơn Tiệm, hào sáu động:
- Hào sáu: Tử tôn Tý thủy, hào âm động, lâm Đằng Xà, hóa ra Thê tài Mão mộc.
- Hào năm: Phụ mẫu Tuất thổ, hào dương, lâm Câu Trần.
- Hào bốn: Huynh đệ Thân kim, hào âm, hào Thế, lâm Chu Tước.
- Hào ba: Huynh đệ Thân kim, hào dương, lâm Thanh Long.
- Hào hai: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào âm, lâm Huyền Vũ.
- Hào một: Phụ mẫu Thìn thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Bạch Hổ.
Lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Quẻ có hai Phụ mẫu, lấy hào bị nguyệt phá là Phụ mẫu Tuất thổ làm dụng thần, hào Phụ mẫu còn lại để tham khảo.
Quẻ có hai Phụ mẫu nghĩa là có hai căn biệt thự. Hào năm Phụ mẫu Tuất thổ lâm Câu Trần, tháng phá nhưng ngày lại lấp thực chỗ phá. Câu Trần chủ cái cũ, nguyệt phá là hư hại, lấp thực là sửa chữa. Hào ở ngoại quái chủ phần trên của căn nhà, mà hào sáu Tử tôn Tý thủy động hóa ra kỵ thần, hào sáu là mái nhà. Người đoán nói căn biệt thự cũ hơn của bà từng dột mái và đã sửa, và bà xác nhận ngay tại chỗ.
Người đoán hỏi bà muốn bán căn mới hay căn cũ. Bà đáp căn cũ khó bán, bà muốn bán căn mới. Vì Phụ mẫu Tuất thổ đại diện cho căn cũ, nên muốn xem căn mới thì phải lấy Phụ mẫu Thìn thổ làm dụng thần. Phụ mẫu Thìn thổ được tháng tỷ phù, bị ngày Tuất xung thành ám động. Dụng thần ám động lâm hào Ứng sinh Thế, nhà nhất định có người mua. Theo quy luật ứng kỳ, chỗ xung gặp hợp, tháng Dậu có thể bán được nhà. Ngoài ra tham khảo Thê tài Mão mộc, phục tàng bị ngày hợp giữ, tháng Dậu xung mở, cũng là lúc bán được. Tài là mộc, mộc chủ số ba và số tám, đoán chừng bán được khoảng tám trăm vạn.
Về sau đến tháng Dậu bà bán được nhà, đúng tám trăm vạn tròn.
Cửa hàng ế khách muốn sang lại
Tháng Thìn, ngày Quý Mùi, một người thuê cửa hàng, buôn bán ế ẩm, muốn sang lại cho người khác, hỏi khi nào sang được. Anh gieo được Phong Trạch Trung Phu, sáu hào đều tĩnh:
- Hào sáu: Quan quỷ Mão mộc, hào dương, lâm Bạch Hổ.
- Hào năm: Phụ mẫu Tỵ hỏa, hào dương, lâm Đằng Xà.
- Hào bốn: Huynh đệ Mùi thổ, hào âm, hào Thế, lâm Câu Trần.
- Hào ba: Huynh đệ Sửu thổ, hào âm, lâm Chu Tước.
- Hào hai: Quan quỷ Mão mộc, hào dương, lâm Thanh Long.
- Hào một: Phụ mẫu Tỵ hỏa, hào dương, hào Ứng, lâm Huyền Vũ.
Lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Phụ mẫu không được ngày tháng sinh phù, nhưng cũng không bị ngày tháng khắc thương, tuy không vượng nhưng gốc chưa hỏng. Dụng thần lâm hào Ứng sinh Thế, nhà nhất định cho thuê hoặc sang được. Đến tháng Tỵ dụng thần trực tháng, vượng mà sinh Thế, thì sang được. Quả đúng như đoán.
Cho thuê cửa hàng: đợi xung đi hào Hợi thủy ở quẻ biến
Tháng Mão, ngày Kỷ Tỵ, một người hỏi khi nào cho thuê được cửa hàng, gieo được Cấn vi Sơn biến Sơn Phong Cổ, hào hai động:
- Hào sáu: Quan quỷ Dần mộc, hào dương, hào Thế.
- Hào năm: Thê tài Tý thủy, hào âm.
- Hào bốn: Huynh đệ Tuất thổ, hào âm.
- Hào ba: Tử tôn Thân kim, hào dương, hào Ứng.
- Hào hai: Phụ mẫu Ngọ hỏa, hào âm động, hóa ra Thê tài Hợi thủy.
- Hào một: Huynh đệ Thìn thổ, hào âm.
Lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Phụ mẫu được tháng sinh, ngày phù, dụng thần vượng tướng, cửa hàng nhất định cho thuê được. Nhưng điều ngại là dụng thần động mà hóa hồi đầu khắc, phải đợi xung đi hào Hợi thủy ở quẻ biến, khi dụng thần không còn bị chế thì mới cho thuê được.
Về sau cửa hàng được cho thuê vào tháng Tỵ, đúng là tháng xung đi hào Hợi thủy của quẻ biến.
Đoán chuyện hàng xóm thì lấy hào Ứng
Đoán chuyện hàng xóm cũng là một cách rèn luyện tốt, rất có ích để nâng tay nghề. Người khác không đến hỏi, nhưng mình vẫn muốn đoán, đoán xong lại có thể biết kết quả sau cùng, vì thế ngoài đoán việc của mình, thường ngày cũng có thể đoán việc khác. Đoán hàng xóm nói chung lấy hào Ứng làm dụng thần, bất kể tuổi lớn hay nhỏ đều xem hào Ứng. Trừ khi bạn và người hàng xóm thân thiết như bạn tốt, thì khi ấy mới xem hào Huynh đệ.
Mẹ của người hàng xóm bệnh ở đầu
Tháng Ngọ, ngày Bính Dần, một người bạn học Dịch nghe nói mẹ của người hàng xóm đang bệnh, bèn xem lành dữ của bà, gieo được Thiên Sơn Độn biến Hỏa Sơn Lữ, hào năm động:
- Hào sáu: Phụ mẫu Tuất thổ, hào dương, lâm Thanh Long.
- Hào năm: Huynh đệ Thân kim, hào dương động, hào Ứng, lâm Huyền Vũ, hóa ra Phụ mẫu Mùi thổ.
- Hào bốn: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào dương, lâm Bạch Hổ.
- Hào ba: Huynh đệ Thân kim, hào dương, lâm Đằng Xà.
- Hào hai: Quan quỷ Ngọ hỏa, hào âm, hào Thế, lâm Câu Trần.
- Hào một: Phụ mẫu Thìn thổ, hào âm, lâm Chu Tước.
Quẻ này dễ lấy nhầm dụng thần nhất. Dù là người hàng xóm hay mẹ của họ, nếu không có quan hệ gì với mình thì lấy hào Ứng làm dụng thần.
Dụng thần bị tháng khắc, ngày xung, hình tượng quẻ rất xấu. Dụng thần tuy động hóa hồi đầu sinh, nhưng ngày tháng đều có tác dụng không tốt với dụng thần, dụng thần không có gốc, gặp sinh cũng không dậy nổi, nên hung. Quẻ thuộc cung Càn, Càn là đầu; nguyên thần ở hào sáu rơi vào không lại bị ngày khắc thương, hào sáu là đầu, vậy bệnh nằm ở đầu.
Dụng thần động mà gặp trực, gặp hợp, chỗ xung ứng kỳ, ngày Tỵ lại là tam hình. Kết quả mẹ của người hàng xóm mất vào ngày Kỷ Tỵ vì xuất huyết não. Nếu lấy Phụ mẫu làm dụng thần để phán thì sẽ không khớp với quẻ.
Người đàn ông hàng xóm mất đúng giờ Tý, vì kim chết ở Tý
Tháng Dần, ngày Mậu Thìn, một người bạn học Dịch xem bệnh của người đàn ông hàng xóm, gieo được Hỏa Sơn Lữ biến Cấn vi Sơn, hào bốn động:
- Hào sáu: Huynh đệ Tỵ hỏa, hào dương, lâm Chu Tước.
- Hào năm: Tử tôn Mùi thổ, hào âm, lâm Thanh Long.
- Hào bốn: Thê tài Dậu kim, hào dương động, hào Ứng, lâm Huyền Vũ, hóa ra Tử tôn Tuất thổ.
- Hào ba: Thê tài Thân kim, hào dương, lâm Bạch Hổ.
- Hào hai: Huynh đệ Ngọ hỏa, hào âm, lâm Đằng Xà.
- Hào một: Tử tôn Thìn thổ, hào âm, hào Thế, lâm Câu Trần.
Lấy hào Ứng làm dụng thần. Dụng thần phát động hóa ra không, hóa ra phá, không lành. Hôm nay dụng thần bị trói nên không hóa được; ngày Giáp Tuất xung mở, khiến dụng thần hóa phá, lại bị thực không, thực phá, nhất định không lành.
Kết quả người đàn ông hàng xóm mất vào giờ Tý ngày Giáp Tuất. Mất vào giờ Tý vì dụng thần là kim, kim chết ở Tý.
Con dấu mất thì xem hào Tài, hành lý mất thì xem Phụ mẫu
Nếu chỉ nói đến dấu đỏ đóng trên giấy thì đó là Phụ mẫu. Nhưng nếu là chính con dấu thì nó là hào Tài, cho nên con dấu bị mất phải xem hào Tài.
Con dấu rơi mất, tìm thấy trong chiếc xe lái mỗi ngày
Tháng Thân, ngày Canh Thân, một học trò người Nhật hỏi con dấu bị mất có tìm lại được không, gieo được Trạch Thiên Quải, sáu hào đều tĩnh:
- Hào sáu: Huynh đệ Mùi thổ, hào âm, lâm Đằng Xà.
- Hào năm: Tử tôn Dậu kim, hào dương, hào Thế, lâm Câu Trần.
- Hào bốn: Thê tài Hợi thủy, hào dương, lâm Chu Tước.
- Hào ba: Huynh đệ Thìn thổ, hào dương, lâm Thanh Long.
- Hào hai: Quan quỷ Dần mộc, hào dương, hào Ứng, lâm Huyền Vũ.
- Hào một: Thê tài Tý thủy, hào dương, lâm Bạch Hổ.
Lấy Thê tài làm dụng thần. Thê tài hiện hai chỗ, lấy Thê tài Tý thủy gặp không vong làm dụng thần. Tử tôn giữ Thế nghĩa là chính mình làm mất. Ngày tháng sinh giúp dụng thần, dụng thần vượng tướng, con dấu mất sẽ tìm lại được. Hiện dụng thần đang không vong, ra khỏi không thì tìm được.
Về sau, ngày Giáp Tý, anh tìm thấy con dấu ngay trong chiếc xe mình lái mỗi ngày.
Con dấu của cơ quan: sáu người đoán sai vì lấy nhầm Phụ mẫu
Tháng Ngọ, ngày Canh Ngọ, học trò Lưu Hi Khánh hỏi nơi anh dạy học trực tuyến: con dấu của đơn vị không thấy đâu, có tìm lại được không. Anh gieo được Phong Lôi Ích:
- Hào sáu: Huynh đệ Mão mộc, hào dương, hào Ứng, lâm Đằng Xà.
- Hào năm: Tử tôn Tỵ hỏa, hào dương, lâm Câu Trần.
- Hào bốn: Thê tài Mùi thổ, hào âm, lâm Chu Tước.
- Hào ba: Thê tài Thìn thổ, hào âm, hào Thế, lâm Thanh Long.
- Hào hai: Huynh đệ Dần mộc, hào âm, lâm Huyền Vũ.
- Hào một: Phụ mẫu Tý thủy, hào dương, lâm Bạch Hổ.
Người đoán nói: quẻ này trước hết phải định dụng thần, nên lấy Thê tài. Quẻ có hai Thê tài, lấy Thê tài Thìn thổ giữ Thế làm dụng thần. Dụng thần giữ Thế được ngày tháng sinh phù, cho thấy con dấu không mất. Dụng thần lâm Thanh Long là một con dấu khá quan trọng. Quẻ thuộc cung Tốn, Tốn là mộc, đồ vật ở nơi có liên quan đến đồ gỗ. Thìn thổ là mộ khố của Phụ mẫu, Phụ mẫu chủ văn thư, hẳn là nằm trong ngăn kéo đựng giấy tờ. Ngày sinh dụng thần, ngay hôm nay có thể tìm thấy.
Người hỏi phản hồi rằng quẻ này trước đó đã hỏi sáu người, ai cũng lấy Phụ mẫu làm dụng thần, nói Phụ mẫu bị nguyệt phá, nhật phá, lại là kỵ thần giữ Thế, nên đoán con dấu không tìm được. Có vẻ là lấy nhầm dụng thần. Thực tế, con dấu là do một nhân viên vệ sinh của công ty thấy đặt trên bàn, sợ mất nên tiện tay cất vào ngăn kéo tủ bếp. Con dấu được tìm thấy ngay trong ngày hôm ấy.
Lúc đó anh còn gieo thêm một quẻ nữa cho việc này, được Thủy Hỏa Ký Tế biến Thủy Sơn Kiển, hào một động:
- Hào sáu: Huynh đệ Tý thủy, hào âm, hào Ứng, lâm Đằng Xà.
- Hào năm: Quan quỷ Tuất thổ, hào dương, lâm Câu Trần.
- Hào bốn: Phụ mẫu Thân kim, hào âm, lâm Chu Tước.
- Hào ba: Huynh đệ Hợi thủy, hào dương, hào Thế, lâm Thanh Long.
- Hào hai: Quan quỷ Sửu thổ, hào âm, lâm Huyền Vũ.
- Hào một: Tử tôn Mão mộc, hào dương động, lâm Bạch Hổ, hóa ra Quan quỷ Thìn thổ.
Quẻ này khác quẻ trước nhưng ý biểu đạt giống hệt: Thê tài phục dưới Thế, được ngày tỷ phù, lại có Tử tôn phát động đến sinh, cho thấy con dấu không mất. Dụng thần phục tàng, lâm ngày mà lộ ra, ấy là tìm thấy ngay hôm nay. Mộc động đến sinh cũng là tìm thấy ở nơi có đồ gỗ. Nếu lấy Phụ mẫu làm dụng thần thì ngày tháng khắc Phụ mẫu, cừu thần phát động, ắt không tìm được, hoàn toàn không khớp thực tế, đủ thấy khi con dấu bị mất thì lấy Thê tài làm dụng thần là điều không thể nghi ngờ.
Con dấu mất, nguyên thần không vong bị hợp trói nên không tìm lại
Tháng Tý, ngày Giáp Thìn, một người bạn Nhật hỏi con dấu bị mất, gieo được Lôi Hỏa Phong:
- Hào sáu: Quan quỷ Tuất thổ, hào âm, lâm Huyền Vũ.
- Hào năm: Phụ mẫu Thân kim, hào âm, hào Thế, lâm Bạch Hổ.
- Hào bốn: Thê tài Ngọ hỏa, hào dương, lâm Đằng Xà.
- Hào ba: Huynh đệ Hợi thủy, hào dương, lâm Câu Trần.
- Hào hai: Quan quỷ Sửu thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Chu Tước.
- Hào một: Tử tôn Mão mộc, hào dương, lâm Thanh Long.
Lấy Thê tài làm dụng thần. Thê tài Ngọ hỏa bị nguyệt phá, ngày không sinh phù, nguyên thần Tử tôn Mão mộc lại gặp không vong, bị Quan quỷ Tuất thổ ám động hợp giữ; tham hợp quên sinh nên dụng thần không có chút sinh cơ, khó tìm lại. Quả nhiên không tìm lại được.
Hành lý ký gửi thất lạc: xem Phụ mẫu, tìm thấy đúng giờ Dậu
Hành lý mất thì nên lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Điều này sách cổ đã có định luận từ lâu.
Tháng Mão, ngày Giáp Ngọ, một học trò người Nhật nhờ vận chuyển hành lý, hành lý bị mất, hỏi có tìm lại được không. Anh gieo được Hỏa Phong Đỉnh biến Hỏa Thủy Vị Tế, hào ba động:
- Hào sáu: Huynh đệ Tỵ hỏa, hào dương, lâm Huyền Vũ.
- Hào năm: Tử tôn Mùi thổ, hào âm, hào Ứng, lâm Bạch Hổ.
- Hào bốn: Thê tài Dậu kim, hào dương, lâm Đằng Xà.
- Hào ba: Thê tài Dậu kim, hào dương động, lâm Câu Trần, hóa ra Huynh đệ Ngọ hỏa.
- Hào hai: Quan quỷ Hợi thủy, hào dương, hào Thế, lâm Chu Tước.
- Hào một: Tử tôn Sửu thổ, hào âm, lâm Thanh Long.
Lấy Phụ mẫu làm dụng thần. Phụ mẫu Mão mộc phục dưới Tử tôn Sửu thổ ở hào một, được tháng củng phù nên vượng tướng. Trong quẻ tuy có kỵ thần Dậu kim phát động, nhưng bị nguyệt phá, bị ngày khắc, lại hóa hồi đầu khắc, không đủ sức khắc dụng thần, nên hành lý mất nhất định tìm lại được. Ngày Ất Mùi xung đi phi thần thì tìm thấy.
Về sau quả nhiên tìm thấy vào giờ Dậu ngày Ất Mùi. Ứng vào giờ Dậu vì dụng thần phục tàng, bị xung mà lộ ra. Nếu quẻ này mà xem hào Tài thì hành lý sẽ không tìm thấy.
Nguồn: Vương Hổ Ứng, Lục hào nghi hoặc chỉ mê.
