Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Dây leo Ất mộc cần Bính ấm, Quý nhuận và Giáp để nương

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202616 phút đọc2 lượt đọc
Dây leo Ất mộc cần Bính ấm, Quý nhuận và Giáp để nương

Ất mộc mềm như dây leo, giữa mùa lạnh chỉ cần một tia nắng, giữa mùa nóng chỉ cần một ngụm nước, và lúc kim đến thì cần một thân cây to để bám vào. Mười hai tháng mỗi tháng đòi một thứ khác, có lá số đủ hết mà vẫn đi xin ăn...


Tháng giêng: lửa nhiều hơn nước, và cây leo cần có cây để dựa

Ất sinh tháng Dần thì Kiếp tài nắm lệnh. Cái lạnh còn sót chưa hết nên trước tiên dùng Bính hỏa; Ất mộc lại ưa nhuận nên sau đó mới lấy Quý thủy, và Quý thủy hợp nhất khi tàng ở Thìn hay Sửu, đất nhuận trời hòa là tượng phú quý.

Đầu xuân phải có nhiều Bính hơn Quý, chứ không nên Quý lấn Bính; Quý nhiều thì bệnh khốn, rốt cuộc chỉ là kẻ hàn sĩ. Bính và Quý thấu ra hai bên nhưng vị trí không hợp thì cũng vẫn có thể phú quý. Tóm lại Ất mộc đầu xuân lấy Bính làm chân thần: thân cường thì chuyên dụng Bính để tiết tú, phú quý không nhỏ. Thân nhược mừng Tỉ Kiếp, chi thấy Dần Mão Hợi là đẹp, vì Tỉ kiên nắm lệnh thì dụng thần có lực. Dù có thể lấy Quý Ấn sinh thân, Quý thủy lại mất lệnh nên sức nhỏ. Sát mạnh thì dụng Đinh Thực chế Sát. Dùng thủy hóa Sát thì rốt cuộc không thành thượng cách, vì Ất mùa xuân kỵ nhất hàn thấp, gốc mộc bị nước làm mục.

Một lá số làm đến Chủ tịch tỉnh: năm Mậu Tý, tháng Giáp Dần, ngày Ất Tị, giờ Bính Tuất. Ất thấy Giáp là cây dây leo có chỗ bám, điều hậu dụng Bính, phú quý có thừa. Tiếc rằng bên dưới Dần Tị tương hình nên phú quý không dài.

Một lá số nghèo khó: năm Đinh Mùi, tháng Nhâm Dần, ngày Ất Sửu, giờ Đinh Hợi. Mùa lạnh cần Bính mà Bính chỉ tàng trong Dần, dụng Đinh thì Đinh gặp Nhâm hợp, huống chi vận đi thủy kim, bần tiện khó tránh.

Tháng hai: Bính Quý cùng thấu thì không ngại, chỉ kỵ kim đào gốc

Nhật chủ ngồi Lộc, mọi thứ còn lại là chuyện cân bằng giữa nước và lửa.

Ất sinh tháng Mão, nhật nguyên đắc lộc. Thân cường thì có hỏa tiết, thân nhược thì có thủy sinh. Gom lại: nguyên cục hỏa nhiều thì dụng Quý, mộc nhiều thì dụng Bính.

Bính và Quý cùng thấu thì không sao, kỵ nhất là thấy Canh, càng kỵ chi thấy Thân Dậu, vì xuân mộc rất kỵ bị đào gốc. Nếu thấy Tân Sát thì chuyên dụng Đinh chế; không có Đinh mà thấy Quý thì dù có Ấn hóa rốt cuộc cũng không phải thượng cách. Ất mộc tháng hai thân cường, Bính thấu, Quý tàng, không thấu Canh kim thì đại phú đại quý. Chi thành mộc cục mà không thấy Canh, Tân thì gọi là Khúc trực Nhân thọ; Quý thấu thì công lao rạng rỡ, Đinh thấu thì văn học như thần. Sát mạnh thì dụng Đinh, gọi là Thực thần chế Sát, chủ quý; Tài mạnh thì dụng Giáp, gọi là Tỉ Kiếp phân Tài, chủ phú.

Lá số Đoàn Kỳ Thụy: năm Ất Sửu, tháng Kỷ Mão, ngày Ất Hợi, giờ Quý Mùi. Địa chi Hợi Mão Mùi thành mộc cục, theo thế vượng của nó mà dụng Quý thủy ở can giờ. Kỷ ở tháng bị Ất năm chế nên không làm tổn thương Quý, mừng thêm vận đi mộc thủy, là mệnh đại quý.

Lá số chết non: năm Bính Dần, tháng Tân Mão, ngày Ất Hợi, giờ Tân Tị. Dụng Bính mà gốc của Bính đều ở Dần Tị, chỉ tiếc Bính gặp Tân hợp, Tị gặp Hợi xung, Dần gặp Mão hội, không còn đường đi vận. Đến vận Nhâm Thìn thủy rất mạnh, làm tổn thương dụng thần mà chết sớm.

Tháng ba: Tài nắm lệnh, Quý trước Bính sau, thủy hỏa giúp nhau

Dương khí ngày một sáng, nên nước và lửa cần đến cùng lúc chứ không thay thế nhau.

Ất sinh tháng Thìn thì Tài tinh nắm lệnh, dương khí ngày một rõ. Trước dụng Quý, sau dụng Bính, thủy hỏa giúp nhau mới hợp.

Thân cường thì dụng Bính, Đinh để tiết, nhưng chi nhất định phải tàng thủy. Ất mạnh thường không cần Canh chế; chỉ khi cành lá tốt tươi, thấy Kỷ và Canh thấu ra can, Tài Quan đều đẹp, đó là cuối xuân mộc già, tạm dùng được. Nếu Ấn tinh quá nhiều thì thủy nổi mộc trôi, lại mừng Bính, Mậu, dụng Tài phá Ấn. Tài nhiều thân nhược thì dụng Kiếp; Sát mạnh thì dụng Thương chế Sát. Nếu giờ là Canh Thìn thì hóa kim lỡ thời, có vận giúp mới hứa phú quý; nếu thấu hai Canh, kỵ hợp mà không hóa được, có Đinh hỏa phá thì có phú nhưng không phải thượng cách.

Lá số vị Thượng thư: năm Tân Tị, tháng Nhâm Thìn, ngày Ất Dậu, giờ Tân Tị. Tân Sát quá mạnh, dụng Nhâm Ấn hóa Sát sinh thân, Nhâm có căn ở Thìn, gặp vận Đông Bắc phối hợp là hợp quý.

Tháng tư: mùa hạ đầu, ba tháng nóng không rời kim thủy

Nước phải đến từ một nguồn, bởi nước không nguồn thì mộc vẫn chết khô.

Ất sinh tháng Tị, Thương quan nắm lệnh, hỏa viêm thổ táo, tính mộc khô héo. Điều hậu gấp, chuyên lấy Quý thủy; thủy yếu lại mừng có Canh, Tân làm nguồn mới phát.

Dụng thần ba tháng mùa hạ không xa kim thủy. Có kim mà không thủy thì Ất mộc gặp khắc tiết giao nhau, thành mệnh tàn tật. Chi thành kim cục hay kim phương, lại có Canh kim thấu ra mà không có hỏa phá cách, có thể lấy cách Hóa kim mà luận, là đại quý.

Lá số tiểu quý: năm Nhâm Thân, tháng Ất Tị, ngày Ất Mùi, giờ Ất Dậu. Điều hậu cần thủy giúp, Sát nặng cũng cần thủy hóa, Nhâm năm thấu ra từ Thân nên có đường phú quý; chỉ tiếc Ất mộc gốc yếu nên chỉ gần đến Tiến sĩ.

Lá số hung: năm Ất Dậu, tháng Tân Tị, ngày Ất Mão, giờ Tân Tị. Nguyên cục quá khô táo, không có thủy nhuận, Sát thấu ra khắc thân, cũng không có Nhâm Quý để hóa. Vận vào phương Đông giúp thân địch Sát, nhưng vận Sửu năm Tuất sinh Sát hội Sát, bệnh mà chết.

Tháng năm: có kim không thủy là tàn, có thủy không kim thì nguồn cạn

Hai chữ bề ngoài tốt dễ làm người xem nhầm; phải nhìn xuống tận gốc xem chúng có thật sự sống không.

Ất sinh tháng Ngọ thì chuyên dụng Nhâm Quý; thủy yếu nên cũng cần Canh, Tân. Canh, Nhâm, Bính cùng thấu tất hiển quý.

Có kim không thủy gọi là khắc tiết giao nhau, mệnh tàn tật. Có thủy không kim gọi là thủy không có nguồn, phú quý không dài. Trừ những cách cục đặc biệt, Ất mộc tháng năm tất lấy thủy làm chân thần; Quý lực yếu thì Nhâm đứng đầu, Canh và Nhâm cùng thấu tất chủ quý hiển.

Lá số vị Thượng thư: năm Canh Thân, tháng Nhâm Ngọ, ngày Ất Mão, giờ Tân Tị. Điều hậu dụng Nhâm, Canh Nhâm cùng thấu và thông căn ở Thân, lại đi vận kim thủy, công danh nhẹ như chuyện vặt.

Lá số kẻ ăn mày: năm Giáp Dần, tháng Canh Ngọ, ngày Ất Mão, giờ Bính Tý. Có kim có thủy nên bề ngoài rất tốt, nhưng xét kỹ nguyên cục thì Canh kim không có gốc, Tý thủy lại bị Mão hình. Vận Giáp Tuất một đường bại địa, đến mức đi xin ăn.

Tháng sáu: trước tiết Đại Thử lấy như tháng năm, sau tiết thì kim thủy tiến dần

Giữa hạ lửa còn đỏ, qua tiết rồi thì thu đã đứng sau cửa.

Ất sinh tháng Mùi, Tài tinh nắm lệnh. Trước tiết Đại Thử, lý giống tháng năm. Sau tiết, hỏa khí dần lui, kim thủy dần tiến. Thân nhược thì vẫn mừng Quý, Nhâm, chi thông Dần Mão Hợi là đẹp. Hoặc can thấy Đinh Nhâm ngầm trợ khí mộc cũng có cơm áo. Dụng Quý kỵ nhất là Mậu chế, Kỷ lẫn vào, chuyển thành hạ cách; có Giáp thì được cứu, nhưng danh lợi cũng ít.

Biến lý: nếu kim thủy quá nhiều, thế cục chuyển hàn thì có cơ hội lấy Bính làm dụng. Nếu chi thành mộc cục mà thân cường, được Bính tiết tú, được Quý nhuận Ất, thủy hỏa giúp nhau qua lại cũng có thể quý; vì vậy Bính Quý cùng thấu là phú quý cực phẩm, còn Bính thấu mà không có Quý thì nguyên cục thiếu nhuận trạch, không ngoài người thường. Tài nắm lệnh mà nguyên cục không có Ấn Tỉ sinh trợ thì thành cách Tòng Tài, cũng có phú quý; một khi thấy Ấn Kiếp thì phải luận theo Tài nhiều thân nhược.

Lá số vị Tể tướng: năm Canh Tuất, tháng Quý Mùi, ngày Ất Hợi, giờ Đinh Sửu. Đinh hỏa thấu ra là mộc hỏa Thương quan; dụng Quý là Thương quan bội Ấn; Quý thủy thấy Canh là thủy có nguồn. Vận giao Tây Bắc giúp dụng thần, làm Tể tướng thời thái bình.

Lá số vị Thứ trưởng: năm Bính Tuất, tháng Ất Mùi, ngày Ất Hợi, giờ Quý Mùi. Bính thấu thì tất dụng Quý thủy, Quý có căn ở Hợi, trong Tuất có Tân nên thủy có ít nguồn. Vận vào phương Tây Bắc, dụng thần đắc lực; tiếc kim không thấu xuất, địa vị chỉ đến Thứ trưởng.

Tháng bảy: Quan tinh nắm lệnh, dây leo phải bám vào Giáp

Khi lưỡi dao đã đến, cây leo chỉ còn một đường là tìm thân cây to để nương.

Ất sinh tháng Thân, Quan tinh nắm lệnh, Canh kim nắm quyền nên Ất tất bị thương. Ất mộc thân nhược cần nhất là Tỉ kiên: can thấy Giáp, chi thấy Dần là mộc khí tự vượng, đúng như câu "dây leo bám Giáp, xuân thu đều được".

Canh kim thấu ra thì Ất tất bị thương, chuyên dụng Kỷ thổ làm đục kim mà bồi mộc, là cách phú quý. Dụng thủy Ấn hóa Sát cũng được, nhưng đề phòng kim thủy quá nhiều thành thủy nổi mộc trôi, lúc ấy cần phối Mậu thổ. Dụng Đinh Thực thần chế Sát phải thân cường; nếu thân nhược sợ thành khắc tiết giao nhau. Ất thấy can Giáp, chi thấy Dần, hoặc bên dưới thành phương thành cục, Ất mộc chuyển cường thì có thể lấy Canh Quan, chân thần đắc dụng, phú quý không ít. Giờ Canh Thìn thì cách Tòng kim đắc thời, đại phú đại quý, nguyên cục lẫn tuế vận đều kỵ Bính Đinh phá cách.

Lá số vị Thượng thư: năm Mậu Tuất, tháng Canh Thân, ngày Ất Hợi, giờ Giáp Thân. Thủy Hợi tàng ở chi ngày, chỉ lấy Giáp mộc ở giờ trợ thân; vận vào đất thủy mộc làm dụng thần khởi dậy, quan trường nhàn nhã.

Lá số quý khác: năm Nhâm Thân, tháng Mậu Thân, ngày Ất Mùi, giờ Canh Thìn. Ngày Ất gặp tháng Thân, Ất Canh hợp hóa khí rất chuẩn, nguyên mệnh và đại vận đều không có hỏa đến phá cách, nên làm quan lớn mà không phải lo lắng.

Tháng tám: Ất tuyệt địa, Lan Quế chưa nở và đã nở cần khác nhau

Cùng một tháng mà trước và sau tiết Thu Phân, loài cỏ thơm đòi hỏi hai thứ khác nhau.

Ất sinh tháng Dậu, Thất Sát nắm lệnh, Ất mộc ở đất tuyệt nên cần thân cường; trụ có Giáp Dần thì thành "dây leo bám Giáp" rất tốt.

Thân cường, dụng Tân Sát ở nguyệt lệnh là chân thần đắc dụng, phú quý tất nhiên. Thân cường mà kim càng cường thì mừng Đinh chế, gọi là Thực thần chế Sát, địa vị phần nhiều là quan võ; vì hàn khí sẽ tăng, nên cũng cần Bính, cho nên thân cường mà thấu Tân, Bính, Đinh là cách đại quý. Thân nhược dụng Quý, nhưng cần can có Giáp, chi có Dần mới tốt. Ất là loài cỏ Lan Quế: trước tiết Thu Phân hỏa khí chưa hết, Lan Quế chưa nở hoa thì dụng Quý trước, Bính sau; sau Thu Phân Lan Quế đã nở, hàn khí tiến dần, thì dụng Bính trước, Quý sau.

Lá số Hứa Thế Anh: năm Quý Dậu, tháng Tân Dậu, ngày Ất Sửu, giờ Tân Tị. Chi thành kim cục, hai Tân thấu ra, vốn là cách Tòng Sát; nhưng năm thấu Quý thủy nên không thể nói là tòng, đúng câu "Chúng Sát hung tợn, một Ấn có thể hóa". Mệnh quý, thọ và phú vinh.

Lá số hung: năm Quý Dậu, tháng Tân Dậu, ngày Ất Mão, giờ Kỷ Mão. Cũng là chúng Sát hung tợn, đáng lẽ thủ Quý Ấn hóa, nhưng giờ gặp Kỷ thổ khắc phá, Quý thủy vào mộ nên vướng phép nước; địa chi hai tầng Mão Dậu xung kích cũng là tượng hung.

Tháng chín: đất Tuất khô táo, chỉ Quý và Tân cùng thấu mới nên chuyện

Có nước mà thiếu nguồn, hay có nguồn mà thiếu nước, đều không ra được một con sông.

Ất sinh tháng Tuất, Tài tinh nắm lệnh, Ất đến đất khô táo mà nhật nguyên mất lệnh, nên chuyên lấy Quý thủy sinh thân làm nhuận cục. Thủy yếu lại mừng có gốc Canh, Tân phát nguồn; cho nên Quý Tân cùng thấu là Sát Ấn tương sinh, tất nhiên phú quý. Có Quý không có Tân thì phú quý không dài; có Tân không có Quý thì tất bần tiện.

Tài nắm lệnh mà Tài nhiều thân nhược, mừng thấy Giáp Dần, đúng câu dây leo bám Giáp, nhưng dụng Tỉ Kiếp thì kỵ thấy Canh Tân. Thân cường dụng Bính Đinh để tiết, tháng Tuất hỏa còn dư khí, chân thần đắc dụng, cũng có thể quý. Thân cường cũng có thể lấy Canh để chế, tháng Tuất có Tài sinh nên có đường phú quý.

Lá số phú quý: năm Giáp Dần, tháng Giáp Tuất, ngày Ất Dậu, giờ Bính Tý. Năm thấy Giáp Dần là dây leo bám Giáp, giờ Tý thủy nuôi mộc nên phú quý lâu dài.

Lá số kẻ cường đạo: năm Tân Tị, tháng Mậu Tuất, ngày Ất Sửu, giờ Tân Tị. Tháng chín Mậu thổ nắm lệnh, nhưng khí thổ tiết ở Tân, Ất mộc không có căn, lấy cách Tòng Sát mà luận. Địa chi hỏa nặng nên chỉ là "giả tòng"; vào vận phương Nam thì phá cách, sa vào cướp bóc.

Tháng mười: thủy lạnh mộc đóng băng, ánh Bính là điều không thể thiếu

Trong cái lạnh đầu đông, cây dây leo sống được là nhờ ánh nắng chứ không nhờ nước.

Ất sinh tháng Hợi, Ấn tinh nắm lệnh, thủy lạnh mộc đóng băng. Điều hậu gấp, trước tiên lấy Bính làm ấm thân; Nhâm thủy nắm lệnh nên không thể thiếu Mậu.

Thân cường, Bính Mậu cùng thấu tất nhiên phú quý. Nếu chi tàng một hai điểm Nhâm Quý thì có thể không cần Mậu, nhưng không thể không có Bính; đó là mộc lạnh hướng dương, mới chủ phú quý. Không có Bính mà dụng Đinh thì phú quý kém hơn. Thân nhược có thể lấy Nhâm, Giáp tàng trong Hợi làm dụng, nhưng nguyên cục cần thấy Bính, nếu không thì thủy lạnh mộc đóng băng, hai thứ đều không sinh nổi; thủy hỏa giúp nhau mới chủ sinh phát. Nếu chi thành mộc cục thì Khúc trực Nhân thọ mất thời; thấy Bính Mậu mới hứa phú quý.

Lá số quý: năm Mậu Thìn, tháng Quý Hợi, ngày Ất Tị, giờ Bính Tý. Điều hậu dụng Bính, Quý thấu có Mậu hợp chế. Thuở đầu đi vận thủy nên xuất thân bần hàn; vận mộc thì đăng khoa, vận hỏa thì hiển đạt, làm quan đến Bố chính.

Lá số nghèo khó: năm Kỷ Hợi, tháng Bính Tý, ngày Ất Sửu, giờ Nhâm Ngọ. Có Bính có Ngọ tưởng chừng có triển vọng, nhưng Bính gặp Nhâm phá mà Kỷ không giải cứu được, chi thành phương Bắc là thủy nổi mộc trôi, tệ nhất là vận vào Tây Bắc. Dù quyết chí khổ học vẫn nghèo rớt mồng tơi.

Tháng mười một: chuyên thủ Bính, kỵ Nhâm Quý phá hại

Nước mạnh nhất cũng chỉ là nước; vẫn có cách lấy thổ ngăn dòng cho ngọn lửa còn đứng được.

Ất sinh tháng Tý, Ấn tinh nắm lệnh, điều hậu gấp, chuyên thủ Bính hỏa. Bính thấu có gốc thì tự nhiên phú quý; Bính tàng trong Dần Tị cũng có công danh.

Dụng Bính kỵ Nhâm Quý phá hại; được Mậu Kỷ giải cứu cũng có cơm áo. Thủy mùa đông quá vượng, Nhâm thấu mà không có Mậu, được Kỷ xuất can và Bính trợ giúp thì đại phú quý. Chỗ này là dùng Kỷ lẫn vào Nhâm để bồi gốc mộc, lại có Bính ấm, tự nhiên phúc hậu. Cũng không phải lấy Kỷ Tài để phá Ấn, điều cần phải chú ý.

Lá số vị Bộ trưởng: năm Mậu Dần, tháng Giáp Tý, ngày Ất Mùi, giờ Bính Tý. Có Giáp có Dần là dây leo có chỗ dựa; hoa mộc đóng băng mừng thấy Bính thấu, vận chạy Đông Nam nên quý có thể biết.

Lá số nghèo khó: năm Tân Hợi, tháng Canh Tý, ngày Ất Hợi, giờ Bính Tý. Điều hậu dụng Bính nhưng Bính không có căn, Bính Tân lại hợp hóa thủy khiến khí thủy càng lạnh, vận lại chạy vào đất thủy kim, thấy rõ là ít may.

Tháng chạp: Sửu thấp thổ lạnh, Bính thấu có căn thì tự nhiên phú quý

Giữa cái giá cuối năm, một ngọn Bính cắm gốc vào chi quý hơn mọi đống của cải.

Ất sinh tháng Sửu, Tài tinh nắm lệnh, Sửu là thấp thổ, khí phía trên rất lạnh, chuyên thủ Bính hỏa là quý. Bính thấu ra mà dưới có căn, không có Nhâm khắc thì tất nhiên phú quý; Bính tàng trong chi cũng có danh lợi; không có Bính thì bần tiện, vận chạy Đông Nam được hạng trung.

Tài nắm lệnh, Mậu thấu thổ nhiều, gọi là Tài nhiều thân nhược, chuyên lấy Giáp Dần Tỉ kiên để chia bớt Tài, cách cục chủ giàu, nhưng cũng không thể thiếu Bính để ấm cục. Phàm mộc ở ba tháng mùa đông không sợ thân nhược, vì nguyệt lệnh tự có Quý thủy; điều đáng sợ nhất là trong cục không có Bính Đinh, thủy lạnh nước đóng băng thì hai thứ đều không sinh nổi.

Lá số vị Chủ tịch tỉnh: năm Giáp Thân, tháng Đinh Sửu, ngày Ất Hợi, giờ Mậu Dần. Cục có Giáp Dần là dây leo bám Giáp, Bính tàng ở giờ là mộc lạnh hướng dương, càng mừng vận phối mộc hỏa nên tự nhiên vui vẻ hướng vinh.

Lá số bần tiện: năm Bính Tý, tháng Tân Sửu, ngày Ất Tị, giờ Bính Tý. Dụng Bính gặp Tân hợp, dụng Tị thì Tị Dậu Sửu tam hợp thành kim cục; dù vào vận Đông Nam cũng chỉ là nhà nho nghèo, vì nguyên mệnh đã mất cách và mất dụng.

Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc