Bài tổng quan
Ngoại cách khi nào dùng, lục thân vì sao xem theo hỉ kị
Có người gặp lá số Tài bị Kiếp đoạt, Quan bị Thương phá là vội cho rằng nguyệt lệnh vô dụng và chạy theo những cách lạ. Cổ nhân lại bảo đó mới là sai lầm của sai lầm, và chỉ ra rằng cha mẹ, vợ, con trong tứ trụ cũng không nên đọc theo cái tên của từng thần...
Mục lục · 7 phần
- 01Ngoại cách là trường hợp riêng của chính cách
- 02Nguyệt lệnh còn dụng thần thì chớ bỏ để tìm cách lạ
- 03Dụng thần bị phá không có nghĩa là nguyệt lệnh vô dụng
- 04Lục thân từ quẻ Dịch đời Hán bước vào Bát Tự
- 05Bốn trụ là bốn ngôi: tổ tiên, cha mẹ, vợ, con
- 06Vì sao Thiên Tài là cha, Quan Sát là con
- 07Hỉ kị của từng thần mới là chỗ xem đắc lực hay không
Ngoại cách là trường hợp riêng của chính cách
Dụng thần của Bát Tự đã được chú trọng tìm ở nguyệt lệnh, vậy cớ sao còn có ngoại cách? Là vì có lúc nguyệt lệnh không dùng được, phải tùy cơ ứng biến mà chọn đường khác, nên gọi là ngoại cách. Lời bàn này nghe tưởng chưa rõ, chỗ cần hiểu là nguyệt lệnh như sợi dọc, còn dụng thần như sợi ngang. Dụng thần là then chốt của cả lá số. Khi thần khí nguyệt lệnh không đủ sức làm đầu mối cho toàn cục thì phải chọn một can hoặc một chi riêng để dùng. Dù chọn riêng nhưng trọng tâm của nó vẫn gắn với nguyệt lệnh.
Mộc sinh vào mùa đông, thủy vượng mộc trôi, nếu chọn Tài thì tổn Ấn, nên phải dùng hỏa để điều hậu, chính vì nguyệt lệnh tuy thủy vượng nhưng giá buốt. Mộc sinh vào mùa thu, kim quá cứng khiến mộc sứt mẻ, chọn hỏa chế kim hoặc chọn thủy hóa kim, chính vì khí kim ở nguyệt lệnh quá vượng. Những trường hợp này đều chưa có tên riêng. Còn ngoại cách là trường hợp riêng của chính cách: khí thế của lá số vượt thắng đến nỗi không thể lấy lẽ thường mà chọn dụng thần, nằm ở ngoại lệ của con đường đúng, cho nên gọi là ngoại cách.
Nguyệt lệnh còn dụng thần thì chớ bỏ để tìm cách lạ
Mộc sinh mùa xuân, thủy sinh mùa đông, hay thủy sinh vào tháng tứ quý, khi nhật chủ cùng khí với tháng thì khó thấy tác dụng của nguyệt lệnh. Những lá số ấy có thể rơi vào các loại tượng, hình tượng, xung tài, hội lộc, hình hợp, hay các cách Diêu nghênh, Tỉnh lan, Triều dương. Nhưng nếu nguyệt lệnh tự có dụng thần thì đâu cần đi tìm ngoại cách? Lại có người sinh mộc mùa xuân, thủy mùa đông, trên can thấu đủ Tài, Quan, Thất Sát mà vẫn bỏ đi để theo ngoại cách thì càng sai lầm. Can đã thấu Tài thì cần gì dùng cách xung Tài? Can đã thấu Quan thì cần gì dùng cách hợp lộc?
Đề cương hữu dụng đề cương trọng.
Hữu Quan mạc tầm cách cục.
Hai câu ấy là lời nói bất di bất dịch. Xuân mộc đông thủy chính là Dương Nhận, kiến Lộc. Nhận Lộc tuy không thể làm dụng thần, nhưng quan hệ với dụng thần lại nằm ở nguyệt lệnh. Như cách Sát Nhận thì chọn Quan Sát chế Nhận, dụng thần nằm ở Quan Sát. Kiến Lộc thân vượng thì lấy thần tiết tú làm tốt, dụng thần nằm ở Thực Thương. Thổ sinh tứ quý thì dùng mộc để làm tơi thổ, hoặc dùng kim tiết tú, dụng thần nằm ở mộc kim. Các loại ấy đều chẳng phải ngoại cách.
Ngoại cách đòi hỏi khí tượng của cả tứ trụ nghiêng hẳn về một phương, như xuân mộc mà các chi nối thành Dần Mão Thìn, hoặc Hợi Mão Mùi, khiến tứ trụ không thể phù ức. Ngày và tháng giống nhau thì thành tòng Cường, tòng Vượng. Ngày và tháng không giống mà nhật nguyên lâm Tuyệt thì thành tòng Quan Sát, tòng Tài, tòng Thực Thương. Hoặc nhật can hóa hợp thì thành hóa khí. Phải là loại tượng thuộc cùng một loại hình thì mới thành ngoại cách. Ngoại cách tuy rất quy củ, nhưng cũng phải là cách không rời xa chính lý ngũ hành mới được. Gặp những cách đảo xung, hình hợp, Diêu nghênh, Triều dương mà lý ngũ hành chưa thông thì không đủ tin; Tỉnh lan thực ra chính là Thực Thương cách.
Khi nguyệt lệnh đã có dụng thần, tứ trụ được phù ức, cớ gì bỏ lẽ chung mà chạy theo cách riêng? Câu "đề cương hữu dụng đề cương trọng" nói rằng khi luận dụng thần phải chú ý đến phần nặng ký của nguyệt lệnh. Câu "hữu Quan mạc tầm cách cục" nói rằng tứ trụ đã đủ phù ức thì không nhất thiết đi tìm cách cục riêng biệt, đừng câu chấp vào chữ Quan trong câu phú. Đó chính là khuôn phép bất di bất dịch để chọn đúng dụng thần.
Dụng thần bị phá không có nghĩa là nguyệt lệnh vô dụng
Cái gọi là nguyệt lệnh vô dụng vốn là nguyệt lệnh hoàn toàn không có dụng thần để chọn. Người ngày nay không hiểu, hễ gặp Tài bị Kiếp đoạt, Quan bị Thương hủy hoại thì cho rằng dụng thần đã hỏng, coi như nguyệt lệnh không chọn được dụng thần, rồi bỏ đi để theo ngoại cách. Đó là sai lầm của sai lầm.
Câu "Tài bị Kiếp, Quan bị Thương" nghĩa là lá số không có thần khí nào ra cứu ứng, mà không có cứu ứng thì là phá cách, chứ không phải nguyệt lệnh vô dụng. Bát Tự vốn tốt thì ít, xấu thì nhiều, người phú quý ít ỏi, kẻ bần tiện đầy rẫy; người thành công cũng ít, người thất bại thì nhiều. Tiếc là người đem mệnh đi xem lại thường mang trong lòng hoài bảo chưa thành, hy vọng ở tương lai, nên nếu nghe nói Tài bị Kiếp, Quan bị Thương thì họ bịt tai chạy mất. Thế là thuật sĩ hành nghề liền đoán ý, hùa theo tâm lý khách, giải đoán mà không bàn đến dụng thần, chỉ lôi thần sát, cách cục, nạp âm ra nói cho qua chuyện. Sai lầm này đã tồn tại từ lâu, người bàn mệnh lý cần nhận ra điều đó.
Lục thân từ quẻ Dịch đời Hán bước vào Bát Tự
Thân nghĩa là gần gũi, thương yêu. Lục thân là sáu hạng người gần gũi thương yêu nhất của mình: cha, mẹ, vợ, con, anh chị, em. Cung phận là cung được gán cho một nhiệm vụ cụ thể, như một danh phận của cung. Con người có lục thân, đem phối vào Bát Tự thì mới định ra được số mệnh.
Người ta có Lục thân, phối vào Bát Tự là kết hợp với nó để định ra số mệnh.
Danh từ Lục thân có từ rất lâu, nghĩa đơn giản mà đầy đủ. Đời Hán, hai nhà Tiêu Cống và Kinh Phòng khi giải quẻ đã lấy khắc ta là Quan Quỷ, ta khắc là Thê Tài, sinh ta là Phụ Mẫu, ta sinh là Tử Tôn, đồng khí với ta là Huynh Đệ, tất cả đều là lục thân của chính mình. Cách phối lục thân trong mệnh lý thực ra thoát thai từ đó, tên gọi tuy khác mà lý luận chỉ là một. Tiêu Cống được công nhận là người phát minh trước rồi truyền cho Kinh Phòng. Lý thuyết tượng quẻ liên quan đến hai người ấy gọi là Kinh Tiêu Dịch, khác với Mai Hoa Dịch, nhưng nay không còn dùng.
Bốn trụ là bốn ngôi: tổ tiên, cha mẹ, vợ, con
Từ các cung phân phối ra, thì trụ năm, tháng, ngày, giờ lần lượt từ trước ra sau, phối thành ông, cha, vợ, con, cũng là từ trên xuống dưới. Dùng nền tảng tự nhiên ấy phối với nhau, so khớp nhau mà thành những địa vị bất biến trong mệnh lý. Phân biệt cung chính là phân biệt các địa chi. Chi năm là gốc tổ tiên, chi tháng là cung cha mẹ, chi ngày là cung vợ chồng, chi giờ là cung con cháu. Từ trên xuống dưới là từ gốc đến ngọn, kết hợp các chi với địa vị trong gia đình xã hội.
Phàm hỉ dụng tụ ở chi năm hoặc chi tháng thì tổ tiên giàu có sung túc, cha mẹ được thừa hưởng phúc ấm ấy, bản thân từ nhỏ đã hưởng gia nghiệp. Hỉ dụng tụ ở chi ngày thì vợ thiếp giúp ích cho mình. Hỉ dụng tụ ở chi giờ thì con cháu ắt có năng lực, và cuối đời càng tốt hơn. Năm là nơi xuất thân, giờ là chốn đi về hay kết cuộc của một đời người. Xuất thân tốt thì biết mình sẽ hưởng phúc ấm tổ tiên; kết cuộc tốt thì biết con cháu đủ năng lực, cũng là lẽ tự nhiên mà thôi.
Vì sao Thiên Tài là cha, Quan Sát là con
Còn nếu dùng thập thần để phối lục thân thì Chính Ấn là mẹ, vì để tạo nên thân hình mình phải có người mẹ sinh ra mình. Nhưng Thiên Tài là thứ ta khắc chế, sao lại thành cha ta? Là vì Thiên Tài chính là chồng của mẹ; Chính Ấn là mẹ thì Thiên Tài là cha. Chính Tài là vợ, là kẻ bị ta khắc chế, vì chồng là chủ đạo nên vợ phải theo. Quan Sát như kẻ khắc chế ta, sao lại thành con cái? Vì Quan Sát do Tài sinh ra, mà Tài là thê thiếp, nên Quan Sát chính là con cái của ta. Còn Tỉ Kiên là anh em thì lẽ ấy hiển nhiên.
Giáp lấy Quý làm Chính Ấn thì Mậu là Thiên Tài, Mậu và Quý hợp nhau như vợ chồng kết duyên. Bính lấy Ất làm Chính Ấn thì Canh là Thiên Tài, Ất và Canh hợp nhau; các thần khác cứ thế mà suy. Năm can âm theo năm can dương mà chọn, như sinh ngày Ất thì lấy Quý làm mẹ, lấy Mậu làm cha.
Nói rằng cha mẹ là người che chở ta, Thê Tài là kẻ hầu hạ ta, Quan Quỷ là kẻ khắc chế ta, Tử Tôn là con cháu của ta, Huynh Đệ là kẻ đồng khí với ta, rồi coi đó là định luật thì thật dại dột. Thiên Tài là thứ ta khắc, sao lại là cha ta? Khắc ta là Quan Sát, sao lại thành con ta? Điều này xuất phát từ lẽ tự nhiên ở đời: người ta chịu sự cấm đoán của cha mẹ thì ít, còn chịu sự ràng buộc của con cái thì nhiều. Bộ Trích Thiên Tủy chinh nghĩa lấy Ấn làm cha mẹ, lấy Thực Thương làm con cái, có phần phù hợp với Dịch Kinh Tiêu, lý ấy đã thông nên không cần bàn nữa. Lại có thuyết cho Thiên Ấn là mẹ kế, Tỉ Kiên là anh, Kiếp Tài là em, thuyết nào cũng có chỗ ứng nghiệm.
Hỉ kị của từng thần mới là chỗ xem đắc lực hay không
Muốn dùng thập thần để phối lục thân thì càng phải xét kỹ các cung phân định địa vị cùng với hỉ kị của nó, như vậy cơ bản khó sai. Số mệnh thường không hiển lộ rõ rệt. Như đời Thanh, khi có đại tang cha mẹ thì quan trường mất một giai đoạn thăng trầm, xem ở vận hạn rất dễ thấy; trong mệnh có thì đời thực cũng có. Còn người ngày nay lễ nghi hủy bỏ, cha mẹ còn mất không còn quan hệ gì đến tiến thoái hoạn lộ, nên trong mệnh vận không hiện rõ. Cung vợ chồng gắn liền hạnh phúc cả đời, đắc lực hay không rất rõ ràng, người học thông minh tự giải thích được.
Lấy tứ trụ mà xét, lấy Tài Quan Thương Nhận quan hệ với tượng nào, rồi phối Lục thân với dụng thần.
Đắc lực hay không, cát hay hung, cứ lấy tứ trụ mà xét, hoặc lấy trụ năm trụ tháng hay trụ ngày trụ giờ để định Tài, Quan, Thương, Nhận có quan hệ với tượng nào, rồi lấy lục thân phối với thập thần. Xem trong cách cục biến ra hỉ kị thế nào, thêm sự phối hợp của nó, thì khó mà sai được.
Lấy Ấn làm mẹ, lấy Tài làm vợ, nhưng nếu cả lá số không có Tài hay Ấn thì sao? Dùng Thực mà gặp Ấn đoạt Thực, dùng Ấn mà gặp Tài phá Ấn thì sao? Ở chỗ này phải đánh giá linh hoạt rồi đúc kết lại, không thể câu chấp. Đại để từ hỉ kị của Ấn mà xem cha mẹ, chưa chắc phải coi Ấn là mẹ; từ hỉ kị của Tài mà xem cung vợ, chẳng cần nhất định coi Tài là vợ. Nhật chủ hỉ Ấn mà gặp Tài phá thì tổ nghiệp lụn bại; nhật chủ kị Ấn mà gặp Tài phá thì lại thành hưng gia lập nghiệp. Thân vượng hỉ Tài mà gặp Tỉ Kiếp phân đoạt thì khắc vợ; ngược lại thân nhược Tài nặng thì dù không có Tỉ Kiếp phân đoạt cũng khắc vợ. Còn Thương Nhận phối với hỉ kị thế nào thì tùy từng lá số mà xem.
Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.
