Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Mười hai ngôi từ Trường Sinh đến Dưỡng: dương thuận âm nghịch và chuyện kho mộ

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202611 phút đọc4 lượt đọc
Mười hai ngôi từ Trường Sinh đến Dưỡng: dương thuận âm nghịch và chuyện kho mộ

Giáp sinh ở Hợi mà chết ở Ngọ, Ất sinh ở Ngọ mà chết ở Hợi, nghe như điều ngược đời. Nhưng cành lá sum xuê bên ngoài có thể là lúc sinh khí bên trong đã cạn. Một đời người xoay qua mười hai ngôi như thế nào, và vì sao kho mộ không cần đợi xung mới mở...


Can thì động mà chi thì tĩnh, và vì sao có mười hai ngôi

Thiên can là khí chạy không nghỉ, địa chi là chỗ đứng yên theo lẽ thường. Thẩm Hiếu Chiêm lấy mỗi can chạy qua mười hai tháng, mỗi tháng một ngôi, mà an ra các ngôi sinh vượng mộ tuyệt.

Từ Nhạc Ngô nhắc rằng thuyết này có từ rất xưa. Sách Hoài Nam Tử chép rằng khí mùa xuân thì Mộc mạnh, Thủy già, Hỏa sinh, Kim tù, Thổ chết. Sách Thái Bình Ngự Lãm, ở bài bàn về hưu vượng của ngũ hành, chép rằng đầu xuân thì Cấn vượng, Chấn tướng, Tốn thai, Ly mất, Khôn chết, Đoài tù, Càn bỏ, Khảm hưu. Tên gọi hơi khác nhau nhưng ý đều như nhau. Người đời sau lấy mười hai chi phối vào bát quái mà định ra thứ tự mười hai ngôi từ Trường Sinh, Mộc Dục cho đến Thai, Dưỡng. Đó là thuyết của hạng thuật sĩ, nhưng hợp với lẽ tự nhiên của trời đất. Lời nói bình dân mà chứa ý rất tinh túy, học âm dương ngũ hành không ra ngoài lẽ ấy.

Dương thuận mà âm nghịch: Giáp sinh ở Hợi, Ất sinh ở Ngọ

Nguyên văn nói: dương chủ về tụ, lấy tiến làm tiến, nên gọi là thuận; âm chủ về tán, lấy lùi làm lùi, nên gọi là nghịch. Cũng là Trường Sinh, Mộc Dục, nhưng dương đi thuận còn âm đi nghịch nên khác nhau. Bốn mùa xoay vần, công thành thì lui, hết dụng thì tiến, vì thế mỗi tháng quay vòng mà sinh vượng mộ tuyệt vẫn nhất định. Nơi dương sinh thì âm chết, thay phiên nhau, là lẽ xoay vần tự nhiên.

Lấy Giáp Ất làm ví dụ. Giáp là Mộc dương, là Mộc cành lá, nhận khí trời sinh, tự thu tàng no đủ, có thể dùng để chế sự phát tiết, nên sinh ở Hợi. Đến tháng Ngọ cành lá sum xuê, vậy sao Giáp lại chết ở Ngọ? Là vì chẳng xét kỹ: bên ngoài tuy phồn thịnh nhưng bên trong sinh khí đã phát tiết đến hết, nên nói Giáp tử ở Ngọ. Ất mộc thì ngược lại: tháng Ngọ cành lá phồn thịnh là được sinh, tháng Hợi cành trụi lá rụng là chết. Đó là bàn theo chất, khác với bàn theo khí.

Từ Nhạc Ngô cho rằng sinh vượng mộ tuyệt vốn là chỗ của ngũ hành, không phải của mười can. Gọi tên mười can chi chỉ để đại diện cho ngũ hành có âm có dương, mà ngũ hành tuy chia âm dương thật ra vẫn là một. Giáp Ất cùng là một Mộc, chẳng chia làm hai. Dần, Thân, Tỵ, Hợi là nơi ngũ hành Trường Sinh và Lâm Quan; Tý, Ngọ, Mão, Dậu là nơi vượng; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là nơi mộ. Không phải can âm can dương mỗi bên có Trường Sinh, Lộc, Vượng, Mộ riêng. Ông cũng chê rằng nhiều sách thuật số chỉ nói ngũ dương trường sinh mà bỏ qua ngũ âm trường sinh, chỉ nói dương nhận mà không nói âm nhận. Người đời sau chưa rõ lý mà muốn bênh thuyết ấy thì bẻ lý vụn vặt: có người nói ngũ âm không có Nhận, có người nói ngôi trước là Nhận, có người nói ngôi sau là Nhận, ví dụ Ất lấy Dần hoặc Thìn, mỗi người một ý, chẳng biết theo ai.

Mười hai ngôi như một đời người, từ lúc chào đời đến lúc nằm trong bụng mẹ

Chi có mười hai tháng, và mỗi can từ Trường Sinh đến Dưỡng cũng chia thành mười hai ngôi. Khí của chi từ thịnh sang suy, suy rồi lại thịnh, nên chia nhỏ ra mười hai tiết. Thẩm Hiếu Chiêm mượn hình ảnh đời người để mô tả từng ngôi.

Trường Sinh như người vừa sinh ra. Mộc Dục như người sau khi sinh được tắm gội cho sạch, như hạt quả đã thành thì trước phải lột vỏ rồi mới rửa. Đến Quan Đới thì hình khí lớn dần, như người đến tuổi trưởng thành. Lâm Quan là đã trưởng thành, đang mạnh mẽ, chừng ba mươi tuổi, như người có khả năng ra làm quan. Đế Vượng là lúc tráng thịnh đến cùng cực, như đại thần phò vua giúp nước. Thịnh cùng cực thì suy kém; Suy là lúc vật bắt đầu biến. Bệnh là lúc đã suy quá. Tử là khí đã tận, chẳng còn. Mộ là tạo hóa thu tàng, như người được chôn xuống đất. Tuyệt là khí trước đã hết mà khí sau chưa nối. Thai là khi khí tiếp nối kết tụ thành bào thai; Dưỡng là bào thai được nuôi trong bụng mẹ. Nối tiếp như vậy nên vòng trường sinh xoay mãi không dứt.

Bảng chú giải ghi ý nghĩa từng ngôi như sau: Trường Sinh là mọc mầm, nảy sinh; Mộc Dục là vừa sinh ra, lộ dạng; Quan Đới là dần mạnh lên; Lâm Quan là trưởng thành; Đế Vượng là thành thục, mạnh cực độ; Suy là bắt đầu giảm; Bệnh là khốn đốn; Tử là bị diệt, suy tàn; Mộ là trở về nơi tàng trữ; Tuyệt là mọi khí đều mất hết; Thai là khí lại bắt đầu giao nhau, kết thành thai; Dưỡng là đang phát mầm.

Bảy mươi hai ngày của mỗi hành, và chỗ ẩn của các can trong chi

Từ Nhạc Ngô tính cụ thể: một năm ba trăm sáu mươi ngày chia cho năm hành, mỗi hành được bảy mươi hai ngày. Mộc vượng ở mùa xuân chiếm sáu mươi ngày, một nửa thuộc Giáp, một nửa thuộc Ất, cộng chín ngày Trường Sinh và ba ngày Mộ khố, vừa đủ bảy mươi hai ngày. Thổ vượng ở bốn mùa, mỗi tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi có mười tám ngày, cộng lại cũng bảy mươi hai ngày nữa.

Ở Dần, Giáp mộc Lâm Quan, còn Bính và Mậu Trường Sinh; vì vậy nói Dần tàng nhân nguyên là Giáp, Bính, Mậu. Mão là đất của Mộc mùa xuân, Mộc chuyên vượng, gọi là Đế Vượng. Đế là chúa tể; Kinh Dịch nói đế xuất ở quẻ Chấn, là phương Mộc làm chúa tể, không có khí khác xen vào, nên Mão chỉ tàng Ất. Thìn là nơi Mộc còn dư khí, Thủy nhập mộ, mà Thổ vốn là bản khí, nên tàng Mậu, Ất, Quý. Thìn Tuất là Thổ dương nên tàng Mậu; Sửu Mùi là Thổ âm nên tàng Kỷ. Các can này đều gọi là tạp khí. Dần, Thân, Tỵ, Hợi gọi là bốn nơi sinh, cũng là bốn nơi lộc; Tý, Ngọ, Mão, Dậu là nơi khí chuyên vượng một phương; Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là bốn nơi mộ.

Ông cũng giải thích vì sao thuyết nói Bính Mậu sinh ở Dần mà không nói Nhâm Mậu sinh ở Thân. Thổ ở trung ương, gửi ở bốn góc. Thổ nhờ Hỏa sinh thì sinh ở Dần, lộc ở Tỵ; nhờ Thủy sinh thì sinh ở Thân, lộc ở Hợi. Chỉ riêng ở Dần và Tỵ có Bính hỏa giúp đỡ nên Thổ vượng, dùng được; ở Thân và Hợi thì lạnh ẩm, hư phò, sức bạc nhược nên không dùng. Thiên can ẩn ở địa chi, càn là thể, khôn là dụng, phân tích âm dương rất tinh mật.

Gặp kho mà không cần xung: thế nào là có gốc

Nguyên văn nói rằng người ta lấy chi ngày làm chủ. Nếu ở nguyệt lệnh không gặp sinh hay lộc vượng thì là hưu tù; nhưng chi giờ hay chi năm gặp trường sinh, lộc vượng thì yên, không nhược; gặp mộ khố cũng đều là có gốc. Có sách tục nói xằng rằng trường sinh phải nhờ khố mà xung ra, điều đó không đúng. Chỉ trường sinh của dương mới có lực; trường sinh của âm chẳng có chút lực nào, nhưng cũng không nhược. Nếu gặp khố thì dương có gốc, âm thì không có dụng. Dương lớn bao trùm âm nhỏ, dương kiêm được âm mà âm không kiêm nổi dương; đó là lý tự nhiên.

Từ Nhạc Ngô giải thích: địa chi tàng các can, gốc đứng yên chờ dụng; khi can ở trên đầu thấu ra thì cái dụng ấy hiển hiện. Nên nói can lấy thông căn làm tốt, chi lấy thấu ra làm quý. Trích Thiên Tủy có câu rằng thiên can toàn một khí thì không gánh nổi đức lớn của đất; ba loài động vật, thực vật, khoáng vật ở đất cũng không dung nổi đạo trời mênh mông. Như trụ bốn Tân Mão hay bốn Bính Thân, tuy can chi cùng một khí mà không thông căn nên không đủ quý. Đất có ba loài, ứng với việc tàng ba can; nếu không thấu ra thì không hiện dụng được.

Thiên can thông căn không chỉ ở lộc vượng mới tốt; trường sinh có dư khí hay mộ khố đều là căn. Như Giáp Ất mộc gặp Dần Mão thì gọi là thân vượng, còn gặp Hợi, Thìn, Mùi cũng đều có gốc. Thuyết gặp khố tất phải xung ông cho là lầm lẫn đáng cười. Thìn là gốc của Mộc phương đông; trong hai mươi ngày sau tiết Thanh Minh, Ất mộc nắm lệnh, dư khí còn vượng, cần gì nhờ khố? Thổ là khí gốc thì khố của nó ở đâu? Kim Hỏa trong khố chẳng có, xung ra thì được ích gì? Chỉ có Nhâm Quý Thủy gặp khố mà thấu ra thì đều dùng được. Quý thủy tàng gốc, gặp Nhâm thấu ra thì mộ vốn là theo ngũ hành mà luận, không phân âm dương.

Ông cũng lưu ý rằng chuyện này tuy chỉ nói đến ngày chủ, nhưng can của năm, tháng, ngày đều như vậy: được khí ở nguyệt lệnh thì tự mình mạnh nhất; nếu bị hưu tù ở nguyệt lệnh mà trong chi của năm, tháng, ngày có sinh, lộc, vượng, dư khí hay mộ thì đều là thông căn.

Mười hai tháng chia ngày cho từng can

Bảng nhân nguyên tư lệnh cho biết quá trình từ sinh đến tử của vạn vật chia thành năm giai đoạn hợp với năm hành: vượng là đang phát triển mạnh, tướng là đã phát triển nhưng đứng yên, hưu là nghỉ ngơi, tù là suy giảm, tử là bị khắc chế hoàn toàn. Một năm tính gọn ba trăm sáu mươi ngày thì mỗi giai đoạn chiếm bảy mươi hai ngày; một năm có hai mươi bốn tiết khí thì mỗi tiết trung bình mười lăm ngày. Nhưng địa chi hành quyền trong mười hai tháng còn chứa bản khí, trung khí và dư khí khác nhau, nên số ngày tư lệnh được chia như sau, can cuối cùng của mỗi tháng là bản khí.

Tháng giêng, Dần, tiết Lập Xuân: Mậu và Kỷ chung bảy ngày, Bính bảy ngày, Giáp mười sáu ngày. Tháng hai, Mão, tiết Kinh Trập: Giáp mười ngày, Ất hai mươi ngày. Tháng ba, Thìn, tiết Thanh Minh: Ất chín ngày, Quý ba ngày, Mậu mười tám ngày, là Thổ cuối mùa. Tháng tư, Tỵ, tiết Lập Hạ: Mậu năm ngày, Canh chín ngày, Bính mười sáu ngày. Tháng năm, Ngọ, tiết Mang Chủng: Bính mười ngày, Kỷ chín ngày, Đinh mười một ngày. Tháng sáu, Mùi, tiết Tiểu Thử: Đinh chín ngày, Ất ba ngày, Kỷ mười tám ngày, là Thổ cuối mùa.

Tháng bảy, Thân, tiết Lập Thu: Mậu và Kỷ chung mười ngày, Nhâm ba ngày, Canh mười bảy ngày. Tháng tám, Dậu, tiết Bạch Lộ: Canh mười ngày, Tân hai mươi ngày. Tháng chín, Tuất, tiết Hàn Lộ: Tân chín ngày, Đinh ba ngày, Mậu mười tám ngày, là Thổ cuối mùa. Tháng mười, Hợi, tiết Lập Đông: Mậu bảy ngày, Giáp năm ngày, Nhâm mười tám ngày. Tháng mười một, Tý, tiết Đại Tuyết: Nhâm mười ngày, Quý hai mươi ngày. Tháng mười hai, Sửu, tiết Tiểu Hàn: Quý chín ngày, Tân ba ngày, Kỷ mười tám ngày, là Thổ cuối mùa.

Từ bảng này thấy bốn tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là chỗ chuyển giao mùa rất rõ, và Thổ ở những ngày cuối mùa hành quyền rất mạnh. Khi đã sang mùa, Thổ còn lại vài ngày gọi là dư khí. Bản khí là hành cùng với địa chi; sang tháng sau, hành ấy còn đọng lại vài ngày nhưng chỉ là dư khí. Ví dụ cuối Lập Xuân thì Giáp mộc mạnh, sang tháng hai mười ngày đầu vẫn còn khí thừa của Giáp nhưng không mạnh bằng. Những tháng giữa mùa, Mão, Ngọ, Dậu, Tý, thường được cho là thuần khí nhất vì là đỉnh của mùa nên chỉ tính bản khí; ví dụ tháng Mão thuần Ất mộc, tính âm mạnh. Khi xét nguyệt lệnh cần nhớ những điều này để chọn dụng thần, vì nếu bản khí không mạnh thì không nên chọn, dụng thần sẽ không có lực.

Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc