Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Phong Thủy Hoán: tan bè riêng để hợp được cả thiên hạ

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202614 phút đọc4 lượt đọc
Phong Thủy Hoán: tan bè riêng để hợp được cả thiên hạ

Gió thổi trên nước, sóng vỡ tung tóe, và có người tự đem bè đảng của mình ra tan đi trước. Người đời chê sao dại thế, mà chính cách tan ấy lại gom được cả bầy thiên hạ. Tan thế nào thì thành tụ?


Hoán là tan: gió thổi trên mặt nước, sóng vỡ tung ra

Quẻ số năm mươi chín là Phong Thủy Hoán, thuộc hàng quẻ bình, ứng với tháng ba. Hoán nghĩa là tản đi, tiêu tan, không tụ lại một chỗ. Quẻ trên là Tốn, là gió; quẻ dưới là Khảm, là nước.

Phong hành thủy thượng, Hoán. Tiên vương dĩ hưởng vu Đế, lập miếu.

Lời Tượng nói gió đi trên nước là quẻ Hoán, tức tiêu tan. Các bậc tiên vương nhìn đó mà dâng lễ lên Thượng đế và dựng miếu thờ, để quy tụ lòng người cho khỏi tản mát.

Người sinh vào tháng ba gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng mộng vào đường thăm cõi thiên thai, lên non chuyện ấy hẹn cùng ai; sắc xuân hương lạ gió bay, cảnh xưa hoa nở lần này đẹp hơn.

Tan mà vẫn hanh thông: vua đến nhà Thái miếu, gan vượt sông lớn

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói lìa tan mà hanh thông; vua tới nhà Thái miếu, vượt qua sông lớn thì lợi, giữ đạo chính thì lợi. Quẻ trên là gió, dưới là nước; Khảm cũng có thể hiểu là mây, như quẻ Thủy Lôi Truân cũng gọi là Vân Lôi Truân. Gió thổi trên nước làm nước tung tóe ra, hay thổi trên mây làm mây tan rã, cho nên đặt tên quẻ là Hoán.

Thường thì nhóm họp mới hanh thông, như quẻ Tụy; nhưng ly tán cũng có khi hanh thông. Chẳng hạn sương mù tụ lại nhiều quá, nắng lên mà tan đi thì tốt; hoặc thời nhiều loạn, dân chúng tụ họp lại chống đối, phải giải tán đi. Hễ hợp thời thì tốt, trái thời thì xấu. Muốn cho công việc giải tán hanh thông thì nhà cầm quyền phải có lòng chí thành, như một ông vua đến nhà Thái miếu; lại phải biết mạo hiểm, như có gan vượt qua sông lớn; sau cùng phải giữ đạo chính, đừng làm những việc bất chính.

Phan Bội Châu phụ chú: Dịch học vẫn có tượng, nhưng gốc cốt ở lý. Vì lý vô hình, tượng hữu hình, nên phải mượn tượng hữu hình để tỏ rõ lý vô hình. Lời quẻ Hoán nói lợi qua sông lớn, đến Thoán truyện lại giải thích rằng dùng thuyền gỗ mà qua sông. Vậy là chỉ nói việc chèo thuyền qua sông hay sao? Không phải. Làm công việc cứu thời Hoán tất phải mạo hiểm như vượt sông, mà muốn vượt sông tất phải cậy đến tài năng của chiếc thuyền. Thuyền đó chính là nhân tài. Thuyền gỗ qua sông là ý nói nương dựa vào nhân tài mà vượt hiểm.

Dự báo cho quẻ Hoán: thời ly tán, khó nhiều thuận ít, phải gian khổ mới dựng nên sự nghiệp

Quẻ Hoán chỉ thời vận ly tán, khó khăn nhiều, thuận lợi ít, lòng người không yên, phải gian khổ lắm mới tạo dựng được sự nghiệp. Mọi công việc tiến hành không dễ dàng.

Tài vận khó khăn, phải tha phương cầu thực; đi xa thuận lợi; chuyên nghề có thể thành công; thi cử ở nơi xa thì tốt hơn; tình yêu bất định, mông lung, dễ nghi ngờ lẫn nhau; hôn nhân khó thành.

Hào sơ lục: gom lại bằng con ngựa khỏe, nhờ có bậc dương cương đỡ phía sau

Hào âm, hào tốt. Dùng cách cứu vớt cho khỏi tan, có con ngựa khỏe, tốt.

Dụng chửng, mã tráng, cát.

Hà Lạc nói cứu sự lìa tan, có dương cương giúp nên cứu được.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở đầu thời ly tán, còn có thể gom lại được. Hào âm nhu kém tài, không đủ sức, nhưng trên có hào hai dương cương, đắc trung, ỷ thác vào được, như đi đường xa có con ngựa khỏe, cho nên tốt.

Người mệnh hợp cách có tài đức, lại ra sức làm, gặp được tri kỷ, nên lòng người cảm phục, thế nước vững bền. Người mệnh không hợp cách cũng khởi động dễ dàng, được người giúp.

Về vận hạn: quan chức thăng chuyển nhanh; giới sĩ có vận bay nhảy; người thường được bậc tôn trưởng đề cử nên mưu việc toại ý. Câu thơ của hào nói tin nhà từ độ đi Nam, lợi danh thông đạt, chẳng ham vàng nhiều.

Hào cửu nhị: chạy đến chỗ ghế dựa, có căn cứ thì khỏi hối hận

Hào dương, hào tốt. Thời lìa tan, chạy đến chỗ ghế dựa, tức hào một, thì khỏi ăn năn. Tốt cho binh nghiệp; ý hào là cần phải có chỗ dựa, như người có căn cứ sẽ tránh được ly tán.

Hoán, bôn kỳ ky, hối vong.

Hà Lạc nói có đất căn cứ nên cứu được sự lìa tan.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở vào thời ly tán rồi, dễ có việc ăn năn; hào dương cương này đã giúp được hào một, bây giờ nên dựa vào hào một làm ghế ngồi, đỡ đần nhau thì khỏi hối hận.

Người mệnh hợp cách gặp thời Hoán, biết cơ biến, biết tìm chỗ dựa để cứu vớt thì phục hưng được, trước gian khổ sau dễ dàng. Người mệnh không hợp cách lìa nhà, một mình kinh doanh, gặp gian nan, buổi đầu thất chí; yên tĩnh lâu lâu gặp người giúp đỡ, tránh được sa cơ, muộn sau mới toại nguyện.

Về vận hạn: quan chức làm trưởng, cầm quyền bính, hoặc được phong tướng, dự mưu quốc sự; giới sĩ nên danh; người thường mưu vọng việc nhà thành, tăng đạo thụ ấn, giữ được cơ nghiệp; có vốn thì kinh doanh được. Số xấu thì chạy ngược chạy xuôi, thất lạc, trốn tránh. Câu thơ của hào nói tìm chỗ dựa buổi ly tan, nhìn vào tâm sự thì nguy an rõ rồi.

Hào lục tam: bỏ cái thân riêng mình để gánh việc chung thì khỏi hối

Hào âm, hào bình. Tiêu tan cái thân riêng mình, tức hy sinh cái tiểu ngã, cái lợi riêng, thì khỏi ăn năn. Hào ba bất trung bất chính, ví như kẻ tư lợi mà biết dứt bỏ tư lợi của mình.

Hoán kỳ cung, vô hối.

Hà Lạc nói đem thân để cứu nạn.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu bất trung bất chính, là người có lòng vị kỷ, nhưng ở vị dương lại được hào trên cùng chính ứng với nó, mà có lòng lo việc đời, vì hào trên là dương cương. Nếu hào ba bỏ tính vị kỷ đi, lo gánh việc đời với hào trên cùng thì sẽ không hối hận.

Người mệnh hợp cách nắn cái thiên lệch để về với cái chính, bớt thái quá để tới trung dung, chỉ lo việc lớn, trên vì nước, dưới vì dân; là người biết tu thân, hy sinh quyền lợi cá nhân vì nghĩa lớn, là tấm gương cho mọi người, giữ được phúc lộc. Người mệnh không hợp cách cũng là người chí công vô tư, được mọi người kính trọng; xa người thân, gần người sơ, lìa nhà lập nghiệp, chẳng vinh chẳng nhục, hoặc đi tu để dưỡng tâm.

Về vận hạn: quan chức ở đô thị thì đổi đi địa phương, tai ách tiêu tan; giới sĩ lợi ở bên ngoài, biết tu thân sẽ thành đạt; người thường hoạch lợi, kinh doanh phát đạt. Câu thơ của hào nói lộc còn cách mấy trùng non, quyết tâm vin tới, trăng ngàn soi chung.

Hào lục tứ: tan cái đàn nhỏ để gom thành gò lớn, kẻ tầm thường nghĩ chẳng ra

Hào âm, hào tốt. Tan cái đàn nhỏ là tốt nhất; tan mà có đoàn lớn thay vào, không phải kẻ tầm thường nghĩ được. Là người biết bỏ lợi nhỏ để mưu cầu việc lớn.

Hoán kỳ quần, nguyên cát, hoán hữu khâu, phỉ di sở tư.

Hà Lạc nói bỏ cái bé, dựng cái lớn, phải trù tính mưu kế, hoạch định cho chí lý.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, thuận giúp đỡ hào năm vừa cương vừa đắc trung, như một vị đại thần giúp một minh quân, mà biết giải tán bè phái của mình. Sở dĩ nói vậy vì hào một ở dưới không ứng viện với hào bốn, cũng như hào bốn không còn bè phái. Giải tán để đoàn kết tập hợp cả quốc dân mà cùng lo cứu nước, như vậy là giải tán cái nhỏ để gom cái lớn lại thành gò đống, rất tốt. Người thường không hiểu lẽ đó mà chê sao lại giải tán đảng của mình. Muốn vậy phải là người đắc chính, tức âm ở vị âm như hào bốn, và đắc trung, cương cường như hào năm.

Phan Bội Châu phụ chú: ba hào ở dưới chỉ ở thời Hoán mà lo cho khỏi hoán, đến hào bốn âm này lại lấy một cách hoán mà làm cho mất hoán. Người ta chỉ biết là tan mà không biết cách tan của hào bốn. Tan cái rất ít mà nhóm được cái rất nhiều; tan bầy của mình mà hợp được bầy cả thiên hạ. Công việc to lớn như thế, thủ đoạn lạ lùng như thế, há người thường mà nghĩ được hay sao?

Người mệnh hợp cách giải tán bè đảng mình để hòa với đảng lớn, lập công phi thường. Người mệnh không hợp cách tài đức hơn người, có danh có lợi, nhưng tụ tán không nhất quán.

Về vận hạn: quan chức hay đứng đầu tỉnh quận; giới sĩ tài vượt người, đỗ ưu; người thường có hưng thì có tán, có mưu vọng thì thành. Số xấu thì chẳng lợi, có triệu chứng chôn cất trên gò cao. Câu thơ của hào nói mấy khi chủ khách đồng tâm, gió sông quạt mộng, hạc bồng mây xanh.

Hào cửu ngũ: ban lệnh lớn như mồ hôi tuôn, tán cả kho vua cho dân

Hào dương, hào bình. Tiêu tan như mồ hôi, tức ban các hiệu lệnh lớn để cho dân thư thái; tiêu tan kho chứa nơi vua ở để cấp phát cho dân, thì không còn lỗi gì. Nhiều thay đổi, loạn lạc, gian nan, nhưng vượt qua được.

Hoán hãn kỳ đại hiệu, hoán vương cư, vô cữu.

Hà Lạc nói rút quân về, mở rộng đức ra.

Nguyễn Hiến Lê giảng: năm chữ hoán hãn kỳ đại hiệu tối nghĩa. Chu Hy giảng là hủy bỏ các hiệu lệnh trước đi, những hiệu lệnh đó như mồ hôi đã chảy ra mà không trở lại. Ông theo Phan Bội Châu mà dịch như trên, tức ban bố hiệu lệnh đi khắp nơi. Ba chữ hoán vương cư thì nghĩa dễ hiểu: vua nên tán tài để tụ dân, cũng như hào bốn giải tán bè phái để tụ dân, đều là chính sách tốt ở thời ly tán cả.

Người mệnh hợp cách tài cao, vị trọng, đức đủ để các đơn vị nhỏ thân phục, sự nghiệp hiển hách, phúc trạch lớn. Người mệnh không hợp cách chí khí hơn người, dù chẳng phú quý cũng có tiếng tăm.

Về vận hạn: quan chức và giới sĩ có thăng chuyển, có tiến thủ, có tai họa thì tiêu tan, cầu lợi được lợi. Câu thơ của hào nói trên ra mệnh lệnh, dưới đáp theo; băng tan, hiểm họa hết, gió thanh khí hòa.

Hào thượng cửu: máu tan, nỗi sợ bị đẩy đi, cuối cùng đổi nguy thành an

Hào dương, hào tốt. Hết thời ly tán, có thể đổi nguy thành an. Thời hoàn, trừ được cái hại huyết đau, tống được điều sợ hãi đi, là không lỗi gì.

Hoán, kỳ huyết khử, dịch xuất, vô cữu.

Hà Lạc nói có công cứu thời Hoán, không hổ thẹn.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở cuối thời ly tán, sắp hết; nó có tài vì dương cương, lại được hào ba ứng viện, cho nên thành công, trừ được vết thương ly tán và thoát được cảnh lo sợ.

Phan Bội Châu phụ chú: Hoán với Tụy là hai quẻ đối lập nhau mà cũng là hai quẻ tương ứng nhau. Hai quẻ chung một chữ hanh; đó là lẽ trong thiên hạ: Tụy vẫn hanh mà Hoán cũng hanh được. Hai quẻ lại cùng chung một câu là vua tới nhà Thái miếu; cớ vì sao? Bởi làm việc thiên hạ, không kể lúc thường hay lúc biến, cảnh thuận hay cảnh nghịch, căn bản không lúc nào không cốt ở chí thành. Chí thành là tinh thần thuộc về vô hình, nên phải mượn việc tế tự để hình dung tinh thần ấy. Vua tới nhà Thái miếu nghĩa là: gặp thời Tụy cũng như gặp thời Hoán, đều phải lấy chí thành làm gốc, giống như người vào chủ tế mà tinh thần mình đối chất với thần minh. Có căn bản như thế thì việc Tụy vẫn hay, việc Hoán vẫn tốt. Chỉ đến thủ đoạn, tức phương pháp, thì tùy thời mà khác nhau.

Vậy nên quẻ Tụy có câu lợi gặp đại nhân, đến quẻ Hoán lại có câu lợi qua sông lớn mà không có câu lợi gặp đại nhân. Bởi thời Tụy là việc thường, cảnh thuận, đoàn thể có sẵn mà cơ sở vẫn không lay động; chỉ cần có người đại đức đại tài làm lãnh tụ cho quần chúng là xong, kỳ thực không có gì nguy hiểm, nên chỉ nói lợi gặp đại nhân mà không nói lợi qua sông lớn. Đến thời Hoán thì khác hẳn. Cảnh đã nghịch, việc đã biến, đoàn thể cũ đã hủ bại, cơ sở cũ đã lay động, chế độ cũ không còn bảo tồn được. Ngoài xã hội cũng như trong nội tình, những việc đáng đánh tan đã nhiều, chẳng có cách nào khác. Ở vào thời ấy mà muốn thổi gió quét mây thì nguy hiểm biết bao, tất phải vững tay cầm lái, cùng bạn chèo chống. Làm nổi công việc Hoán đâu phải một người đại tài đại đức mà xong? Nên lời quẻ không có câu lợi gặp đại nhân mà có câu lợi qua sông lớn. Thủ đoạn thời Hoán khác thủ đoạn thời Tụy; chỉ có cái căn bản, tức lòng chí thành như vua tới Thái miếu, là giống nhau. Mới biết thánh nhân khi làm Dịch thật rất thâm diệu.

Lại xem sáu hào quẻ Hoán thì nghĩa tùy thời càng sáng tỏ. Hào một là lúc đầu, còn mong cứu vớt được. Hào hai tiến vào giữa quẻ trong, ly tán, phải tìm chỗ dựa. Hào ba gần đến giữa Hoán, mới bắt tay vào làm việc Hoán, nên phải tự mình tan đi, mà nói rằng tiêu tan cái thân riêng. Hào bốn là vừa lúc giữa thời Hoán, công việc Hoán đến lúc phát triển, nhưng phải tự tan bè riêng của mình, nên nói tan cái đàn nhỏ, người thường không thể nghĩ ra. Đến hào năm thì việc Hoán đã tới ngày thành công, tới lúc đó tất phải ban bố hiến pháp mới, phân tán tài sản riêng, nên nói ban bố hiệu lệnh lớn, tán phát kho vua. Hiệu lệnh lớn không phải hiệu lệnh tầm thường. Kho vua mà còn tán thì những tích trữ cá nhân còn kể vào đâu? Việc thời Hoán đến đó, cái đáng tan đã tan sạch, quy tụ thành cái lớn, cái chung. Hoán đến cùng thì thành tụ, tụ đến lúc đó mới thật là lớn. Xã hội kiến thiết, vũ trụ hòa đồng, đều là công hiệu, kết quả của Hoán.

Người mệnh hợp cách gan trung, dạ nghĩa, cứu hiểm họa cho dân; công thành, việc trọng, hưởng vị cao lộc dày. Người mệnh không hợp cách biết thời nên lùi, đi du phương xa, tránh hiểm ra ngoài, đổi nguy thành an.

Về vận hạn: quan chức ở trung ương được tuyển đi ra ngoài, làm võ tướng thì ra trị nạn; giới sĩ dời nơi ở ẩn; người thường dời chỗ hiểm đến nơi an, kiện tụng hết, tật ách khỏi, từ tối ra sáng. Số xấu thì có tai ương, khóc ra máu. Câu thơ của hào nói đang yên sao bỗng lo âu, hoa đào kết quả, sợ thu đã về.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc