Bài tổng quan
Phong Lôi Ích: gió sấm tựa nhau, bớt trên thêm dưới và đạo ban ơn chẳng hỏi
Có người cầm cả xe khế nợ ra đi, rồi hai tay không trở về, chỉ nói là đã mua được cái nghĩa. Đến ngày bị đuổi khỏi kinh đô, cái nghĩa ấy mới hiện ra bằng mấy vạn người đứng chặn đầu ngựa... Thêm cho dưới mà trên lại được lợi, nhưng lợi đến đâu thì bỗng hóa thành họa?
Mục lục · 11 phần
- 01Ích là thêm cho kẻ dưới: gió và sấm nương nhau mà mạnh
- 02Bớt trên thêm dưới: vì sao gió sấm giúp được nhau
- 03Mạnh Thường Quân mua cái nghĩa bằng một xấp khế nợ
- 04Làm đúng thời mới là ích, làm trái thời thì thành vô ích
- 05Dự báo cho quẻ Ích
- 06Hào sơ cửu: gặp thời thì làm việc lớn
- 07Hào lục nhị: món lợi lớn như mười con rùa, không từ chối nổi
- 08Hào lục tam: được giúp bằng cách chịu hoạn nạn
- 09Hào lục tứ: đạo trung làm chỗ tựa để dời cả quốc đô
- 10Hào cửu ngũ: có lòng thành thì ban ơn chẳng cần hỏi
- 11Hào thượng cửu: cầu ích không ngừng thì bị người ghét
Ích là thêm cho kẻ dưới: gió và sấm nương nhau mà mạnh
Quẻ số bốn mươi hai là Phong Lôi Ích, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng bảy. Trên là Tốn, là gió; dưới là Chấn, là sấm. Tên quẻ có một nghĩa gốc rất đáng nhớ: Ích là Tổn, nhưng là bớt ở trên mà thêm cho dưới; bớt trên thêm dưới mới thật là Ích.
Phong lôi, Ích. Quân tử dĩ kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải.
Lời Tượng nói gió sấm là quẻ Ích. Người quân tử nhìn vào đó mà hễ thấy điều lành thì dời mình đến gần điều lành, hễ thấy mình có lỗi thì sửa ngay.
Người sinh vào tháng bảy gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Sinh từ tháng hai đến tháng sáu thì phúc dày; các tháng còn lại phúc nhỏ hơn. Câu thơ của quẻ đại ý rằng cái ích và cái tổn đều nằm ở hào ba, thấy điều lành thì phải đổi mình ra theo, lộc rừng xuân mới đến, để lại trong lòng cảm khái về nếp vinh hoa.
Bớt trên thêm dưới: vì sao gió sấm giúp được nhau
Nguyễn Hiến Lê giảng: quẻ này trái hẳn quẻ Tổn. Quẻ ngoại vốn là Càn, bớt đi một hào dương thì thành quẻ Tốn. Quẻ nội vốn là Khôn, được một hào dương của Càn thêm vào thì thành quẻ Chấn. Thế là bớt ở trên để thêm cho dưới; còn quẻ Tổn là bớt ở dưới để thêm cho trên. Xét về hình tượng, sấm là Chấn, gió là Tốn, hai thứ giúp nhau: gió mạnh thì tiếng sấm đi xa, sấm lớn thì gió mới dữ. Vì vậy mới gọi là Ích.
Ý quẻ là mình ở địa vị cao mà giúp người ở bậc thấp, càng làm càng có lợi, khó khăn gì rồi kết quả cũng tốt. Lời Thoán giảng thêm: hào hai và hào năm đều đắc trung, đắc chính; lấy đạo trung chính mà giúp ích cho dân thì dân vui vẻ vô cùng, mà đạo càng sáng sủa. Nhưng quẻ này cũng như quẻ Tổn, tốt hay xấu còn tùy cách làm và tùy thời. Dân đói không có gạo ăn mà cưỡng bách đi học, dân rét không có áo mặc mà đem xà bông phát cho, thì việc giúp ích ấy chỉ thành có hại. Lời Tượng đứng về phương diện tu thân mà khuyên: thấy điều thiện thì tập làm điều thiện, thấy mình có lỗi thì sửa lỗi.
Phan Bội Châu phụ chú một câu hỏi nghe như nghịch lý: bớt dưới thêm trên thì trên vẫn được thêm, sao lại gọi là Tổn? Bớt trên thêm dưới thì kẻ trên có phần hao, sao lại gọi là Ích? Ông đáp rằng lẽ ấy đúng vô cùng. Lão Tử xưa nói muốn sang thì lấy người hèn làm gốc, muốn cao thì lấy chỗ thấp làm nền. Thấy phía trên bị lung lay, ấy là bớt dưới mà rốt cuộc kẻ trên cũng phải bớt theo. Trên chỉ lo làm lợi cho mình thì dưới bị hao, mà mình cũng chịu hao, nên quẻ ấy đặt tên là Tổn. Trái lại, trên chỉ lo làm lợi cho dưới, dưới đã nhận được ích thì cuối cùng chính mình cũng nhận được ích, nên quẻ này đặt tên là Ích. Chỉ cần nhìn hai chữ tên quẻ là thấy xưa nay đều thế cả.
Lời Thoán còn có câu rằng việc này lợi cho người vượt sông lớn. Phan Bội Châu giải: ích cho dưới lúc bình thường vô sự thì cái ích còn nhỏ; đến khi hiểm trở gian nan mới thấy được cái ích rất lớn.
Mạnh Thường Quân mua cái nghĩa bằng một xấp khế nợ
Để minh họa, Phan Bội Châu kể chuyện Mạnh Thường Quân, làm tướng quốc nước Tề, cho dân huyện Tiết vay, tính ra hàng mấy vạn. Đến kỳ thu nợ, người khách tên Phùng Hoan xin đi thay. Lúc lên đường, ông hỏi Mạnh Thường Quân thu được nợ thì mua gì đem về. Mạnh Thường Quân bảo: cứ xem trong nhà ta thiếu gì thì tùy ý anh liệu mua.
Phùng Hoan mang đầy một xe giấy khế nợ ra đi. Đến huyện Tiết, thấy dân gặp năm mất mùa đói kém, cảnh sống tiêu điều, ông họp dân lại mà nói rằng quan tướng quốc bảo ta ra đây xem dân tình chứ không phải đòi nợ; nay thấy dân khốn khó thế này, ta thay lòng tướng quốc mà tha hết nợ cho dân. Nói xong, ông đốt sạch khế ước ngay trước mặt mọi người rồi hai tay không trở về.
Mạnh Thường Quân hỏi sao hai tay không. Phùng Hoan thưa: thấy dân đói khổ quá nên tôi đốt hết khế ước. Trong nhà ngài của quý vật lạ đã dư thừa, chỉ thiếu một thứ là cái nghĩa, nên tôi đem cái nghĩa về dâng ngài. Mạnh Thường Quân không vui lòng, nhưng cũng để cho qua, mời Phùng Hoan ra nhà khách.
Chẳng bao lâu vua Tề mất, vua mới nối ngôi. Các quý thích đại thần vốn ghét thế lực của Mạnh Thường Quân, đem đủ điều gièm pha. Vua cách chức tướng quốc và ra lệnh đuổi ông khỏi kinh đô. Mạnh Thường Quân kinh hoàng lo cho tính mệnh. Phùng Hoan bàn ông gấp rút trở về huyện Tiết. Nửa đêm ông cho xe ngựa chạy mau về, tới địa giới thì mới nửa ngày. Dân huyện nghe tin ông về, già trẻ gái trai đổ ra hết, chặn trước ngựa mà hô lớn rằng cha huyện đã về, kéo đến hai bên đường có mấy vạn người.
Mạnh Thường Quân quay lại nói với Phùng Hoan rằng nay mới biết cái lợi của việc mua nghĩa lớn đến thế. Vua Tề nghe chuyện, sợ ông quá đắc nhân tâm, e có ngày làm phản, bèn mời ông về nước, cho làm lại tướng quốc như xưa, lại nghiêm trách những kẻ từng gièm pha. Xem việc ấy mới biết bớt trên thêm dưới, mà lợi ở chỗ qua sông lớn, không phải lời nói suông.
Làm đúng thời mới là ích, làm trái thời thì thành vô ích
Lời Thoán bàn thêm: đạo làm ích cho dưới tuy lớn, nhưng phải hợp với thời. Phan Bội Châu giảng: làm đúng với thời là ích, làm trái với thời là vô ích. Như đang mùa cấy cày mà bảo dân đi đắp đường, đang mùa bão lụt mà bảo dân đi đào sông, há phải không muốn làm ích đâu, nhưng trái thời thì chẳng những vô ích mà còn thành tổn.
Chữ thời ở hai quẻ Tổn và Ích rất có thú vị. Lý thì nhất định mà thời thì không nhất định. Thời thường biến chuyển, đạo lý cũng nhân đó mà có kinh, có quyền, tức có cái cứng và cái linh hoạt. Tổn dưới vốn không phải là hay, nhưng gặp lúc quyền biến cũng phải tùy thời mà tổn dưới. Chẳng hạn trong nước gặp binh lửa, dân góp của giúp chính phủ thì đó là tổn dưới, nhưng chỉ là tạm theo thời mà thôi. Đáng tổn mà tổn thuộc nghĩa quyền biến; còn đáng ích mà ích, tức bớt trên thêm dưới, thì là đạo lý thường xuyên, thời nào cũng phải như thế. Bậc thánh nhân sợ người ta không hiểu nghĩa ấy nên cả hai quẻ đều đặt chung một chữ thời.
Dự báo cho quẻ Ích
Quẻ Ích chỉ thời vận rất tốt, mọi việc hanh thông, cơ hội làm ăn phát đạt, sự nghiệp nhiều cơ may thành đạt. Ứng việc thì thế này: tìm việc dễ toại nguyện; thi cử dễ đỗ đạt cao; tài vận dồi dào, là cơ hội kinh doanh phát đạt, tài lộc nhiều; xuất hành thuận lợi; kiện tụng dễ thắng; bệnh tật chóng lành; tình yêu và hôn nhân thuận lợi, tìm được người vừa ý, dễ nên duyên lành.
Hào sơ cửu: gặp thời thì làm việc lớn
Hào dương, hào tốt. Lợi dụng cơ hội để làm việc lớn, tốt nhất thì không có lỗi gì.
Lợi dụng vi đại tác, nguyên cát vô cữu.
Hà Lạc nói có nhiều việc lớn để làm và việc làm có nhiều điều thiện.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, làm chủ quẻ nội Chấn, là muốn hành động, lại được hào bốn ở trên ứng viện, nên muốn nhờ sự giúp đỡ ấy mà làm việc lớn. Nhưng phải khéo tính toán, hành động cho đúng và hoàn thiện, đạt mức tốt nhất thì mới không có lỗi. Lời hào phải khuyên như vậy là vì hào này ở địa vị thấp, không nên nhận việc nặng nề quá sức.
Người mệnh hợp cách là người biết tận dụng thời cơ, dựa vào sức dân mà làm nên nghiệp lớn, lập công to, sự nghiệp lâu dài, chu tất, vẹn toàn. Người mệnh không hợp cách cũng làm việc có thành tựu, lớn thì việc to, nhỏ thì canh tác, cửa nhà hưng vượng, cuộc sống yên vui.
Về vận hạn: giới quan lên cao, thời cơ thuận lợi, nhiều dịp tạo dựng sự nghiệp. Giới sĩ trúng tuyển lớn; chữ đại ở đây ám chỉ đại học, đại sư, đại đức. Người thường cũng có việc lớn, có lợi lớn, kinh doanh đắc lợi. Kẻ không biết tận dụng vận tốt thì dễ bỏ lỡ thời cơ. Câu thơ của hào nói thừa thời làm việc lớn thì dễ dàng, công danh đắc chí, đường đời thênh thang.
Hào lục nhị: món lợi lớn như mười con rùa, không từ chối nổi
Hào âm, hào tốt. Có người, tức hào năm, đem đến điều ích lợi lớn như mười con rùa theo số đếm ngày xưa, không thể từ chối. Giữ điều chính bền mãi thì tốt; nếu là bậc vương thì dùng lễ tế dâng lên Đế, ấy là cát.
Hoặc ích chi thập bằng chi quy, phất khắc vi, vĩnh trinh cát, vương dụng hưởng vu đế, cát.
Hà Lạc nói trên dưới đều hưởng ích lợi, dễ hoàn thành sự nghiệp.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, thuận, trung chính, nên được người trên giúp ích nhiều, như cho mình một con rùa quý, giống hào năm quẻ Tổn, không thể từ chối. Chỉ cần giữ vững đức trung chính thì tốt. Ví như nhà vua có được đức trung chính để cầu Trời thì Trời cũng giúp cho.
Người mệnh hợp cách là người vô tư, được bạn tốt tìm đến, trên yêu dưới kính, giúp đỡ nhau tạo dựng sự nghiệp. Người mệnh không hợp cách thì giữ mình, kính người trên, thu dùng đầy đủ, là người được tín nhiệm ở địa phương.
Về vận hạn: giới quan thăng chuyển; giới sĩ thành danh; người thường buôn bán hoạch lợi, hưởng lộc tế tự, được phúc. Câu thơ của hào nói tổn đi mà ích lại ngay, ngọc châu thấy đầy tay, buồm xa nghìn dặm, bên trong ba cánh nhạn bay, ý chỉ ba hào âm.
Hào lục tam: được giúp bằng cách chịu hoạn nạn
Hào âm, hào tốt. Hào này bất trung bất chính, lẽ ra không đáng được giúp ích. Lời hào nói: dùng cả việc xấu mà làm lợi cho nó thì không có lỗi, miễn là nó giữ lòng tin theo đạo trung mà làm; khi ấy nó được cầm ngọc khuê để báo lên bậc công, tức hào sáu.
Ích chi dụng hung sự, vô cữu; hữu phu trung hành, cáo công dụng khuê.
Hà Lạc nói hết đạo trung thì hết với nước.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, bất trung, bất chính, đáng lẽ không được giúp ích, nhưng ở vào thời Ích thì cũng được giúp. Có điều là giúp bằng cách bắt chịu hoạn nạn, để mở mắt ra thành người tốt, cũng như trừng trị để sửa lỗi. Tuy vậy nó phải thật chân thành sửa mình theo đạo trung thì sự cải quá mới được bề trên biết; lòng chân thành cải quá ấy như chiếc ngọc khuê, ngọc trắng mà trong, dâng lên bậc công thì sẽ được nhận.
Phan Bội Châu phụ chú: câu giúp ích bằng cách bắt chịu hoạn nạn mới đọc qua thật khó hiểu, hoạn nạn là việc xấu, sao lại bảo là giúp ích. Nghĩ kỹ mới biết rất hay. Vốn tính người ai cũng có thể làm việc lành, làm việc lành thì có phúc. Nhưng khí chất người ta có trí, ngu, minh, ám khác nhau, nên cách làm ích cho người cũng khác nhau. Gặp người ngu, ám như hào ba âm này mà lại làm ích cho họ bằng những việc bình thường thuận lợi, chắc họ càng kiêu căng, dâm dật mà mắc lấy họa, chẳng phải là yêu nhau mà lại hại nhau gấp mười hay sao. Muốn làm ích cho họ tất phải dùng việc khó khăn gay go. Tục ngữ ta có câu thương cho roi cho vọt, hoặc thuốc đắng dã tật, chính là ý của hào này.
Người mệnh hợp cách là người làm việc nước tận tụy cứu dân, làm ích cho văn hóa, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách cũng là người có công dẹp loạn yên dân, chịu nhiều gian nan vất vả; vào sinh ra tử, đổi nguy thành an, được tôn quý, tin dùng, sống lâu, hưởng phúc.
Về vận hạn: giới quan ra quân lập công to, tạo dựng sự nghiệp, thành danh; giới sĩ thành danh, được tuyển dụng; người thường được lợi, nhưng số xấu thì càng xấu, sợ tranh tụng với quan, tai họa. Câu thơ của hào nói giúp người cơn hoạn nạn, lòng tin giữ đạo trung, cử động đều do mệnh, tai họa sạch như không.
Hào lục tứ: đạo trung làm chỗ tựa để dời cả quốc đô
Hào âm, hào tốt. Làm theo đạo trung rồi báo lên bậc công, bậc ấy cũng tin theo, vì địa vị hào bốn quan trọng nhất trong thời Ích. Lấy đạo trung làm điểm tựa thì có thể dời cả quốc đô; hào bốn là hào trái tin của quẻ Ích, đã phát động sự trao đổi với hào một.
Trung hành, cáo công tòng, lợi dụng vi y thiên quốc.
Hà Lạc nói làm ích cho dưới thì người lãnh đạo ở trên và dân chúng ở dưới đều tin theo.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đã lên tới quẻ ngoại, có địa vị cao, trách nhiệm quan trọng, thân cận với vua, nhưng kém đức trung, nên lời hào khuyên ráng theo đạo trung mà cáo với bề trên thì bề trên sẽ nghe và có thể làm được việc lớn như dời đổi quốc đô.
Phan Bội Châu lấy việc nước ta làm ví dụ: vua Lê Thái Tổ nghe lời Lê Chích mà dời đô vào Nghệ An; nhà Trần gặp quân Mông Cổ thì dời đô vào Thanh Hóa. Lời kinh nói đến việc lớn như dời đô, nghĩa là việc to lớn như thế cũng làm nổi thì việc nhỏ khỏi cần nói; kinh không hạn định một việc dời đô mà thôi.
Người mệnh hợp cách là người công minh, chính đại, lập công huân lớn hạng nhất, trên dưới đều mến phục, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách thì việc công được như ý, dựng nghiệp, sáng tạo, đổi mới, được mọi người kính phục.
Về vận hạn: giới quan gánh trách nhiệm trọng đại, được bề trên mến, được tín nhiệm, dễ thăng tiến. Giới sĩ được tiến cử, thành danh, được tin dùng. Người thường có việc tu tạo, đổi đời vui vẻ; khi có kiện tụng thì có thể trình bày phải trái được. Câu thơ của hào nói đạo trung ai chẳng nghe theo, lợi dân ích nước, người reo đón mừng.
Hào cửu ngũ: có lòng thành thì ban ơn chẳng cần hỏi
Hào dương, hào tốt. Có lòng tin ở chính mình, thích làm ơn huệ thì đừng hỏi gì nữa, tốt nhất rồi. Có lòng tin ở đức ấy, người dưới, tức hào hai, cũng tin vào ơn đức của ta. Nghĩa là đã ban ơn cho người thì đừng hỏi người sẽ lấy lòng thành đền ơn mình thế nào.
Hữu phu huệ tâm, vật vấn nguyên cát; hữu phu, huệ ngã đức.
Hà Lạc nói làm ích cho dưới, chứng minh được lòng thành của mình thì sẽ được đáp ứng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này là ông vua có tài đức, vừa trung vừa chính, có lòng chí thành ban ơn đức cho dân nên rất tốt. Dân vì thế rất tin vào đức của vua; chữ ta ở đây trỏ hào năm.
Người mệnh hợp cách có tài đức phụ tá việc nước, cảm phục được dòng dân, công danh thành đạt, phúc lộc đều cao. Người mệnh không hợp cách cũng nhân hậu, hay giúp đỡ người khác, có lòng làm ơn huệ cho người nên được hưởng phúc, được mọi người kính phục.
Về vận hạn: giới quan gặp lãnh đạo sáng suốt; giới sĩ tiến cử thành danh; người thường việc làm ăn được như ý, gặp vận may, được người giúp đỡ; người ở vị trí thấp được biết đến, được trân trọng đánh giá. Câu thơ của hào nói thành tín và ơn huệ ở đời thì không cần hỏi nữa, đạo trời cũng theo.
Hào thượng cửu: cầu ích không ngừng thì bị người ghét
Hào dương, hào xấu. Lập lòng mà không bền thì xấu. Cầu ích đến cùng, thậm chí đến nỗi phải bị đả kích, thì lòng người sẽ oán.
Mạc ích chi, hoặc kích chi, lập tâm vật hằng, hung.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, ở cuối quẻ Ích, là có lòng cầu ích đến cùng cực, tất bị nhiều người oán, như vậy chỉ vì không giữ được hằng tâm. Theo lời Hệ từ, Khổng Tử áp dụng hào này vào phép xử thế: người quân tử làm cho thân mình yên ổn rồi sau mới hành động, lòng mình bình dị rồi sau mới thuyết phục người khác, giao tình bền chặt rồi sau mới yêu cầu, thì khỏi bị người từ chối. Có lẽ đó là cái mà Khổng Tử hiểu bằng chữ hằng tâm.
Quẻ Tổn vốn xấu mà hào cuối lại tốt, được chữ tốt, đi thì có lợi. Quẻ Ích này vốn tốt mà hào cuối lại rất xấu, bị chê là xấu. Cũng chỉ là luật đầy thì cuối cùng sẽ đổ, vơi thì cuối cùng được thêm vào: cuối quẻ Ích đầy thì đổ, cuối quẻ Tổn vơi thì được thêm. Đó là luật thiên nhiên mà Nho, Lão, Dịch học đều coi là quy tắc xử thế.
Người mệnh hợp cách mà lòng tham tài vật, cầu danh lợi, nếu lập tâm giữ cho lòng tốt được bền thì may còn khỏi tai họa; kẻ chỉ biết mưu cầu danh lợi, không có mục đích chính đáng thì bị mọi người khinh rẻ. Người mệnh không hợp cách thì hiểm trá, lợi mình hại người, tai họa cùng đến, thân nhà khó giữ.
Về vận hạn: giới quan coi chừng tham nhũng bị phạt, đổi; giới sĩ cạnh tranh bị nhục, háo danh vụ lợi; người thường chuyện vụ lợi, bị oán trách, hình khắc, tổn thương thê thảm, ham tiền bạc nghĩa. Câu thơ của hào nói cầu ích không ngừng thì người oán ghét, lập tâm chẳng vững thì biến cố bên ngoài sinh ra.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
