Bài tổng quan
Trạch Thủy Khốn: đầm cạn nước và cái hanh thông chỉ dành cho bậc quân tử
Đầm đã cạn, mông ngồi trên gốc cây trụi, ba năm không thấy mặt trời, về nhà chẳng thấy vợ. Cùng quẫn đến thế mà vẫn có người ngồi đánh đàn giữa lúc hết lương, vẫn có người bị giam mà không ngừng soạn kinh... Khốn nào thì đáng sợ, và khốn nào lại đem cái đạo ra tôi luyện?
Mục lục · 8 phần
- 01Khốn là cùng quẫn: đầm cạn nước
- 02Khốn mà vẫn hanh thông, chỉ dành cho bậc quân tử
- 03Hào sơ lục: mông bị khốn nơi gốc cây, rơi vào hang tối ba năm
- 04Hào cửu nhị: khốn vì rượu thịt, lễ tế mới là điều lợi
- 05Hào lục tam: trên đè đá, dưới đụng gai, về nhà chẳng thấy vợ
- 06Hào cửu tứ: đến chậm vì vướng xe sắt, xấu lúc đầu tốt về sau
- 07Hào cửu ngũ: bị xẻo mũi, chặt chân nhưng lòng thành cảm được thần
- 08Hào thượng lục: vướng dây sắn, nhưng biết ăn năn thì thoát
Khốn là cùng quẫn: đầm cạn nước
Quẻ số bốn mươi bảy là Trạch Thủy Khốn, thuộc hàng quẻ xấu, ứng với tháng năm. Khốn nghĩa là nguy nan, khó khăn, nên phải kiên nhẫn. Trên là Đoài, là đầm; dưới là Khảm, là nước. Đầm mà nước đã chảy hết xuống dưới thì đầm cạn, nên gọi là Khốn.
Trạch vô thủy, Khốn. Quân tử dĩ trí mệnh toại chí.
Lời Tượng nói đầm không có nước là quẻ Khốn. Người quân tử nhìn đó mà dốc cả tính mạng để thỏa chí hướng của mình, như câu giết thân mình để thành đạo nhân.
Người sinh vào tháng năm gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng hình phạt sau chẳng đổi, kim mộc khó bề yên, chuột bọ khinh thường không đến nỗi hại, nhưng tai nạn nguy hiểm thì thấy ngay trước mắt.
Khốn mà vẫn hanh thông, chỉ dành cho bậc quân tử
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói Khốn mà hanh thông; chính đính như bậc đại nhân có đức thì tốt, không lỗi. Dù nói gì cũng không bày tỏ được lòng mình, vì không ai nghe. Quẻ Khảm là dương ở dưới cùng, quẻ Đoài là âm ở trên; dương cương, tức quân tử, bị âm nhu, tức tiểu nhân, che lấp, cho nên gọi là Khốn. Quẻ đơn nào có một hào dương là quẻ dương; quẻ đơn nào có một hào âm là quẻ âm.
Lại thêm: quẻ nội có một hào dương bị kẹt giữa hai hào âm, quẻ ngoại hai hào dương ở dưới một hào âm, cùng là hình tượng quân tử bị tiểu nhân làm khốn. Một cách giảng nữa: đầm ở trên mà nước ở dưới, nước trong đầm chảy xuống dưới, tiết hết, đầm sẽ khô thành ra hình tượng Khốn. Tuy nhiên Khảm là hiểm, Đoài là hòa duyệt, nên tuy gặp hiểm mà vẫn vui vẻ hanh thông.
Hanh thông chỉ là đối với bậc đại nhân có đức cương trung, giữ vững đạo chính, vì hạng người đó càng gặp cảnh khốn tài càng được luyện, đức càng được trau, chí càng vững; dù phải hy sinh tính mạng để thỏa chí nguyện cũng không ngại. Thân tuy khốn mà vẫn vui vẻ, đạo của họ vẫn hanh thông, cho nên lời hào cho là tốt, không lỗi. Ở vào thời Khốn chỉ có cường quyền, không có công lý, nên đừng nói gì cả; càng nói chỉ càng thêm vạ miệng, không biện bạch được gì đâu. Đó là lời khuyên chung, còn bậc quân tử có thể không thành thân thì cũng thành nhân thì lại khác.
Phan Bội Châu phụ chú: lời quẻ nói Khốn hanh thông, lời Thoán lại nói thêm được như thế chắc chỉ bậc quân tử mà thôi. Thế thì hai chữ khốn hanh chỉ dành riêng cho quân tử hay sao? Thật có thế. Người bình thường khốn ở hoàn cảnh thì khốn đến cả tâm; khốn ở thời thì khốn đến cả đạo lý. Chỉ duy quân tử cảnh tuy khốn mà tâm vẫn hanh, thời tuy khốn mà đạo vẫn hanh. Như đức Khổng Tử tuyệt lương ở nước Trần nước Thái bảy ngày mà vẫn đánh đàn, đọc sách không ngớt; vua Văn Vương bị tù ở Dữu Lý chín năm mà cầm đầu làm Kinh Dịch không ngừng bút; chẳng phải là khốn mà hanh hay sao. Tuy nhiên, có địa vị như Văn Vương, có tài đức như Khổng Tử mà gặp cảnh tuyệt lương, bị tù, mới gọi là khốn; nhân vì có cảnh khốn ấy mới tỏ ra thánh nhân, mới gọi là khốn mà hanh. Nếu những hạng người địa vị tài học kém xa hai người ấy gấp nhiều lần thì khốn là sự thường, và cũng không thể nào hanh được. Vậy nên câu chắc chỉ bậc quân tử mà thôi, chẳng phải dành riêng cho quân tử, mà chính là mong cho mọi người ai cũng muốn làm quân tử. Trong thời Khốn chẳng ai là tuyệt đối không khốn, nhưng mà khốn hanh thì hiếm quá.
Hào sơ lục: mông bị khốn nơi gốc cây, rơi vào hang tối ba năm
Hào âm. Mông đít bị khốn nơi gốc cây trụi, sụp vào hang tối, ba năm chẳng thấy mặt. Hào sơ lục chỉ người ở lớp dưới cùng lâm vào cảnh khốn quẫn, không có khả năng thoát nạn.
Đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất địch.
Hà Lạc nói không có tài thoát khỏi cảnh khốn.
Về ứng nghiệm: quan chức gặp tình thế khó khăn, nên rút lui là tốt; kẻ sĩ không gặp thời, phải chờ thời cơ; người thường có điều lo sợ hoặc có tang phục.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở đầu quẻ Khảm, âm nhu, mê muội. Hào bốn dương ứng với nó nhưng bất trung bất chính, không giúp gì được nó, như người ngồi trên cây trụi trơ gốc, ý nói ở hào đầu, thấp nhất, rồi lại sụp vào hang tối vì âm nhu mê muội, mà không thấy ai lại cứu; ai đây trỏ hào bốn.
Người mệnh hợp cách tuy không được đắc dụng nhưng cũng là kẻ sĩ một thời ở ẩn nơi núi sâu, không bị nhục. Người mệnh không hợp cách thì nhu nhược, tối tăm, không nhìn thấy cơ sự, không thoát được khốn.
Về vận hạn: quan chức nên lui; giới sĩ đợi thời; người thường có sự kinh sợ, tang phục. Câu thơ của hào nói khốn lâu trầm trệ mấy lần, đành thân ẩn tịch thì sau dần sẽ yên.
Hào cửu nhị: khốn vì rượu thịt, lễ tế mới là điều lợi
Hào dương, hào bình, vừa tốt vừa xấu. Thời khốn mà ở nơi có rượu thức ăn, lại có dây đỏ buộc ấn, tức bậc lớn đang đi lại với mình, vì hào năm ứng với hào hai. Nhưng dùng việc tế lễ thì lợi; nếu tiến hành việc gì khác thì xấu, tuy không lỗi.
Khốn vu tửu thực, chu phất phương lai, lợi dụng hưởng tự, chinh hung, vô cữu.
Hà Lạc nói có tài đức nhưng không có thời nên không cứu khốn, giải nguy được.
Về ứng nghiệm: có lợi cho những người làm lễ tấn, trông coi nghi lễ; sĩ tử có dịp may, được sử dụng; người thường kinh doanh phát đạt; số xấu có tang phục.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc trung, đáng lẽ tốt, nhưng ở thời Khốn thì vẫn bị khốn vì ăn uống, do ơn vua lộc nước; được người trên ứng hợp lại nhờ giúp, tượng trưng bằng cái phất đỏ, một bộ phận lễ phục để che đầu gối, nên đem lòng thành mà tế thần linh để xử sự trong thời khốn này. Nếu cứ tiến hành thì không gặp thời, xấu; giữ đạo thì không có lỗi.
Phan Bội Châu phụ chú: câu có rượu, thức ăn, lại có dây đỏ buộc ấn là hình dung nỗi khổ tâm của quân tử. Tục ngữ ta có câu khi vui non nước cũng vui, khi buồn sáo nhịp đờn đôi cũng buồn, chính là ý nghĩa như mấy câu này.
Người mệnh hợp cách vị cao lộc hậu, vừa lòng trên, cảm được thần, tuy không cứu khốn được nhưng không bị tai họa gì. Người mệnh không hợp cách thiên lệch, hay ăn uống rượu chè, hoặc làm nghề bói toán đủ ăn đủ mặc nhưng không thành sự nghiệp gì lớn lao.
Về vận hạn: quan chức được thăng chuyển, hoặc giữ chức coi tế lễ; giới sĩ có vui mừng; người thường được quý nhân dắt dẫn, doanh mưu được lợi, tĩnh thì tốt, động thì xấu; số xấu có tang phục, tế lễ. Câu thơ của hào nói tạm nguy, đợi lộc tương lai, đạo trời giao cảm, đừng ai vọng động.
Hào lục tam: trên đè đá, dưới đụng gai, về nhà chẳng thấy vợ
Hào âm, hào xấu. Hào âm bất chính bất trung; tiến lên thì bị hào bốn dương cương như tảng đá chặn lại, lui xuống thì đụng hào hai âm như bụi gai; trở về tìm hào ứng là hào sáu âm thì không có ứng, như người về nhà không thấy vợ, nên xấu.
Khốn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung.
Hà Lạc nói không có tài cứu khốn đến nỗi thân nguy.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này bất trung bất chính, âm nhu ở vào thời Khốn, ở trên cùng quẻ nội Khảm tức là ở cảnh cực hiểm, tiến thoái đều không được, nên ví với người bị đá đè ở trên, tức hào bốn, mà lại dựa vào một cây có gai, tức hào hai; vô nhà lại không thấy vợ, tức hào trên cùng cũng âm nhu, không giúp hào ba được gì. Rất xấu.
Phan Bội Châu phụ chú: ở vào thời Khốn, khốn cũng là sự thường. Nhưng cũng phải lựa lọc đạo lý, xem có phải mình đáng khốn hay không. Nay hào ba âm mà muốn theo hào bốn dương nên bị khốn với hào bốn. Như thế là không đáng khốn mà khốn, nên lời hào nói khốn nơi hòn đá; đá có sức nặng áp vào mình mà mình lại ghé đít vào, nên đến nỗi danh nhục. Ở vào thời Khốn, phải tìm chỗ dựa cũng là lẽ thường, nhưng tất phải xem thời thế, biết mình biết người, xem có phải là người mà mình đáng dựa hay không. Lúc này hào ba âm muốn ghé trên lưng hào hai dương, mà hào hai đâu có chịu để cho hào ba ghé trên lưng mình. Nên lời hào nói dựa trên cây gai; gai đâm được mình mà mình ghé lưng dựa vào thì tất đến nỗi thân nguy. Xem sử Tàu, như Thái Ung đời Hán vì khóc thây Đổng Trác mà mang vạ sát thân; Dương Hùng vì tụng công đức Vương Mãng mà mang vạ nhảy lầu tự tử, kết quả uổng một đời văn sĩ, làm bia cho miệng thế chê cười, đều là không đáng khốn mà khốn, đến nỗi danh nhục.
Người mệnh hợp cách thân đậu nơi sơn lâm, hoặc làm lính gác nơi cung môn, chẳng còn gì vợ. Người mệnh không hợp cách thì thân cô thế nguy.
Về vận hạn: quan chức vào nơi thanh cấm để sửa lỗi; giới sĩ được vào trường thi nhưng có biến ở thê thiếp; người thường số xấu, danh nhục thân nguy, có thể không nhìn thấy vợ con. Câu thơ của hào nói trên đe dưới búa đã chồn, nhìn không thấy vợ, sầu tuôn lệ dài.
Hào cửu tứ: đến chậm vì vướng xe sắt, xấu lúc đầu tốt về sau
Hào dương, xấu lúc đầu, tốt về sau. Đến từ từ, bị khốn vì cái xe sắt, hối thẹn nhưng có kết quả về sau. Quan chức gian nan mới thành đạt; sĩ tử long đong, khó tiến thủ; người thường vất vả lúc đầu, về già mới khá. Đi lại từ từ với nhau, hào bốn và hào một, vì bị kẹt ở cái xe sắt, tức hào hai ngăn cản.
Lai từ từ, khốn vu kim xa, lận, hữu chung.
Hà Lạc nói tất nhiên chưa cứu được khốn ngay lúc xảy ra, nhưng sau sẽ gặp nhau.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương nhưng bất trung bất chính, ở vào thời Khốn, trông vào hào một ứng vào nó, tới giúp; nhưng không tới mau được vì bị hào hai chặn ở giữa. Hào hai này ví với cỗ xe bằng kim khí, có lẽ vì hào hai dương cương mà kim khí là chất cứng chăng. Cho nên có điều ân hận, xấu hổ; nhưng cuối cùng vẫn liên hợp được với hào một, vì hai bên đều dốc lòng ứng với nhau, hào bốn là dương, hào một là âm.
Người mệnh hợp cách tuy thành danh sớm nhưng muộn mới được hưởng lộc. Người mệnh không hợp cách trước khó sau dễ, nhờ nơi quyền thế, sau mới thành được.
Về vận hạn: quan chức kiêm nhiệm phức tạp; giới sĩ tiến thủ vụng về; người thường mưu vọng vất vả, mãi sau mới ra khỏi bế tắc, nhà buôn bị khốn vì xe cộ. Câu thơ của hào nói chẳng cam thua sức kém tài, quyết tâm cứu giúp thì ngày mai việc thành.
Hào cửu ngũ: bị xẻo mũi, chặt chân nhưng lòng thành cảm được thần
Hào dương, hào bình. Hào này trước nghịch sau thuận, trước gặp khó khăn gian nạn, sau thuận lợi. Số xấu hay có tang phục, kiện tụng.
Tị nguyệt, khốn vu xích phất, nãi từ hữu duyệt, lợi dụng tế tự.
Lược nghĩa của hào: bị hớt mũi, vì hào sáu làm tổn; bị khoét chân, vì hào bốn làm tổn; khốn khổ nơi dây đỏ buộc ấn, giúp cho hai hào; cứ thong thả rồi cũng được vui lòng, sẽ gặp hào hai; hiện giờ hãy cứ dùng việc tế lễ là có lợi, cảm đến thần linh. Hà Lạc nói lấy đức cứu khốn, lấy lòng thành cảm thần.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương ở vị chí tôn, có tài đức, nhưng ở vào thời Khốn, người chung quanh mình và ở dưới mình đều bị khốn cả. Lại thêm hào trên cùng là âm muốn đè ép mình, hào bốn dương cương ở dưới tính làm hại mình, ngay đến hào hai đã đem cái phất đỏ cho nó, nhờ nó giúp, nó cũng chỉ làm cho mình thêm khốn; như vậy mình không khác gì kẻ bị thương ở mũi, bị xẻo mũi, ở chân, bị cắt chân. Nhưng hào năm và hào hai cùng có đức cương trung thì rồi sẽ hợp với nhau; cứ chí thành thì sẽ hanh thông, vui.
Người mệnh hợp cách theo cổ, hành đạo, tiến thủ, tuy gian nan sau có cơ hội, ngôn luận ngay thẳng, hoặc làm chức trông coi tế lễ. Người mệnh không hợp cách trước khốn sau yên, hoặc có nhục bị hình thương.
Về vận hạn: quan chức trước khó sau dễ, hoặc coi tế lễ; giới sĩ trước nghịch sau thuận; người thường trước hỏng sau được; số xấu có kiện tụng, hoặc tang phục, tế lễ. Câu thơ của hào nói hình thương đến thế là nhiều, đem tâm cúng lễ sau đều mừng vui.
Hào thượng lục: vướng dây sắn, nhưng biết ăn năn thì thoát
Hào âm, hào bình. Hào âm tượng kẻ tiểu nhân ở ngôi cao, sắp biến, nhưng đến đường cùng vẫn lúng túng vì đám dây leo; biết dứt bỏ, biến theo thời thì tốt. Bị khốn nơi dây sắn, nơi gập ghềnh, bảo rằng hoạt động thì ăn năn, có ăn năn nhưng cứ tiến hành thì tốt, vì đã hết thời khốn rồi.
Khốn vu cát lũy, vu niết ngột, viết động hối hữu hối, chinh cát.
Hà Lạc nói không có tài cứu khốn nên phải xem xét mình.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở cuối thời Khốn, như người bị buộc chằng chịt trong đám dây sắn, dây leo, mà lại đứng trong chỗ khấp khểnh, gập ghềnh; nhưng khốn đến cùng cực rồi thì sẽ thông, cho nên biết thận trọng, biết ăn năn thì sẽ tốt. Ông so sánh ba quẻ Truân, Kiển, Khốn: quẻ Truân là đầu thời khó khăn, còn có thể hành động chút ít để cứu vãn thời thế được; quẻ Kiển là giữa thời có khó khăn, nên chờ thời, không làm gì hết, hoặc có vì bổn phận mà làm thì cũng khó có kết quả; tới quẻ Khốn thì khó khăn lên tới tột điểm, năm hào xấu, chỉ có hào cuối cùng mới tốt, đành phải chờ thời, giữ đức trung chính, lòng chí thành mới qua được cơn khốn.
Phan Bội Châu phụ chú và cảm khái: đọc suốt lời quẻ, lời hào, sinh ra hai cảm tưởng. Lời quẻ nói Khốn hanh thông, với bậc đại nhân bền chính thì tốt; nhưng xem suốt sáu hào thì có đến hai hào xấu, một hào hối thẹn, mà hào nào cũng có chữ khốn, chỉ duy hào sáu âm trên cùng có chữ tốt. Mới biết người ta ở trong vũ trụ chẳng ai là chẳng bị chinh phục vì hoàn cảnh chung. Đó là một cảm tưởng. Nhưng mà đứng giữa trời đất, con người tất phải có trí lực, đảm lực, phách lực, tức trí tuệ, can đảm, khí phách, mà chiến thắng hoàn cảnh riêng. Đó lại là một cảm tưởng.
Lý do vì sao? Chinh phục được hoàn cảnh chung tất phải có trở lực ở nơi xã hội. Xã hội còn sụp vào vòng mây đen mù tối, dẫu thánh hiền cũng không thể cậy một sức mình mà đánh đổ được hoàn cảnh tối tăm. Tối mà chẳng sáng như hào một âm, thiếu minh mẫn như hào ba âm, tài hèn trí mọn thì chẳng nói làm gì. Có đức cương trung như hào hai dương, có đức có vị ngôi dương như hào năm dương, cũng chẳng tránh khỏi khốn và xấu, đành chờ thời khốn đến cùng, vận hanh sắp tới như đông hết xuân về, mới được hai chữ chính, tốt, tức hào sáu âm. Nhưng xem tới lời hào vẫn còn nói rằng hành động đây, hối tiếc đây. Quả thật khổ tâm mà suy ngẫm sâu sắc cho cái cảnh thiên hạ thoát khỏi vòng khốn nạn.
Chiến thắng được hoàn cảnh chẳng phải là khó lắm hay sao? Nhưng đã sinh ra trong hoàn cảnh chung ấy, bản thân mình cũng là một phần tử trong hoàn cảnh ấy; không chiến thắng được hoàn cảnh chung còn đổ tội cho xã hội, chứ như phần riêng nữa mà không chiến thắng được thì còn đổ tội cho ai. Làm cây cột đá giữa dòng sông lớn, làm cây tùng cây bách giữa tiết trời đông, đó là phần của chúng ta, để mà không hàng phục trước hoàn cảnh riêng.
Muốn được như vậy thì tiến thủ thế nào? Xin xem lời quẻ có chữ bền chính, đại nhân; lời Thoán có câu chỉ có quân tử mới được, và câu giữ đức cương trung. Xem thế ta cứ giữ gìn sự chính đáng, bao nhiêu đường xiêu lối quẹo ta chớ đặt chân vào; ta cứ cương trung, bao nhiêu sấm sét chông gai ta không chịu đổi khí tiết. Như thế là khốn mà không mất cái hanh thông ban đầu, dẫu hoàn cảnh chung khốn đến bao nhiêu mà hoàn cảnh riêng tự bản thân không bao giờ nao núng, thân tuy khốn mà đạo mình vẫn hanh, chẳng phải là đại nhân quân tử hay sao. Nếu may mà đặt thân vào địa vị hào hai dương, hào năm dương thì chỉ dùng cách tinh thành mà cảm tới trời đất, như thánh nhân đã dạy, nghĩa là cứ nghĩ cho ra, nghĩ không ra thì có thần linh chỉ bảo, truyền đạt cho. Hễ những ai thương nòi tiếc giống, cảm cảnh đau đời thì có phương pháp như trên là hay nhất; chẳng may gặp lúc không có khả năng vượt sông, cực chẳng đã thì đã có câu biết mệnh mà yên chí, tức vui lòng với số mệnh, ở lời Tượng, quả là cái kim chỉ nam cho chúng ta trong thời Khốn, còn sợ gì mà không chiến thắng hoàn cảnh nữa.
Người mệnh hợp cách sửa lỗi làm lành, rồi có đủ tài, giúp nguy cứu khốn. Người mệnh không hợp cách tâm nhược thân nguy mà không tự giải thoát được, hoặc rời tổ đi xa lập nghiệp.
Về vận hạn: giới quan phòng hình phạt, bị trói buộc; giới sĩ bị đình giáng, nhục nhã; người thường phòng lo sợ tang phục, chỉ người buôn bán thì có lợi. Câu thơ của hào nói đường đi dù tiến chưa yên, cùng thời sẽ biến, động lên thì tốt lành.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
