Bài tổng quan
Thiên Thủy Tụng: trời lên nước xuống và cách tiêu mầm kiện cáo
Trời có xu hướng bay lên, nước có xu hướng chảy xuống, nên hai bên hễ gặp nhau là cãi. Nhưng cái ung bao giờ cũng bắt đầu từ một cái sảy không ai thèm để ý... Kiện đến cùng, ai là người thắng?
Mục lục · 9 phần
- 01Tụng là bàn cãi, là kiện tụng
- 02Họa bắt đầu từ chỗ không ai để ý
- 03Bức tranh chung: lòng người bất hòa, khó hợp tác
- 04Hào sơ lục: chút điều tiếng, sau được sáng tỏ
- 05Hào cửu nhị: kiện không nổi, lui về ấp ba trăm nóc nhà
- 06Hào lục tam: theo nếp cũ thì bình an
- 07Hào cửu tứ: đổi ý, ở yên điều chính
- 08Hào cửu ngũ: người xử kiện công minh, người đi kiện gặp quan sáng
- 09Hào thượng cửu: thắng trước, bại sau
Tụng là bàn cãi, là kiện tụng
Quẻ số sáu là Thiên Thủy Tụng, thuộc loại quẻ bình, tiết khí thuộc tháng Hai. Tụng nghĩa là luận, là bàn cãi, kiện tụng. Hình tượng của quẻ là trời với nước đi trái ngược nhau: Càn (trời) có xu hướng đi lên, Khảm (nước) có xu hướng chảy xuống thấp. Hai bên trái ngược nhau như hai người bất đồng đạo, tranh nhau mà sinh ra kiện cáo.
Trời với nước đi trái ngược nhau là quẻ Tụng. Người quân tử coi đây mà khi làm việc gì phải mưu tính ngay từ đầu.
Lời tượng khuyên người quân tử làm việc gì cũng nên cẩn thận từ lúc đầu để tránh kiện cáo. Nếu sinh vào tháng Hai là đắc cách, công danh phú quý, sự nghiệp dễ thành, phúc lộc nhiều. Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Tụng vào các tuổi Giáp và Nhâm, ứng với các chi Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất.
Họa bắt đầu từ chỗ không ai để ý
Quẻ này về mặt chữ chỉ nói chữ Tụng, nhưng ý sâu của người xưa chẳng phải chỉ nói chuyện kiện tụng. Phàm những việc họa hoạn trong thiên hạ mà đến nỗi tan nát, gia đình vợ chồng mà đến nỗi lìa tan, bạn bè mà đến nỗi thù nhau, lớn như chiến tranh giữa các nước, nhỏ như viết một hàng chữ, nhả một lời nói mà gây ra họa văn tự, tựu trung đều vì không biết mưu tính lúc ban đầu mà thôi. Lẽ thường trong thiên hạ, trước đó đã tạo ra cái nguyên nhân thì sẽ có kết quả.
Từ lúc bắt đầu, gây mối chỉ có chút máy may, thường hay nảy nở thành tai vạ. Tục ngữ có câu "cái sảy nảy cái ung" chính là lẽ ấy. Người quân tử xem quẻ Tụng mà nghĩ ra phương pháp tiêu cái họa tụng: hễ làm việc gì phải hết sức cẩn thận, tính toan từ đầu. Mối kiện đã không gây ra thì tai họa kiện nhau tự nhiên tiêu diệt.
Bức tranh chung: lòng người bất hòa, khó hợp tác
Quẻ Tụng chỉ thời kỳ khó khăn, nhiều mâu thuẫn, lòng người dễ bất hòa, khó hợp tác. Thời cuộc hay phát sinh tranh chấp, nhiều bất trắc, cần đề phòng trong mọi việc. Sự nghiệp khó thành đạt, trừ khi có chỗ dựa là những người có quyền thế và có tín nhiệm.
Thời vận: chưa đến. Kinh doanh: thất thoát, dễ bị lừa đảo, dễ bị cướp đoạt, tốt nhất là nên giữ mình. Xuất hành: bất lợi, dễ gặp rủi ro. Kiện tụng: kéo dài, khó thắng, nên hòa giải ngay từ đầu thì hơn. Bệnh tật: dễ kéo dài, chẩn đoán sai, dễ bị bệnh do ăn uống cẩu thả. Thi cử: khó đạt. Tình yêu và hôn nhân: không thuận, khó thành; nếu thành thì tính nết trái nhau, hay cãi nhau, dễ tan vỡ.
Hào sơ lục: chút điều tiếng, sau được sáng tỏ
Hào này là hào bình. Đừng kéo dài mãi việc ấy (việc kiện); có chút điều tiếng chê cười, sau tốt. Người ở hào này bị gièm pha, kiện cáo nhỏ, nhưng cuối cùng được yên. Hoặc bệnh nhẹ kéo dài, sau khỏi. Vụ kiện (nếu có) không lâu, mới đầu bị khuất, sau được sáng tỏ.
Hào một âm nhu ở dưới, được hào bốn cương kiện ở trên ứng viện, tức là có chỗ dựa. Nhưng đừng nên cậy thế sinh sự kéo dài việc kiện; bị trách móc chút thì cũng thôi, kết quả được biện minh, thế là tốt.
Mệnh hợp cách: tâm tình sáng suốt, độ lượng, biết thời cơ, bảo toàn được thân, tránh được hại; gặp thời sẽ đi vào đường lập ngôn (tuyên truyền, báo chí), biên soạn lịch sử, không để tai tiếng gì; là người sáng suốt độ lượng, lập ngôn đúng thời, được tín nhiệm. Mệnh không hợp cách: cũng biết tùy thời, liệu việc, làm nên nhưng chẳng bền; người tầm thường thì biết tùy thời lập nghiệp.
Vận hạn: quan chức bị dèm pha, biện luận làm sáng tỏ được; học trò có chút điều tiếng, không hại gì quá; người thường miệng tiếng thị phi, thưa kiện, rồi minh oan được; bệnh tật có bệnh không thuốc cũng khỏi; số xấu thì dễ giảm thọ.
Hào cửu nhị: kiện không nổi, lui về ấp ba trăm nóc nhà
Hào này xấu: khó tiến thủ, chớ lao vào tranh luận, ganh đua chức vụ, dễ bị tai tiếng xấu. Không hợp số thì dễ bị theo dõi, kiện cáo, truất giáng, kỷ luật. Chẳng kiện nổi đâu, vì hào năm mạnh; lui về mà tránh đi, ấp mình chỉ có ba trăm nóc nhà thôi (ý nói địa vị mình thấp, thế mình nhỏ), như vậy thì không bị họa. Người đi kiện, nhờ còn biết điều, nên tốt lành.
Hào hai ở dưới, trung chứ không chính, ở giữa nội quái là Khảm (hiểm), lại bị hai hào âm một và ba kẹp, nên thế yếu. Nó muốn kiện hào năm (vì hào hai có tính dương cương) nhưng thế không địch nổi hào năm, vì hào năm trung chính lại ở ngôi cao. Dưới kiện trên khác nào trứng chọi đá, không nên. Thà rút lui về tránh đi còn hơn bị tội lỗi. Nếu dưới mà kiện trên khác nào tự mình vơ lấy họa.
Hào này ứng với chuyện Nguyễn Hoàng (hào hai) muốn tranh với Trịnh Kiểm (hào năm). Nguyễn Hoàng bèn hỏi ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, được câu "Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Câu này có ý khuyên nên trốn tránh vào Nam cho thoát nạn.
Cùng một việc kiện, hào một cùng phe với hào bốn vì hai hào chính ứng với nhau, một âm một dương. Hào hai và hào năm tuy cũng chính ứng nhưng cùng dương cương nên coi như kị nhau. Vì lẽ ấy nên không thể cùng phe trong quẻ Tụng.
Mệnh hợp cách: hoặc giữ chức hộ tịch, hoặc ở ẩn, thú làm giàu, tiền của không gây oan nghiệt; là người có chức vị ở địa phương, không hay tranh giành với ai, giữ được giàu sang phúc lộc. Mệnh không hợp cách: khó làm người phục tùng, tiến lên thì bị ngăn trở, thoái lui mà an phận thì hơn; người hay gây sự, tranh giành, không được người ưa, khó tiến thủ, an phận thì tránh được tổn thất.
Vận hạn: quan chức hưởng lộc ở ấp; học trò giữ gìn lề thói cũ kẻo bị tai tiếng; người thường nhà cửa an ninh, có thể khỏi bị kiện tụng về việc hộ tịch, hôn nhân. Số xấu: nếu Nguyên Đường và số âm dương không hợp thời thì xấu, nặng thì có thể bị tội trục xuất, lưu đày, trốn tránh, khó về.
Hào lục tam: theo nếp cũ thì bình an
Hào này tốt. Theo nếp cũ thì được bình an, công danh đạt, kinh doanh phát triển, giữ được yên vui trong gia tộc. Cứ yên ổn mà hưởng cái đức (ân trạch) cũ của mình, người xưa giải là giữ cái nếp cũ. Ăn ở cho chính đáng mà thường để lòng răn đe lo sợ thì kết quả sẽ tốt. Nếu phải đi theo làm với người trên thì cũng đừng mong thành công. An phận thì tốt lành.
Hào ba đã âm nhu lại bất chính (âm ở ngôi dương), chông chênh trên cùng quẻ Khảm hiểm, chung quanh lại đều là những kẻ thích gây sự (hào hai và hào bốn đều là dương), cho nên hào ba phải lo sợ. Nếu hiểu như thế mà biết giữ gìn thì rốt cuộc sẽ yên ổn. Hào ba chính ứng với hào sáu dương ở ngôi trên, nên có khi hào sáu lôi kéo hào ba vào cuộc kiện tụng. Trong trường hợp đó, hào ba nên an phận, theo lệ thôi, đừng ham lập công.
Mệnh hợp cách: được hưởng tổ nghiệp, hoặc giữ được cơ nghiệp ruộng vườn, rồi nhờ sức người mà thành công; giữ được gia phong cơ nghiệp của tổ tông, có cuộc sống an toàn. Mệnh không hợp cách: trước khó sau dễ, trước nhục sau vinh; lúc đầu gặp khó khăn nhưng sau thành công, có phúc lộc.
Vận hạn: quan chức vui vẻ nghề nghiệp; học trò giữ phận tốt lành, bình thường; người thường bình an vô sự.
Hào cửu tứ: đổi ý, ở yên điều chính
Hào này tốt. Dễ thăng tiến trong công tác, cuộc sống bình yên vô sự, có oan được giải. Số xấu hay bị vạ miệng. Không thể kiện cáo được. Trở lại theo thiên mệnh (lẽ chính đáng), đổi ý đi và ở yên theo điều chính thì tốt. Biết tự xử, đứng vững thì không lầm lỗi.
Hào này dương cương mà bất trung, bất chính, tượng một người ham kiện cáo, nhưng không thể kiện ai được. Kiện hào năm thì hào năm ở ngôi trên mình, không dám. Kiện hào ba thì hào ba là âm, nhu thuận, chịu thua trước rồi. Kiện hào hai thì hào hai vừa cương vừa chính trung. Thôi thì ở yên giữ điều chính, như vậy là tốt. Lời tượng của hào khuyên ai ở vào hào bốn hãy thuận nghe theo mệnh trời, biến đổi tính xấu của mình mà giữ yên đạo lý chính, thời chẳng đến nỗi thất bại.
Mệnh hợp cách: chí cương quyết, lòng tự ái, theo lành sửa lỗi; mệnh quý, thọ, an nước an nhà. Mệnh nữ gặp hào này là mệnh phụ, làm vợ ông lớn. Người sống ngay thẳng, theo thiên đạo, tu đức sửa lỗi, làm yên nước lợi nhà, phúc lộc cao dày; nữ mệnh có chồng sang, có địa vị xã hội cao. Mệnh không hợp cách: hay lên nước, phạm thượng, không xét nghĩa lý để tu tỉnh, khó an lành; người kiêu căng tự mãn, khinh người, hay phạm thượng, cuộc sống hay gặp rủi ro, khó yên lành, kém phúc lộc.
Vận hạn: quan chức được phục chức; học trò tiến thủ; người thường theo điều lành sửa điều lỗi, tránh được việc kiện tụng; số xấu thì đề phòng bị đi an trí.
Hào cửu ngũ: người xử kiện công minh, người đi kiện gặp quan sáng
Hào này vừa trung vừa chính. Quan chức dễ thăng tiến. Kẻ sĩ gặp thời, đỗ đạt, thành công, thành danh. Người thường kinh doanh đắc lợi, tài lộc nhiều. Xử kiện hay đi kiện đều tốt. Mọi việc gặp may mắn. Đức hay, địa vị chính đáng, việc thưa kiện có ích lợi.
Hào năm này ở ngôi chí tôn, cương mà minh, trung và chính. Nếu là người xử kiện thì là người có đức có tài (như Bao Công); nếu là người đi kiện thì gặp được quan tòa có đức có tài, không gì tốt bằng.
Mệnh hợp cách: học rộng tài cao, có thể đỗ ngang tầm trạng nguyên, làm đến chức chính khanh đời xưa; là người có tài đức lớn, học rộng đỗ cao, có sự nghiệp vinh hiển, phúc lộc đầy. Mệnh không hợp cách: cũng trung chính, khiêm nhường, cung kính, biết thời cơ, cố giữ mình, ít nhất cũng là nhân sĩ hương thôn; là người có địa vị, có phúc lộc ở địa phương.
Vận hạn: quan chức được thăng thưởng (cấp độ huân huy chương); học trò vinh hiển; người thường tính toán làm ăn có lợi.
Hào thượng cửu: thắng trước, bại sau
Hào này xấu: thành bại khó lường, dễ bị kiện tụng, dễ bị thiệt hại. May mà được cái đai lớn (của quan chức), nhưng trong một buổi sáng sẽ bị cướp ba lần. Nên chấm dứt việc kiện đi, vì trước thắng sau bại.
Hào dương này ở trên cùng quẻ Tụng, là kẻ rất thích kiện, kiện tới cùng. Nó ở ngôi sáu là bất chính, cho nên dù có may ra được kiện thì chẳng bao lâu cũng sẽ mất hết. Rốt cuộc vẫn không lợi.
Mệnh hợp cách: người phẩm hạnh kém, ham danh lợi bất chấp đạo lý; tham công tiếc lợi; mưu đồ lớn, dám làm, chẳng cần ngó đến danh phận hay đạo lý; có thể nhảy lên ngôi vị lớn, đoạt lợi, cầu may. Mệnh không hợp cách: họa sinh từ nội bộ, cái thất bại tới bất ngờ; trước thành sau bại, thân nhà khó bảo toàn; kẻ a dua xu nịnh, làm trái đạo lý, tự tạo ra tai họa, địa vị khó giữ, hao tài tốn của.
Vận hạn: quan chức (nếu chức lớn) thì tiến lùi, thành bại bất thường; học trò đạt chí; người thường bị thưa kiện; đang có tang mà xảy ra thưa kiện thì thua thiệt.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
