Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Địa Thủy Sư: nước ẩn trong lòng đất và đạo cầm quân nuôi dân

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Địa Thủy Sư: nước ẩn trong lòng đất và đạo cầm quân nuôi dân

Người xưa gửi việc binh vào việc nông: lúc bình làm ruộng, lúc loạn cầm giáo. Hào dương duy nhất giữa năm hào âm gánh cả đạo cầm quân... Giao ấn tướng cho ai thì đánh thắng mà không phải chở xác về?


Sư là đám đông, là quân đội

Quẻ số bảy là Địa Thủy Sư, tiết khí thuộc tháng Bảy. Sư nghĩa là chúng, tức quân chúng, đám đông, quân đội. Quẻ báo trước gian nan, sau thành công. Hình tượng của quẻ: trong đất có nước tụ lại, tượng quân chúng tụ họp thành đám đông. Khôn tượng là đất, Khảm tượng là nước, nên có cách giảng như vậy.

Trong đất có nước tụ lại là tượng quân chúng tụ họp. Người quân tử coi quẻ này mà chăm lo việc nuôi dân.

Quân tử nhớ rằng nước vững nhờ có đất, binh mạnh nhờ có dân. Nếu sinh vào tháng Bảy mà gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Sư vào các tuổi Giáp và Nhâm ứng với các chi Sửu, Dần, Thìn, Dậu.

Giấu cái hiểm trong cái thuận

Chỉ mấy vạch âm dương mà đọc lên được ý tứ tuyệt diệu. Nội quái ở dưới là Khảm, nghĩa là hiểm; ngoại quái ở trên là Khôn, nghĩa là thuận. Như vậy là giấu cái hiểm trong cái thuận, gửi việc binh trong việc nông: thời bình làm ruộng, thời loạn làm lính, đó là cách tổ chức việc binh ngày xưa.

Hào hai dương nằm giữa nội quái là tượng ông tướng; hào năm âm ở vị trí vua (như chính ủy). Bốn hào còn lại đều là âm nhu mềm yếu, nên sứ mạng chỉ huy thuộc về hào hai. Do vậy quẻ có ý nghĩa là xuất quân là việc nguy hiểm, độc hại (vì Khảm hiểm); nhưng nếu xuất quân vì chính nghĩa, để trừ bạo an dân, thì dân sẽ theo (vì Khôn thuận). Dân sẽ giúp đỡ mình, mình sẽ điều khiển được ba quân, do đó lập nên sự nghiệp, không lỗi. Cả sáu hào của quẻ đều nói về việc quân, nên đây là quẻ làm sáng tỏ việc dùng binh.

Bức tranh chung: nhẫn nại cố gắng chờ thời

Quẻ Sư chỉ vận thế đang lúc khó khăn nguy hiểm, còn phải nhẫn nại cố gắng chờ thời, nôn nóng sẽ thất bại.

Sự nghiệp: trước mặt chưa thể thành. Tài vận: chưa đến, kinh doanh khó đạt. Xuất hành: chưa thuận lợi. Tìm việc: khó khăn. Kiện tụng: nan giải, nên tìm cơ hội giải hòa. Thi cử: dễ chủ quan làm hỏng bài. Bệnh tật: dai dẳng, dễ tái phát. Tình yêu: trắc trở, dễ có tình địch hoặc kẻ gièm pha. Hôn nhân: khó thành hoặc dễ nảy sinh mâu thuẫn.

Hào sơ lục: ra quân phải giữ kỷ luật

Mọi việc hanh thông. Ra quân phải giữ kỷ luật; nếu không tốt lành thì xấu. Quan chức thăng tiến, sĩ tử công thành danh đạt. Mệnh xấu gặp gian nan, đau ốm, giảm thọ. Người hành quân (dùng binh) phải rất thận trọng, không thể cẩu thả; các nhà quân sự thường gặp quẻ này. Đây là bước đầu ra quân nên phải rất cẩn thận, giữ nghiêm kỷ luật, giữ khéo điều lành để khỏi mất lòng dân, mất lòng quân.

Mệnh hợp cách: có uy danh, dân kính phục, lòng nhân ái ra ơn khắp, chí công vô tư, hưởng lộc lâu dài; là người có khuôn phép, làm gì cũng có trật tự kỷ cương, mọi người tôn trọng noi theo, xây dựng được sự nghiệp. Mệnh không hợp cách: tính hay thay đổi, việc dám làm vượt lệ lối cũ, trước được hưởng phú quý, sau sẽ sụp đổ; người hay thay đổi, tùy hứng, tính tình bất thường, an nhàn về trước, gian khổ về sau.

Vận hạn: quan chức tận tâm với chức vụ, nhiều việc hanh thông; học trò bài vở trúng, công danh thành; người thường kinh doanh có kế hoạch, tài lộc có phát, nhưng nếu khinh động thì thành ít bại nhiều; số xấu gặp hiểm trở, giảm thọ.

Hào cửu nhị: ở giữa đám quân, ba lần được ban thưởng

Ở giữa đám quân thì tốt, không lỗi gì, được trên ba lần khen thưởng. Hào này được tín nhiệm trong công việc. Sĩ tử thành đạt nhờ được người giúp đỡ. Người thường kinh doanh phát đạt. Điều binh khiển tướng giỏi, lập công.

Đây là hào dương duy nhất trong quẻ, thống lĩnh các hào âm. Là dương cương, lại được hào năm âm ở trên ứng thuận, giống như vị tướng được bề trên trao toàn quyền. Nhờ đắc trung nên không tội lỗi, còn được nhiều lần (ba là nhiều) khen thưởng, và cũng được hiểu là nhiều lần được giao mệnh lệnh.

Mệnh hợp cách: cương quyết mà không ngược ngạo, có ân có uy; hoặc làm tướng ngoài biên ải mà được lòng quân dân, hoặc ở tổng hành dinh mà xa gần đều cảm mến; là người có quyền mà không lạm dụng, được tín nhiệm, xa gần cảm mến, phúc lộc bền. Mệnh không hợp cách: cũng là bậc kẻ cả trong làng trong phố, được trên khen dưới mến; là người chức sắc ở địa phương, được mọi người kính trọng.

Vận hạn: quan chức ở ngoài được gọi về trung ương, hoặc ở trung tâm đổi ra địa phương, hoặc hành quân bên ngoài; học trò đỗ ưu, thành công; người thường được quý nhân giúp đỡ nên việc thành; thầy tu tiến về đạo đức; mệnh nữ tốt, có danh.

Hào lục tam: ra quân mà xác chở đầy xe

Như ý hào: thất bại lớn, không có công lao gì. Ra quân mà xác chết chở đầy xe, xấu. Có điều lo buồn lớn hoặc có tang nhục. Giới chức ít lương bổng, kẻ sĩ khó khăn chưa thành đạt, người thường kinh doanh ách tắc, ít tài lộc. Khinh địch thì bại trận.

Hào này vừa bất chính vừa bất trung, âm ở vị dương, lại ở quẻ Sư nên xấu, thất trận, chở xác chết về.

Mệnh hợp cách: tài sơ đức mỏng, dân chúng không phục; người tài sơ đức mỏng thì khó thành đạt. Mệnh không hợp cách: tuổi thọ không dài; người thể chất yếu ốm, suy nhược, kém thọ, phúc mỏng.

Vận hạn: quan chức chờ luận khuyết điểm, nhược điểm, hoặc chờ đưa về chỗ thiếu; học trò không trở ngại, nếu sinh vào tháng Mười hai thì tốt; các giới lo buồn dồn dập, hoặc có đại tang, hoặc phải đi về nơi thôn dã hoang vắng.

Hào lục tứ: quân lui về phía sau, không lỗi

Quân lui về phía sau thì không lỗi. Nên rút lui tránh họa. Quan chức gặp lúc phải rút lui, về hưu. Sĩ tử an phận chờ thời thì lành. Kinh doanh nên rút vốn làm ăn nơi khác mới khá. Cầu may mà thăng thì sẽ thất bại.

Hào này tuy bất trung nhưng lại đắc chính (âm ở vị âm), không có tài (là hào âm), nhưng biết liệu sức mình, tạm lui để khỏi hao quân. Phép dùng binh là tránh quân địch mạnh, nên không lỗi.

Mệnh hợp cách: sáng suốt, liệu việc trước, biết ứng biến từ lúc thời bình nên tránh được họa khi loạn đến; là người linh hoạt cơ mưu, biết ứng biến nên tránh được thất bại, không lấy việc rút lui làm nhục. Mệnh không hợp cách: nên lui về chức khiêm nhường hơn, bình dị an thân, bảo toàn được thân mệnh; người tham quyền, chỉ biết tiến không biết lui, bị sa cơ lỡ vận.

Vận hạn: quan chức trong sáng, cần cù nơi hẻo lánh; học trò được vào nội trú; người thường an cư lạc nghiệp, hoặc xây dựng nhà cửa, hoặc cư ngụ nơi xa, tránh được tai họa.

Hào lục ngũ: có muông thú phá ruộng thì săn bắt, nhưng đừng giao quyền cho kẻ trẻ

Như ý hào: không nên giao việc lớn cho những người kém tài đức. Như đồng có muông thú về phá thì săn bắt chúng, không lỗi. Dùng người lão thành làm tướng cầm quân; nếu dùng bọn trẻ (tài kém) thì phải chở thây mà về, dù có danh nghĩa chính đáng, kết quả vẫn xấu. Làm việc lớn hợp thời, vừa sức thì thắng lợi; ôm việc quá khả năng, làm không đúng lúc thì dễ chuốc tai nạn. Trẻ nhỏ dễ ốm đau bệnh tật.

Đây là xem xét về nghĩa lý cầm quân và đạo làm tướng. Hào năm ở vị chí tôn, âm, tượng thủ lãnh cao quý, trung, nhu thuận, không gây chiến. Nhưng vì có họa xâm lấn mà phải đánh đuổi nên không lỗi. Về việc giao quyền cầm quân: người được hào này nên trao cho người lão thành (người đã có thử thách), hoặc người thực tài (hào hai); chớ trao cho đám người trẻ (ở đây chỉ có ý nghĩa là người thiếu kinh nghiệm), hoặc kẻ tài hèn đức mỏng trí kém giá trị thấp (hào ba, hào bốn). Hễ để chúng tham gia chỉ huy thì dù chiến tranh chính nghĩa cũng thất bại, mang nhục, chở xác về.

Mệnh hợp cách: tiến thân hợp lẽ phải, thuận đường, lập công mà vẫn tỏ ra có đức; xem xét kỹ rồi mới ra lệnh, dẹp loạn cứu dân, uy danh nổi như cồn khắp chốn; người có công dẹp loạn yên dân, số của người làm tướng giỏi lập nên sự nghiệp lớn. Mệnh không hợp cách: ở nơi thôn dã, có vườn, có gia súc, có học, có quyền; con lớn thì quản được việc nhà, con nhỏ hay bị chết non. Nếu là số xấu thì là người nói liều, làm bậy, vụng về, gàn quá; hoặc kẻ có quyền mà ương gàn, làm bậy, tự chuốc lấy tai vạ; con út hay bị đau yếu khó nuôi.

Vận hạn: quan chức hoặc ra chấp chính, hoặc có tên tuổi; học trò đỗ hạng vừa, thành danh; người thường thuế ruộng ngày càng cao, bất lợi, nhưng nếu ủy quyền cho người khác thì được việc; trẻ con phải phòng tật ách.

Hào thượng lục: khải hoàn rồi, chớ dùng tiểu nhân việc nước

Khi đã khải hoàn, thành công, được phong thưởng, thì hễ việc gì quan hệ đến việc trị nước, trị nhà thì chớ dùng kẻ tiểu nhân, dù họ có chiến công. Gặp thời vận tốt, quan chức dễ thăng tiến, có nhiều cơ hội lập công; sĩ tử đậu cao, dễ thành danh, thành công trong khoa học kỹ thuật; người thường cũng gặp thời phát đạt, kinh doanh nhiều tài lộc. Phòng có kẻ lộng quyền lợi dụng chức vụ quấy nhiễu. Lập công danh đến tột cùng nhưng không lợi dụng để được vinh thăng.

Hào ở trên cùng chỉ lúc thành công, đến việc luận công khen thưởng thì phải nhớ rằng: kẻ tiểu nhân tham gia chiến đấu vẫn lập được công, nay chỉ nên khen thưởng tiền bạc thôi, chớ giao cho địa vị trọng yếu trong nước, vì công việc kiến thiết quốc gia phải người tài đức mới gánh vác nổi. Trong sử Trung Hoa, có những kẻ thuộc hạng tiểu nhân mà vua Hán vẫn dùng để đánh được nước Sở. Sử nước ta có Trần Khánh Dư là người bình thường nhưng Trần Hưng Đạo đã dùng để đánh quân Nguyên. Đó là cách biến thông của nhà binh. Đến như việc trị nước thì không thể như vậy được.

Mệnh hợp cách: bậc đại nhân, được ân sủng, hưởng thọ, hoặc lập công to với đất nước, hoặc thừa hưởng tổ nghiệp; người ở ngôi cao, có đức hạnh, có công to, phúc lộc lâu bền. Mệnh không hợp cách: ít công tâm, cậy thế, cậy cơ hội, khinh dân, có thể chung hoạn nạn mà không chung hưởng lạc, phúc nhà mỏng; kẻ có tài nhưng kém đức, cậy thế lộng quyền, phúc mỏng mệnh bạc.

Vận hạn: quan chức đương quyền lập công; học trò thành danh, có thành tựu kỹ thuật; người thường nuôi được gia đình, tiếp nối được nghiệp tổ, sinh thêm con cháu; các giới phòng kẻ dèm pha, mưu chiếm vị, vượt quyền.

Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc