Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hôn nhân hợp lý và mười hai bước đọc một lá số

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Hôn nhân hợp lý và mười hai bước đọc một lá số

Người nông dân nhớ mình sinh lúc gà gáy canh một, bèn tính là sáng hôm sau; nhưng giờ Tý đã thuộc ngày mới từ lúc hai mươi ba giờ. Chỉ lệch một ngày, cả Tứ trụ đã thành của người khác. Còn hai người cưới nhau, thiên hợp địa hợp hay thiên khắc địa xung, ai bền ai tan, đều bắt đầu từ chính cái gốc ấy...


Quan niệm đúng về hôn nhân: tiên thiên không thắng nổi hậu thiên

Trong Tứ trụ có mấy loại dấu hiệu cho thấy hôn nhân khó thuận. Chẳng hạn ngang vai, kiếp tài vượng lại gặp vận sinh cho vượng, đó cũng là những dấu hiệu bất lợi cho người cha và dễ phá tài; hoặc có thương quan, kình dương, sát; hoặc ngày sinh âm dương xô lệch gặp lúc vượng tướng mà không bị chế; hoặc chi ngày bị xung. Nhưng nếu bảo những điều ấy là cố định, không thể thay đổi thì không có lý, vì phần nhiều cảm tính hậu thiên của con người đã thắng được những điều tiên thiên này.

Trong buổi xem mệnh, rất nhiều bạn trẻ đến hỏi chuyện hôn nhân. Phần đông không tìm đúng người hợp với mình, và còn có vấn đề cơ duyên: không đủ điều kiện, hoàn cảnh để chọn người yêu theo ý muốn. Vì vậy kết quả hôn nhân xấu thường hiện ra khi gặp vận trình mà lưu niên không tốt. Hỏi về hôn nhân trước khi kết hôn thì vừa chọn được đối tượng theo lý tính, vừa chọn đúng thời cơ, nên kết quả tốt hơn.

Thiên hợp địa hợp và nạp âm: gốc năm quyết định điều gì

Muốn có một cuộc hôn nhân hợp lý, trước hết xét quan hệ ngũ hành tương sinh. Nếu chi năm của hai người tương hợp, can năm cũng hợp, nạp âm của can chi năm lại tương sinh thì nhất định là hôn nhân tốt. Khi can năm và chi năm đã cùng tương hợp thì không cần lo nhiều về chuyện sinh khắc giữa chúng nữa.

Tuy nhiên, có những cặp can chi thiên hợp địa hợp nhưng nạp âm ngũ hành tương khắc; một số cặp vợ chồng như vậy cãi nhau suốt đời mà vẫn không tan vỡ, vì thiên hợp địa hợp khiến gốc năm bền vững, không dễ lung lay. Còn nếu mệnh năm của hai người là mộc với hỏa, kim với thủy, hỏa với thổ, thủy với mộc, thổ với kim, tức quan hệ tương sinh, thì thông thường yêu nhau gắn bó như keo sơn, tối thiểu cũng có một bên rất yêu bên kia. Hôn nhân thiên hợp địa hợp lại thêm mệnh năm tương sinh thì chẳng khác gì thêu hoa trên gấm. Thời phong kiến, nam nữ kết hôn thường dựa vào Tứ trụ, nên chính sự hợp lý ấy bổ cứu cho chuyện hai người chưa hiểu nhau vì tập tục cũ; những cuộc hôn nhân mỹ mãn là những cuộc kết hợp có sự hợp lý về Tứ trụ.

Từ kinh nghiệm qua nghiên cứu, những lối nói cho rằng hôn nhân mà thương quan hoặc tỉ kiếp nhiều, hoặc vượng, có thể triệt tiêu được tính khắc của nhau vẫn cần tiếp tục kiểm nghiệm. Quan hệ sinh khắc ngũ hành của nam nữ có thể đối chiếu với những cặp đã kết hôn để suy tính, kiểm chứng. Nói về thiên khắc địa xung, dù hai bên có khắc nhau, kể cả nạp âm khắc nhau, vẫn lấy gốc năm tương hợp làm chính. Nạp âm khắc là điều kị của bên sợ bị khắc, nhưng đó là cái khắc mừng. Dĩ nhiên xung đột do tính khắc ấy khó tránh khỏi cãi vã, nặng nhẹ ra sao còn tùy vận nào, năm nào. Trong tổ hợp mà cha hay mẹ mất, hoặc sinh một đứa con, cũng ảnh hưởng đến sự cân bằng của Tứ trụ: có người sinh con xong thì vợ chồng căng thẳng hơn, lại có người sau khi cha hoặc mẹ mất thì quan hệ dịu lại.

Mệnh và vận có tổ hợp hữu cơ với nhau, đó cũng là chỗ lộ ra của thiên cơ. Giải thích nó cho rõ và tìm cách cải biến nó là điều mách bảo cho những ai muốn khám phá môn học này: con người qua những can chi giản đơn mà tổ hợp vô cùng phức tạp ấy, cuối cùng có thể hiểu rõ bản thân, làm chủ và cải biến mình. Mệnh vận tuy không nhìn thấy, không sờ được, nhưng vẫn hiện hữu và liên quan từng giờ với giàu sang, nghèo hèn, cát hung, thọ yểu. Có người cưới đối tượng thiên khắc địa xung, khó vượt qua cửa ải tuổi năm mươi tư; nhưng cũng có người nhờ đại vận tốt, khi sao xấu đã qua, gặp được người thiên hợp địa hợp, giải được nạn, sự nghiệp cũng phát triển. Hôn nhân như vậy đã thành điều may.

Nhưng điều may có phải thứ khó tự tìm hay không? Trước tiên phải hỏi mình có muốn tìm không. Không muốn tìm thì gặp may cũng bỏ qua vô tâm; còn muốn tìm, gặp dịp may, thì khi đến lúc:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ.

người ta sẽ không để duyên trôi tuột mất. Còn nếu muốn tìm mà mãi không gặp dịp may thì chắc chắn đó là mệnh xấu.

Hôn nhân nặng nề nhất: thiên khắc địa xung ở mệnh năm

Trong mọi cuộc hôn nhân bất hạnh, nặng nhất là cuộc hôn nhân mà mệnh năm của hai người thiên khắc địa xung. Với những cuộc như vậy, thầy Thiệu Vĩ Hoa từng dự đoán, giải khắc cho nhiều cặp và đem lại kết quả thực tế trong đời sống. Có cuộc hôn nhân giải được, có cuộc không giải được; ở đây còn dính một vấn đề thuộc phạm trù đạo đức và hoàn cảnh xã hội có cho phép hay không, và nhất là nhận thức của từng người.

Khi đạo đức xã hội mâu thuẫn với tính nhân đạo, việc xử lý cho đúng chính là trách nhiệm của người dự đoán. Ngày nay tòa án trước khi cho ly hôn đều yêu cầu qua giai đoạn hòa giải; hòa giải không thành mới ly hôn. Người dự đoán cũng phải xét trước xem mâu thuẫn mệnh vận của hai bên sẽ dẫn đến hậu quả nào, rồi mới chọn hình thức giải quyết có lợi nhất cho cả hai. Nếu dự đoán thấy vợ chồng đó sẽ gây nguy hại đến tính mạng, để lại ảnh hưởng xấu cho xã hội thì tòa án cho ly hôn, người dự đoán cũng kiến nghị ly hôn. Chỗ khác nhau là tòa án căn cứ vào tình cảm hai bên đã tan vỡ, còn người dự đoán căn cứ vào tình cảm đã thể hiện trên tổ hợp Tứ trụ thành sự xung khắc bất lợi; hơn nữa nếu thấy hậu vận của một bên tính khắc rất nặng, hoặc tai họa sống chết của một bên cùng lúc phát sinh, hoặc hậu vận hai bên khác nhau, khó chung sống đến bạc đầu, thì cũng đủ căn cứ. Điều kiện là người dự đoán phải hết sức cẩn trọng, có trách nhiệm, đoán chính xác, và hai bên phải nhìn thẳng vào sự thật, như vậy mới bảo đảm chia tay một cách bình thường, bảo vệ được cả hai.

Đại vận phản ánh những việc diễn ra trái với quy luật tự nhiên mà chưa được điều chỉnh. Khi điều chỉnh nó một cách nhân tạo, làm cho nó thuận với quy luật tự nhiên thì họa lớn có thể thành nhỏ, họa nhỏ có thể tiêu tan; thực tế đã chứng minh bại vận của con người trong một mức độ nhất định là có thể điều chỉnh.

Hôn nhân hợp lý: những cặp tuổi thiên hợp địa hợp

Khí trường không thuận dẫn đến hôn nhân bất hạnh. Vợ chồng thiên hợp địa hợp thì hôn nhân mỹ mãn mà lâu dài, không gì làm tan vỡ được. Ví dụ các cặp Mậu Thìn với Quý Dậu, Giáp Tuất với Kỷ Mão, Nhâm Thìn với Đinh Dậu, Mậu Tuất với Quý Mão, Giáp Thìn với Kỷ Dậu, Canh Thìn với Ất Dậu, Canh Tuất với Ất Mão. Những cặp này đều cách nhau năm tuổi, nên chênh lệch không lớn, mức độ thiên hợp địa hợp tuy có cặp nhiều, cặp ít.

Riêng về hôn nhân, người nữ rất sợ ly hôn vì tái giá nói chung là bất hạnh, nên hôn nhân hợp lý là sự chọn lựa theo lý trí. Những cuộc như vậy nếu có duyên gặp được thì tình cảm ngày một sâu đậm; dù nam hay nữ có những dấu hiệu hôn nhân không thuận vẫn có thể hóa giải. Cũng có những cặp thiên khắc địa xung mà vẫn tai qua nạn khỏi, bởi âm phúc dày, ăn ở tích đức, trong mệnh có cứu, hoặc đại vận vừa lúc gặp được trụ năm thiên hợp địa hợp nên được cứu. Bằng không khó tránh khỏi tan vỡ. Nhiều người không thấy được ngũ hành hai bên cần gì, nên cũng chẳng biết sự tương khắc có bất lợi hay không; cho nên tìm người tương sinh với mình là tốt hơn cả.

Mười hai bước để đọc một lá số cho trọn

Thứ nhất, xác nhận lại ngày giờ sinh cho chuẩn xác. Thứ hai, sắp Tứ trụ cho đúng, gồm mười thần của các can thấu và can tàng, cả thần sát; sau đó sắp đại vận, tính số bắt đầu vận, lấy mười thần của can vận; nếu đoán sát cho một năm nào thì còn sắp cả tiểu vận, lưu niên. Thứ ba, xem ngũ hành của nhật can sinh vào tháng vượng hay tháng suy. Thứ tư, xem nhật can có được khí của các địa chi khác không. Thứ năm, xem nhật can có được ấn tinh của can chi sinh phù không. Thứ sáu, xem nhật can có được các can khác giúp thêm không. Thứ bảy, xem các thiên can khác sinh vào tháng vượng hay suy, rồi thống kê để ước lượng thân vượng hay nhược. Thứ tám, tìm dụng thần và kị thần. Thứ chín, định các cách cục giàu sang, nghèo hèn, cát hung, thọ yểu. Thứ mười, xác định các vận hưng, suy, cát, hung và phân biệt với các vận bình thường. Thứ mười một, xác định năm tốt nhất, xấu nhất trong đời và ứng vào việc nào, người nào. Thứ mười hai, kết hợp xem cả tính tình, tướng mạo, nhân cách, quan tài, sự nghiệp, bệnh tật, hôn nhân, con cái.

Ngày giờ sinh chuẩn xác là điều kiện đầu tiên

Điều kiện cơ bản của việc đoán là người hỏi phải cung cấp chính xác năm, tháng, ngày, giờ sinh, có khẳng định chắc chắn mới đoán được. Chỗ dễ nhầm nhất là ranh giới giữa ngày hôm trước và ngày hôm sau. Người ở nông thôn thường chỉ nhớ tối ngày hôm trước, giờ Tý hoặc lúc gà gáy lần thứ nhất; thực ra giờ Tý đã là ngày hôm sau nhưng họ quên cộng thêm một ngày. Ngày đã sai là sai toàn bộ, vì về bản chất đó không còn là Tứ trụ của người ấy nữa.

Giờ Tý là ranh giới giữa hai ngày, và hai mươi ba giờ đã là giờ Tý rồi, tức từ hai mươi ba giờ đến trước một giờ. Nhưng người nông dân thường tính từ không giờ trở đi mới là ngày hôm sau, nên phải hỏi cụ thể từng giờ. Ở những thời điểm cuối của các giờ cũng phải hỏi cho rõ: trước ba giờ là giờ Sửu, sau ba giờ là giờ Dần.

Nếu ngày giờ cung cấp không đáng tin thì không nên đoán. Trước hết là để bảo đảm trách nhiệm về lời nói của mình, rồi là để giữ danh dự; đoán sai còn gây ảnh hưởng xấu cho việc ứng dụng Chu dịch, làm mất lòng tin của người ta.

Sắp Tứ trụ và thẩm định lực lượng các ngũ hành

Sắp Tứ trụ chính xác là nội dung cơ bản của dự đoán. Viết ngày giờ sinh xong thì ghi rõ các can tàng trong địa chi, rồi căn cứ vào can ngày mà xác định mười thần của các thiên can lộ ra và cả can tàng. Số bắt đầu của đại vận có thể tính khi tra can chi, theo quy tắc đếm thuận hay đếm ngược, cứ ba ngày tính thành một năm để tính các đại vận. Xếp xong đại vận thì ghi mười thần ứng với can vận, mỗi vận mười năm. Cuối cùng theo bảng thần sát, ghi tên gọi tắt các thần sát ở góc phải phía trên để khi đoán nhìn thấy ngay thần sát ở trụ nào, xung khắc gần hay xa, ảnh hưởng đến đâu. Đồng thời thấy được thần sát ấy gặp lục thân của cung nào, người đó được âm phúc của ai, hay hung sát gây hại cho ai. Nếu cần xếp tiểu vận, lưu niên thì ghi chung phía dưới đại vận để thấy rõ mức độ hình xung khắc hợp với đại vận.

Xếp xong Tứ trụ thì thẩm tra lực lượng vượng suy của các ngũ hành. Trước hết xem ngũ hành của nhật can sinh vào tháng vượng hay nhược để biết có được lệnh không: phân lệnh tháng ở trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng đều là nhật can được lệnh. Kế đến xem nhật can ở các chi khác có rơi vào đất trường sinh, lộc, kình dương hay mộ khố, có khí có gốc là đắc địa. Rồi xem trong thiên can và địa chi có chính ấn, thiên ấn sinh phù không. Xem các thiên can khác có ngang vai, kiếp tài giúp thân không.

Tổng hợp các yếu tố được lệnh, đắc địa, được sinh, được trợ giúp, tùy mức độ sinh, khắc, hình, hợp, xung, hại, xa gần mà tăng giảm hợp lý. Sau đó tổng hợp các yếu tố quan sát khắc nhật can; chính tài, thiên tài làm hao tổn; thực thương xì hơi, cũng tăng giảm theo mức độ. So hai bên: nếu lực sinh phù nhật can lớn hơn là thân vượng; ngược lại lực khắc, xì hơi, hao tổn lớn hơn là thân nhược.

Từ dụng thần đến năm ứng nghiệm và tính cách con người

Thân vượng thì chọn cái khắc, xì hơi, hao tổn thân làm dụng thần, lấy cái sinh thân giúp thân làm kị thần; thân nhược thì ngược lại. Cách chọn dụng thần và kị thần phải căn cứ vào sự lựa chọn hợp lý các tổ hợp của Tứ trụ, chủ yếu lấy hỉ kị của tài quan làm chuẩn. Dụng thần có lực hay không, có tình hay không, kị thần có bị chế áp, bị hóa hay không, đó là cơ sở để định giới hạn giàu sang, nghèo hèn, cát hung, thọ yểu, tức những tầng bậc mà mệnh vận người ấy có thể đạt tới.

Tiếp đó xét dụng thần có đến ngôi hay không, bị khắc hay không, có cứu hay không, để vạch ranh giới giữa đại vận tốt, xấu và vận thường, rồi định vận tốt nhất, xấu nhất, bình thường nằm ở đoạn tuổi nào. Trong vận tốt phải làm rõ năm nào tốt nhất, năm nào tốt vừa, năm nào kém hơn; trong vận xấu cũng làm rõ năm nào xấu nhất, năm nào tạm đỡ, năm nào gặp hung hóa cát; vận bình thường thì năm nào thuận, năm nào bình thường, năm nào trắc trở. Tổ hợp đại vận ở thời kỳ tốt nhất tốt đến mức nào, căn cứ mười thần mà biết ứng vào việc gì chính. Ngược lại, tổ hợp ở thời kỳ xấu nhất xấu đến mức nào, ứng vào việc gì, vào mình hay vào người thân bị khắc, hay đều bị sinh khắc hoặc đều bị xung hợp.

Cuối cùng mới đoán nội dung bị sinh khắc hay xung hợp. Ngũ hành bị xung hợp hay bị sinh khắc có thể ứng vào bệnh tật hay công tác, lục thân, buôn bán; mười thần bị xung hợp hay sinh khắc ứng vào hôn nhân hay tài vận, quan vận, ốm đau, thọ yểu. Có sách bàn chung ngũ hành với mười thần. Chẳng hạn kiêu thần đoạt thực thần, năm đoạt thực thần có thể ứng vào ốm đau, cũng có thể ứng vào công tác, buôn bán, hoặc vào cung lục thân bị ốm đau, thậm chí ảnh hưởng đến tuổi thọ của mình hay người thân. Địa chi của năm tương xung với địa chi trong Tứ trụ thì thành kị thần; tháng tương xung thì mình hoặc lục thân ứng với cung bị xung nhất định gặp nạn.

Khi kết thúc, hoặc ngay từ trước khi dự đoán, nên kết hợp mệnh cục với đại vận, tổng hợp cân bằng các thần sát để bàn về tính cách người đến xem. Căn cứ Tứ trụ sinh hóa có tình hay không để biết người đó có tình nghĩa đến đâu. Từ tính hàn, ôn, thấp, táo trong Tứ trụ cũng thấy được người ấy nhiệt tình hòa hợp với mọi người hay lạnh nhạt xa lánh. Qua Tứ trụ cương nhu, trung chính hay nhu nhược, thiên khô, biết được đó là quân tử hay tiểu nhân. Người đoán hay người học đều cần hiểu căn bản về người được đoán, gồm bản thân và con cái họ, vì như thế có ích cho việc kết bạn, giao thiệp: gần người tốt, tránh kẻ xấu, giúp chọn và phát triển nghề nghiệp, hoặc tự nhắc mình cảnh giác đúng lúc, hoặc có cách đối xử hợp tình hợp lý với người được đoán.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc