Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Chính Quan đi vận nào thì hay, Tài hay Ấn, thân vượng hay nhược

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc05/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Chính Quan đi vận nào thì hay, Tài hay Ấn, thân vượng hay nhược

Cùng bước vào vận Dậu, lá số này rạng rỡ nhờ tiết Tài sinh Ấn, lá số kia lại bị tam hợp kim cục thương khắc Quan tinh. Cổ nhân chỉ rõ khác nhau nằm ở những chữ nhàn thần xen giữa và chỗ đứng của từng chi trong tứ trụ...


Mỗi lá số một cách đi vận, vì còn có nhàn thần

Nguyên lý chọn vận cho cách Chính Quan thì mỗi Bát Tự có cách luận riêng, lý lẽ rất tinh tế, phương pháp rất linh hoạt, chỉ nói tóm lược được. Bát Tự mỗi người biến hóa một khác, không thể câu chấp.

Cùng là cách Quan dùng Tài sinh mà vận đi khác nhau, vì trong Bát Tự ngoài dụng thần, hỉ thần, kị thần còn có nhàn thần. Dụng thần, hỉ thần, kị thần thì định được, còn nhàn thần thì không định. Như Quan dùng Tài sinh thì Chính Quan là dụng thần, Tài là hỉ thần, Thương Quan là kị thần. Nhưng trong Bát Tự vốn xen lẫn nhàn thần nên cách cục không đồng nhất; vị trí phối hợp của địa chi, chi đứng trước hay chi đứng sau, cũng không nhất định. Cho nên mỗi lá số có một cách luận. Từ biến hóa tổ hợp của thiên can và vị trí địa chi mà xuất hiện chênh lệch giàu, sang, nghèo, hèn.

Quan dùng Tài Ấn: thân nhược thì trợ Ấn, Quan nhẹ thì trợ Quan

Chính Quan dùng Tài và Ấn: nếu thân hơi nhược thì giúp thân, tức dùng Ấn hóa Quan vượng, vận phải đi chỗ Ấn vượng. Nếu Quan hơi nhẹ thì giúp Quan, tức dùng Tài sinh Quan, vận cũng phải đi nơi sinh Quan. Nếu Quan thấu lộ thì không thể gặp hợp, không thể hỗn tạp Sát, không thể nhiều Quan. Địa chi tàng Quan mà gặp hình xung thì không chỉ cách Quan mà các cách khác cũng bất lợi.

Chính quan mà dụng Tài Ấn, thân hơi nhược thì trợ thân; Quan hơi nhẹ thì trợ Quan.

Vận mừng hay kị, mỗi Bát Tự mỗi khác, nên chỉ có thể tham khảo. Chính Quan dùng cả Tài lẫn Ấn, tuy nói kiêm dụng nhưng phải có chủ kiến: thân hơi nhược thì chọn giúp thân, lấy Ấn làm chủ; Quan hơi nhược thì chọn giúp Quan, lấy Quan làm chủ. Nhưng nếu Tài và Ấn đều thấu thì rất mừng vận Quan Sát: Tài sinh Quan Sát, Quan Sát sinh Ấn, nhất khí tương thông, lúc ấy Quan Sát sinh Ấn mà không khắc thân. Còn Quan tinh thấu lộ trên can thì gặp hợp Quan, tạp Sát, Quan trùng điệp, địa chi hình xung đều là điều kị của cách Quan. Quan tàng ở chi mà địa chi hội hợp hình xung cũng kị.

Lá số Tiết tướng công: năm Giáp Thân, tháng Nhâm Thân, ngày Ất Tị, giờ Mậu Dần; vận đi Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão. Nguyệt lệnh Chính Quan kiêm dùng Tài và Ấn, mừng giữa Tài và Ấn có Ất mộc ngăn cách khiến hai thần không cản trở nhau nên kiêm dụng được. Nhưng mùa thu mộc tàn tạ, Quan gặp sinh gặp lộc, Tài cũng gặp sinh gặp lộc, Tài Quan cực vượng nên mới gọi là thân hơi nhược, cần giúp thân. Vận Dậu là Thất Sát, tiết Tài sinh Ấn là cực đẹp; vận Giáp giúp thân cũng tốt. Nếu trụ năm Giáp Thân đổi thành Kỷ Dậu thì vận Giáp hợp Kiếp phá Ấn thủy, không tốt. Thế mới nói do sự phối hợp của nhàn thần mà hỉ kị khác nhau. Vận Tuất Tài vượng nhưng mừng là không tổn Ấn nên không ngại. Vận Ất Hợi đi phương bắc là đất Ấn thụ, nhưng đến Hợi gặp tứ xung, khó tránh sóng gió ba đào; vì vậy mới nói do phối hợp địa chi khác nhau mà hỉ kị cũng khác. Vận Mậu Tài tinh phá Ấn, vận Dần hai Dần xung Quan, cả hai đều không tốt, e rằng đến đấy thì tận số.

Lá số năm Nhâm Tuất, tháng Đinh Mùi, ngày Mậu Thân, giờ Ất Mão, vận đi Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý Sửu: đây là Chính Quan tạp khí. Tuy Tài và Ấn đều thấu, nhưng Đinh Nhâm hợp nhau khiến Tài Ấn mất tác dụng, nên luận là Quan cô độc không có phụ trợ. Thêm Mão Thân hợp nhau do Ất Canh ám hợp, Tuất Mùi hình nhau, gốc của Quan tinh bị tổn hại, đó là nhược điểm cơ bản của lá số. Vào vận thì nhật nguyên đang vượng, Quan tinh hơi mỏng nên cần giúp Quan. Trước vận Canh Tuất không có vận tốt; những vận thủy như Hợi, Tý, Nhâm, Quý là vận Tài, sinh trợ Quan tinh, là lúc thỏa chí đời người.

Chính Quan dùng Tài: thân vượng hay thân nhược đi hai đường khác nhau

Chính Quan dùng Tài thì vận mừng đất Ấn thụ làm thân vượng lên, tránh gặp Thực Thương. Nếu thân vượng mà Tài nhẹ Quan yếu thì vẫn tốt khi đi vận Tài Quan. Cần chia rõ thân vượng với thân nhược, vì hai trường hợp hoàn toàn khác nhau. Thân nhược mừng đất Ấn thụ làm thân vượng, kị đi vận Thực Thương. Thân vượng mừng hướng vượng địa là Tài Quan; xem các lá số trên thì quá hiển nhiên.

Chính Quan bội Ấn: vận hỉ phương Tài hay vận Tỉ Kiếp Lộc Ấn

Chính Quan bội Ấn thì vận mừng phương Tài, Thương Thực trái lại cát lành. Nhưng nếu Quan mạnh thân nhẹ mà còn bội Ấn, tức có Ấn tiết Quan sinh thân, thì thân được trợ nên vượng lên, không cần gặp vận Tài, vì Tài vừa sinh Quan vừa phá Ấn. Chính Quan bội Ấn cũng chia hai loại thân vượng và thân nhẹ. Thân vượng Ấn nặng thì vận mừng Tài tinh làm hao tổn Ấn, đi vận Thương Thực tiết tú khí của thân để sinh Tài, Tài chuyển mà thăng Quan, tự thành vận đắc ý. Còn nếu Quan nhiều, thân nhẹ lại bội Ấn, tức phải dùng Ấn sinh thân thì vận Tài phá Ấn là kị, vận Thực Thương cũng không đẹp, hợp với vận Tỉ Kiếp, Lộc, Ấn.

Lá số Kim trạng nguyên: năm Ất Mão, tháng Đinh Hợi, ngày Đinh Mùi, giờ Canh Tuất; vận đi Bính Tuất, Ất Dậu, Giáp Thân, Quý Mùi, Nhâm Ngọ, Tân Tị. Quan hóa thành Ấn mà thấu Tài. Hợi, Mão, Mùi tam hợp mộc cục, nên Quan ở nguyệt lệnh Hợi thủy hóa thành Ấn mộc, Ất mộc lộ ra, thân vượng Ấn nặng. Dùng Tài để tổn Ấn, trụ giờ có Canh Tuất, Tài tinh hữu căn vì Canh thông gốc ở Tuất, nơi tàng Mậu, Tân, Đinh. Ban đầu vận đi phương tây Thân Dậu là đất Tài, Giáp không thông căn mất gốc, Ất theo Canh mà hóa, nên tự thành vận tốt đẹp như ý. Về sau đến vận Quý Mùi, vận chuyển sang phương nam, nhật nguyên quá vượng, Nhâm Quý là Quan Sát tiết Tài sinh Ấn, cũng không được như ý. Đó chính là câu thân vượng bội Ấn, mừng Thực Thương và phương Tài.

Quan kèm Thương Thực mà dùng Ấn chế: lá số Tuyên Tham quốc

Chính Quan kèm Thương Thực mà dùng Ấn để chế thì vận mừng đất Quan vượng Ấn vượng, tránh gặp vận Tài. Nếu Ấn thụ trùng điệp xuất lộ thì gặp vận Tài cũng không hại. Cần chia hai loại Ấn nặng và Ấn nhẹ. Nếu Thương Quan nặng mà Ấn thụ nhẹ thì mừng đi đất Ấn; vì Quan vượng sinh Ấn nên thành tốt đẹp, còn nếu gặp vận Tài phá Ấn thì là điều tối kị. Ngược lại nếu Ấn thụ trùng điệp sinh thân, dùng Thực Thương tiết khí của nhật nguyên thì vận Tài trái lại thành tốt, vì Thực Thương mừng đất Tài, hơn nữa lại dùng Tài để hao tổn Ấn, như trường hợp tiết hóa Quan thành Ấn.

Lá số của Tuyên Tham quốc: năm Kỷ Mão, tháng Tân Mùi, ngày Nhâm Dần, giờ Tân Hợi; vận đi Canh Ngọ, Kỷ Tị, Mậu Thìn, Đinh Mão, Bính Dần, Ất Sửu. Hợi, Mão, Mùi tam hợp mộc cục, Quan hóa thành Thương; nhật nguyên đóng ở Dần mộc, Dần Hợi lại hợp hóa mộc, Thương Quan trùng trùng. Nhật nguyên tiết khí quá mức, nên lấy Tân Ấn chế Thương giúp thân làm dụng. Hai mươi năm vận Kỷ Tị, Mậu Thìn là đất Quan Sát vượng sinh cho Tân Ấn nên tự là vận tốt; sau vừa bước vào vận Đinh, Tài tinh phá Ấn, không dùng được nữa.

Chính Quan mang Sát: dùng Kiếp hợp Sát hay dùng Thương hợp Sát

Chính Quan mang Sát thì gặp Thương Thực cũng không ngại. Mệnh Chính Quan mang Sát thường dùng Kiếp hợp Sát, nên có thể đi vận Tài, Thương Thực, hoặc vận thân vượng, Ấn thụ cũng được, chỉ ngại Thất Sát thấu lộ nhiều. Nếu dùng Thương Quan hợp Sát thì Thương Thực và Tài đều khả thi, duy chỉ có điều không nên gặp Ấn.

Chính quan đới Sát, gặp Thương Thực cũng không ngại.

Đoạn này cần hiểu ý, không nên câu nệ chữ nghĩa. Nói chung hỉ kị của vận cần xét phối hợp với tứ trụ nên không có lý cố định. Dùng Quan vốn kị Thương Quan, nhưng khi mang Sát thì lại không kị, vì có thể dùng Thương Quan chế hóa Sát. Hợp Sát có hai trường hợp: can dương hợp Sát thì dùng Kiếp, can âm hợp Sát thì dùng Thương. Dùng Kiếp hợp Sát thì kị nhất là lại đi vận Sát. Bởi vậy Tài, Thực, Thương, Ấn đều khả thi, đều có lý do để dùng. Thân vượng vốn không cần Ấn, nhưng dùng Kiếp hợp Sát, Sát chưa bị hợp mất, dù thân vượng rốt cuộc thành thấy cả Quan lẫn Sát, nên dùng Ấn hóa Sát cũng có lý. Nếu lại thấy thêm một Thất Sát làm hỗn tạp cách cục thì dù tứ trụ phối hợp thế nào cũng nhất định không hợp. Dùng Thương hợp Sát cũng tương tự: Thương Thực và Tài, khi thỏa điều kiện phối hợp thích hợp đều dùng được. Duy trường hợp Kiêu Ấn khắc khử Thương Quan, tức phá mất thế Thương Quan đang hợp Sát, thì nhất định không thể.

Lá số của Lý Tham chính: năm Canh Dần, tháng Ất Dậu, ngày Giáp Tý, giờ Mậu Thìn; vận đi Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão. Ất Canh hợp, giữ Quan bỏ Sát, vì Tân tàng trong nguyệt lệnh Dậu. Vận Bính Tuất và Đinh là vận Thực Thương, Hợi Tý Sửu là vận Ấn, Mậu Kỷ là vận Tài, đều khả thi. Riêng vận Canh thì gặp thêm Thất Sát làm hỗn cục, nhất định không phù hợp.

Quan dùng Ấn mà gặp Tài: lá số Thái phó họ Phạm

Lá số năm Đinh Sửu, tháng Nhâm Dần, ngày Kỷ Tị, giờ Bính Dần; vận đi Tân Sửu, Canh Tý, Kỷ Hợi, Mậu Tuất, Đinh Dậu, Bính Thân. Cách Quan dùng Ấn vốn kị gặp Tài. Nhưng ở lá số này Đinh Nhâm hợp nhau, Tài hóa thành Quan, kị thần biến thành hỉ thần, cách cục vì hợp mà thanh thuần nên là cách đại quý. Kim trong Tị và Sửu tàng mà không thấu, khí lại hưu tù, vốn khỏi cần nói đến; nhưng vận Canh Tân dẫn kim ra là điều không nên, mừng là nguyên cục có Bính hỏa khắc ngược lại, cũng là Ấn có khả năng hộ Quan. Dùng Ấn không nên gặp Tài, nên vận Tý Hợi không lợi, mừng là đóng ở địa chi, không làm tổn Bính hỏa mà lại sinh Quan tinh, đang bất lợi hóa thành cát lợi. Vận Kỷ, Mậu, Đinh giúp thân trợ Ấn đều là vận cát. Đến vận Dậu, tam hợp kim cục hội đủ, thương khắc Quan tinh, trở thành bất lợi. Vận Bính là tốt nhất.

Những lời trên đều là sơ lược, mỗi Bát Tự có một cách luận khác nhau. Mỗi Bát Tự lại có thể gặp một chữ khác nhau trong vận, nên khi nghiên cứu phải tùy thời mà chọn dụng thần, không thể dùng lời viết ra cho đủ được. Các cách khác cũng đều như thế, không riêng gì Chính Quan. Hỉ hay kị của vận tùy theo sự phối hợp của Bát Tự nên không có phép nhất định. Như hai lá số Lý Tham chính và Thái phó họ Phạm, hai Canh hợp một Ất là Sát hỗn cục; còn lá số họ Phạm gặp vận Đinh, hai Đinh hợp Nhâm thì vô ngại, vì Sát khắc thân và Thiên Ấn giúp thân là hai chuyện khác nhau. Nếu gặp vận Nhâm, hai Nhâm hợp Đinh thì không được, do Tài phá Bính Ấn mà thành kị thần. Tùy theo cách cục mà biến hóa cho phù hợp, làm được như thế là thấu hiểu.

Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc