Bài tổng quan
Người cùng giờ sinh vẫn khác đời: bàn về số, lý và cách giải đoán
Mỗi giờ âm lịch có hơn mười nghìn người cùng chung một lá số, vậy mà không ai sống giống ai. Một người mượn búa, không phải mượn bừa, và hóa ra cả câu chuyện nằm ở chữ lý... Con số ấy còn lại phần nào để ta tin?
Mục lục · 6 phần
Lý và số: hai nửa của một lá số
Người chú giải Kinh Dịch xưa nay chia làm nhiều phe. Người bảo cái cốt là số, người bảo cái cốt là lý; người này nói lý có trước số, người kia nói lý và số hợp nhất. Riêng tiên sinh Trần Hy Di, qua tác phẩm mang tên Hà Lạc Lý Số, đứng về phía lý số hợp nhất.
Số thì có muôn vàn cái giống hệt nhau, vì cùng sinh trong một năm, một tháng, một ngày, một giờ. Nhưng liệu hai người có cùng lá số mà số phận như đúc? Muốn thấy rõ, hãy tính một phép nhẩm.
Mười nghìn tám trăm người chung một lá số, vì sao mỗi người một đời
Theo tin của một tờ báo cũ, nhân loại mỗi giờ tăng thêm năm nghìn bốn trăm sinh mạng, theo lời các nhà thống kê của Liên Hiệp Quốc. Niên giám nhân khẩu học năm 1957 của họ tuyên bố dân số trái đất tăng gần một phần tư trong hai mươi năm. Một giờ âm lịch dài gấp đôi một giờ đồng hồ, nên có đến mười nghìn tám trăm người cùng chung một lá số trong một giờ âm lịch.
Nếu số là tất cả thì mười nghìn tám trăm người ấy phải giống nhau như những chiếc đinh ốc cùng ra từ một lò máy, hay những giọt nước cùng múc từ biển cả lên. Có thể như thế được không? Không. Họ có những nét đại đồng, nhưng tiểu dị thì rất nhiều. Một người sinh giữa kinh thành hoa lệ ở châu Âu châu Mỹ, và một người sinh cùng lúc giữa rừng châu Phi, không thể giống nhau về hình thể, tính tình lẫn lý lịch đường đời, dù chung một lá số như hai anh em sinh đôi.
Cái làm họ khác nhau chính là lý
Vậy cái gì làm cho mười nghìn tám trăm người coi như sinh đôi ấy khác nhau? Chẳng phải là lý hay sao? Lý của địa dư, thủy thổ khác nhau. Lý của xã hội, nhân văn, nhân chủng khác nhau. Lý của di truyền, của chính thể cũng khác nhau. Tất cả những cái khác nhau đó đều nằm ngoài lý số: ngoài các ngôi sao, chúng tụ lại dưới một yếu tố chỉ huy, tức yếu tố nhân trong tam tài. Chúng cũng như các ngôi sao của người, hợp thành một lá số nhân bàn để phụ vào lá số thiên mệnh của Tử Vi, Bát Tự, Hà Lạc.
Lá số nhân bàn tuy vô danh mà rất quan trọng, vì nếu không thấu đáo nó thì việc giải đoán lá số thiên mệnh tất còn lờ mờ, thiếu sót hay sai bét. Hãy trả lá số nhân bàn về với cái tên nguyên thủy của nó là chữ lý. Lý phải đi kèm với số. Số không có lý thì chỉ là cái bóng ma trơi vô định.
Cái búa và cái bừa: câu chuyện trò hỏi thầy
Một tiếng gõ cửa lúc chiều đông, một quẻ vừa gieo xong, và hai đáp án nghe đều có lý. Chỉ một đáp án khớp với căn nhà bên ngoài cánh cửa.
Để hiểu tầm quan trọng của lý, hãy nhớ câu chuyện của thầy trò nhà lý số, trích từ bộ Mai Hoa Dịch Số của Thiệu Khang Tiết. Một buổi chiều mùa đông, giờ Dậu, thầy đang ngồi sưởi thì bỗng có tiếng gõ cửa. Thầy bảo trò: hãy khoan mở cửa, tính một quẻ xem người ta đến mượn gì.
Trò tính được quẻ Thiên Phong Cấu biến thành thuần Tốn, quẻ Hỗ là thuần Càn. Trong quẻ hiện ra ba Càn là Kim và Tốn là Mộc, tức một vật vừa bằng kim khí vừa bằng gỗ; Kim thì ngắn mà Mộc thì dài. Trò đoán: thưa thầy, đó là cái bừa. Thầy bảo: không phải bừa đâu con, nó là cái búa.
Trò hỏi vì sao. Thầy đáp: trước khi khởi số, phải sáng cái lý đã. Cùng một quẻ ấy, lấy số mà suy thì bừa cũng được, búa cũng được. Nhưng lấy lý mà suy thì chiều tối rồi, ai còn mượn bừa làm gì nữa? Người ta mượn búa để bổ củi.
Suy số thì phải minh lý, số không có lý thì không được.
Đó là điều cốt yếu của người xem quẻ, người học số nên nhớ. Chỉ riêng một quẻ ấy cũng thấy chữ tùy được áp dụng: tùy thời, tùy nơi, tùy người. Quẻ tính vào chiều tối ở miền thôn quê, vì một người dân quê gõ cửa. Nếu tính vào một buổi khác, ở thành thị, vì một loại người khác, dù có gặp quẻ Cấu như thế thì lời đoán tất nhiên phải khác đi. Đó là lý vậy.
Định nghĩa số và lý theo cách hiểu thông thường
Những lời bàn sau đây coi như giả thuyết. Trước hết hãy định nghĩa hai danh từ số và lý theo sự hiểu biết thông thường.
Phàm tất cả những gì không do ý chí con người tạo ra mà con người vẫn chịu ảnh hưởng xấu hay tốt, không thay đổi được, cũng không giải thích được tại sao, đều đổ cho số, và quy vào bốn đầu mối là năm, tháng, ngày, giờ sinh chịu trách nhiệm. Phàm tất cả những gì do ý chí, do hiểu biết của con người sáng tạo ra, định đoạt lấy, điều khiển được và giải thích được, đều là lý; nó bao gồm cả nền văn minh nhân loại.
Nếu chấp nhận định nghĩa ấy, thì thử mở rộng phạm vi áp dụng ra cả loài người, không để riêng ở vị trí nhỏ hẹp của từng cá nhân.
Phân số số trên lý
Lấy số của loài người làm tử số, lấy lý của loài người làm mẫu số, và đặt thành một phân số toán học: số trên lý. Trong phân số này nhớ rằng tử số không có khả năng thay đổi, vì ngày sinh tháng đẻ sao mà đổi được. Nhưng trị số của tử số có thể tăng giảm tùy hoàn cảnh. Trái lại mẫu số, tức lý, thì tha hồ thay đổi vì nó tùy thuộc vào quyền của con người. Tóm lại số là phần tĩnh, bị động, còn lý là phần động, làm thay đổi được số.
Theo định luật về phân số, đại khái: khi mẫu số tăng lên thì trị số của phân số giảm đi; ngược lại khi mẫu số giảm đi thì trị số tăng lên. Nói rộng ra, nếu mẫu số tiến dần đến vô cực thì trị số lùi dần về không, và ngược lại.
Khi lý tiến đến vô cực, và khi lý bị hủy diệt
Trở lại phân số trên. Giả sử lý, tức nền văn minh của nhân loại, một ngày kia thống nhất được đường lối, ít mâu thuẫn nội tại, khắc phục hoàn toàn thiên nhiên, bành trướng ra cả vũ trụ, tuyệt mỹ tuyệt hảo cả vật chất lẫn tinh thần. Lúc ấy lý tiến đến vô cực, trị số của phân số lui về không. Nghĩa là loài người thuần lý, là Phật, là Thánh, là bậc trí cả, sẽ không còn bị chi phối chút nào bởi số hay áp lực huyền bí. Cho nên những bậc siêu phàm đi trước nhân loại hàng vạn dặm đều vượt được số.
Câu cách ngôn nói rằng những người cứ nói số là ngu; ta thì lấy đức mà tu với trời; còn là người thì ngu thật, bao giờ siêu phàm như Phật, Thánh, Thần, Tiên thì mới hết ngu.
Trái lại, nếu nền văn minh của loài người sụp đổ xuống ngang hàng với trình độ cầm thú, thì trị số của tử số tăng vọt lên khi mẫu số bị hủy diệt, phân số tiến đến vô cực. Loài người sẽ chịu áp lực khốc liệt của số hay kiếp mệnh nặng hơn bây giờ nhiều, như loài cầm thú vẫn chịu đựng kiếp mệnh của chúng từ thuở khai thiên lập địa. Chúng là sinh vật thì cũng có số mệnh trong phạm vi của chúng; đồng thời với người, chúng cũng có ngày sinh tháng đẻ. Chỉ vì lý sáng tạo của chúng không tăng tiến, vẫn là con số không, nên số của chúng thành một số lượng vô cùng lớn và vô cùng độc tài.
Người lơ lửng giữa lý và số
Những điều trên là một viễn tượng ảo giác nói ra để nhấn mạnh tương quan mật thiết giữa số và lý. Sự thực thì có lẽ không bao giờ xảy ra một cách tuyệt đối như thế với loài người. Người đã là người, vẫn cứ là người, và trên cương vị người thì không bao giờ là thuần số hay thuần lý cả. Người vẫn lơ lửng giữa lý và số, khi lên khi xuống trong cái tương đối giữa tinh thần và vật chất, giữa trong và đục, cao và thấp, thánh thần và ma quỷ, thiên đàng và địa ngục, ít nhất còn lâu lắm, không biết bao nhiêu chu kỳ nguyên, hội, vận, thế nữa.
Từ lý số đến thực hành: năm bước giải đoán một lá số
Bàn về số và lý xong, còn lại là chuyện cầm bút. Năm bước dưới đây là cách gom mọi mảnh ghép đã có thành một lời đoán.
Bước một: phân tích theo hai mươi thể cách
Phân tích lá số theo tiêu chuẩn của mười thể cách tốt và mười thể cách xấu. Muốn phân tích kỹ lưỡng thì tất nhiên phải quán thông ý nghĩa của sáu mươi bốn quẻ và ba trăm tám mươi bốn hào.
Bước hai: biết điều gì cho điểm cao nhất
Tuy chia thành mười thể cách, nhưng điều cốt yếu cần chú ý và cho hệ số điểm cao, bất cứ thời nào, là: bổn mạng Nguyên Đường có được Thiên Địa Nguyên Khí, Hóa Công và hào Ứng yểm trợ không; số Âm Dương có hợp thời không; rồi sau đó mới xét đến quẻ và hào vị. Tượng và lời hào tốt hay xấu, kế đó xét đến các thể cách, thì đường họa phúc nhận ra rõ ngay.
Bước ba: tổng hợp rồi mới kết luận
Tổng hợp các thể cách thì mới định được mệnh hợp cách hay không hợp cách, hoặc mệnh bán cát bán hung. Điều này rất linh động, theo đúng nguyên tắc tùy thời, tùy nơi và tùy người.
Bước bốn: đọc đại vận và tuế vận bằng lý, không bằng mặt chữ
Muốn xem đại vận và tuế vận thì cần thấu triệt ý nghĩa của quẻ hào. Ở đây Dịch lý lại càng linh diệu. Không thể cứng nhắc, hễ thấy lời hào tốt là liền đoán tốt, thấy xấu là đoán xấu. Cần suy lý, cân nhắc trong sự phối hợp của quẻ hào với Nguyên Đường, Tiên Thiên, Hậu Thiên, và Thiên Địa Nguyên Khí, Hóa Công.
Bước năm: đối chiếu ngũ hành với tuổi
Xem ngũ hành đối với nạp âm và can chi của tuổi, sinh khắc ra sao, rồi sau đó mới quyết đoán. Lời xưa nói rằng lời hào chưa thể làm chỗ dựa duy nhất: lời tốt mà lý xấu, lời xấu mà lý tốt, nghĩa thâm diệu vô cùng.
Hào từ vị khả bỉ cứ. Tuy từ cát nhi lý hữu hung giả, tuy hào hung nhi lý hữu cát giả, vô cùng diệu nghĩa.
Biết đại vận tốt hay xấu rồi cũng chưa nên vội quyết, còn phải xét tiểu vận, tức tuế vận, ra sao. Giả như đại vận là quẻ Truân mà gặp tuế vận là quẻ Ký Tế thì tránh được nạn; gặp quẻ Phục hay Ích thì tốt; gặp quẻ Tỷ thì xấu. Giả như đại vận là quẻ Thái mà gặp tuế vận là quẻ Khôn thì kém đi; gặp quẻ Nhu hay Đại Tráng thì tốt.
Đại để tượng tốt, lời hào tốt và lý thuận thì dù có vận hạn xấu cũng chỉ qua loa. Nếu tượng, lời hào và lý đều xấu, lại thiếu Thiên Địa Nguyên Khí và Hóa Công, thì có thể đi đến thân vong.
Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.
