Bài tổng quan
Thủy Trạch Tiết: cùng đóng cửa không ra, một người khỏi lỗi, một người mắc hung
Bờ đầm giữ cho nước không tràn không cạn, đạo giữ chừng mực cũng vậy. Một người không bước khỏi cổng sân thì được yên, người khác đóng cửa y như thế lại gặp hung. Cùng một việc, vì sao đổi thời thì đổi kết cục?
Mục lục · 9 phần
- 01Tiết là chừng mực: trên đầm có nước, bờ đầm giữ cho nước không tràn
- 02Tiết mà quá khổ thì không ai chịu được, vừa phải mới thật hanh thông
- 03Dự báo cho quẻ Tiết: biết điều tiết thì rực rỡ, nôn nóng hay khắc khổ thì hỏng
- 04Hào sơ cửu: biết thời chưa thông thì không bước khỏi cổng sân
- 05Hào cửu nhị: thời đã thông mà vẫn đóng cửa, bỏ lỡ cơ hội
- 06Hào lục tam: chẳng giữ chừng mực, đến lúc than thở biết trách ai
- 07Hào lục tứ: yên vui trong chừng mực, vâng theo bề trên nên hanh thông
- 08Hào cửu ngũ: tiết chế mà vui, thiên hạ noi gương
- 09Hào thượng lục: giữ tiết đến khổ sở, quá đà thì tốt hóa xấu
Tiết là chừng mực: trên đầm có nước, bờ đầm giữ cho nước không tràn
Quẻ số sáu mươi là Thủy Trạch Tiết, thuộc hàng quẻ bình, ứng với tháng mười một. Tiết nghĩa là dừng lại ở chừng mức: hữu hạn rồi dừng, đến một lúc nào đó thì ngừng, có chừng mực, có tiết độ, tiết tháo, tiết chế. Quẻ trên là Khảm, là nước; quẻ dưới là Đoài, là đầm.
Trạch thượng hữu thủy, Tiết. Quân tử dĩ chế số độ, nghị đức hạnh.
Lời Tượng nói trên đầm có nước là quẻ Tiết, tức chừng mực. Người quân tử nhìn đó mà đặt ra số độ và bàn luận về đức hạnh.
Người sinh vào tháng mười một gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng đường đi hiểm trở thì thôi, giữ mình có tiết độ thì an vui dễ dàng; niềm vui cũng phải có chừng, kiêu dâm vô độ sẵn sàng sinh ra hung.
Tiết mà quá khổ thì không ai chịu được, vừa phải mới thật hanh thông
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói tiết chế thì hanh thông, nhưng tiết chế đến mức cực khổ thì không ai chịu được lâu. Theo tượng quẻ, trên đầm có nước; bờ đầm hạn chế số nước chứa trong đầm, cho nên đặt tên là quẻ Tiết. Cái gì cũng vừa phải thì mới tốt; thái quá cũng như bất cập đều xấu cả.
Quẻ này có ba hào cương, ba hào nhu, không bên nào quá; lại thêm hào hai và hào năm đều dương cương mà đắc trung, như vậy là xử sự được đúng tiết nên việc gì cũng hanh thông. Nhưng tiết chế quá, bắt người ta khổ cực thì không ai chịu được lâu, như vậy không còn hanh thông nữa.
Thoán truyện khuyên nhà cầm quyền theo luật tiết chế của trời đất: bốn mùa thay đổi, nắng mưa nóng lạnh đều có chừng mực; trị dân thì hạn chế lòng ham muốn, tính xa xỉ, không hại dân.
Lời Đại tượng truyện khuyên người quân tử, ở đây trỏ người trị dân, đặt ra số và độ, nghĩa là hạn định một chừng mực nào đó trong việc làm và hưởng thụ của dân, tùy đạo đức, tài nghệ của mỗi người. Như vậy chữ tiết có tác dụng lớn, gần như chữ kế hoạch hóa ngày nay và có mục đích thực hiện sự công bằng trong xã hội.
Dự báo cho quẻ Tiết: biết điều tiết thì rực rỡ, nôn nóng hay khắc khổ thì hỏng
Quẻ cho biết vận thế tốt đối với những người biết tự điều tiết; không lợi cho ai chủ quan nóng vội, không biết tự lượng sức mình. Biết điều tiết đúng mức cho hợp khả năng, cho trong ấm ngoài êm, thì công danh sự nghiệp sau một thời gian sẽ thành công rực rỡ, tài lộc có nhiều. Điều tiết không đúng, dè đặt thái quá, khắc khổ thái quá, dễ làm mất lòng tin của dân đến hỏng việc, tài lộc chỉ trung bình.
Mọi việc kiên trì thì giải quyết thuận lợi, nôn nóng khó xong. Ốm đau hay dai dẳng. Hôn nhân chưa thuận lợi nhưng sau bền chặt.
Hào sơ cửu: biết thời chưa thông thì không bước khỏi cổng sân
Hào dương, hào tốt. Chẳng ra khỏi cổng sân thì không lỗi; biết tự giữ mình nên không phạm lỗi.
Bất xuất hộ đình, vô cữu.
Hà Lạc nói liệu thời mà tự giữ thì khỏi nhục.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dùng chữ tiết với nghĩa tự mình tiết chế mình, tức dè đặt. Ở vào thời tiết chế, làm việc gì cũng phải đúng mức mới tốt. Hào một dương cương, đắc chính, ở đầu thời tiết chế, biết thận trọng không ra khỏi sân ngõ, vì biết rằng thời chưa thông, hãy còn tắc. Như vậy là đúng với thời tiết chế, không có lỗi.
Người mệnh hợp cách học rộng cổ kim, thấu lẽ thông biến, giữ chức bên trong hoặc việc công chính, lớn thì ở trung ương, nhỏ thì ở quận, xã. Người mệnh không hợp cách cẩn thận giữ gìn, không cạnh tranh thì khó mà tai hại.
Về vận hạn: quan chức cứ ở trung ương, không ra ngoài; giới sĩ tiến thủ được; người thường nên giữ nếp cũ. Số xấu thì có triệu chứng bị mắc kẹt, bế tắc. Câu thơ của hào nói ngồi nhà tên tuổi thơm hương, chờ ngày sáng sủa mới đi.
Hào cửu nhị: thời đã thông mà vẫn đóng cửa, bỏ lỡ cơ hội
Hào dương, hào xấu. Chẳng ra khỏi cửa và sân thì xấu. Hào ở giữa lại có hào ứng đồng đức, nên cần lưu thông, đừng bắt chước hào đầu ở nhà. Để mất thời cơ nên khó thành đạt, như người không dám ra khỏi cổng là hung.
Bất xuất môn đình, hung.
Hà Lạc nói thời đã thông mà giữ mình quá cũng không hay.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này đáng lẽ ra giúp được việc, vì thời đã khác thời của hào một, đã thông rồi không còn tắc nữa, lại được hào năm ở trên cùng dương như mình giúp sức cho. Vậy mà đóng cửa không ra như hào một, hành vi đó xấu.
Người mệnh hợp cách có tài mà chẳng biết sử dụng, gặp thời mà chẳng biết tiến thủ, giữ thân trong sạch lúc đời rối loạn về đạo đức. Người mệnh không hợp cách quê mùa, không thông đạt nhân tình, khổ sở giữ tiết, chẳng dám làm gì.
Về vận hạn: quan chức và giới sĩ mất thời cơ, không sáng suốt nên khó tiến thủ; người thường không thông thạo, có dự tính đáng làm lại không làm, đáng đi ra ngoài thì cứ ru rú ở nhà. Đại khái nên hoạt động, không nên im lìm. Câu thơ của hào nói thời tiến nên tiến, chớ ngừng; có người giúp đỡ thì thôi đừng chần chừ.
Hào lục tam: chẳng giữ chừng mực, đến lúc than thở biết trách ai
Hào âm, hào xấu. Chẳng giữ chừng mực như thế, thì than thở như thế, không biết trách lỗi ai. Tượng trưng cho sự lãng phí, xa hoa, không biết giữ chừng mực thì chuốc lo âu.
Bất tiết nhược, tắc ta nhược, vô cữu.
Hà Lạc nói không giữ chừng mực, đến nỗi phải lo.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu bất trung bất chính, lại cưỡi lên hai hào dương, mà muốn tiến tới cõi nguy hiểm vì quẻ Khảm ở trên. Như vậy là không biết dè đặt, tự tiết chế, rước vạ vào thân, còn đổ lỗi cho ai được nữa.
Người mệnh hợp cách tuy ngồi ở địa vị, ăn lộc nước, mà chẳng biết cách xây dựng các chế độ, để tốn tài hại dân, buồn thảm. Người mệnh không hợp cách chuyên gian nịnh, đi quá kỷ luật, đi quá phận sự, mà cơm áo cũng chẳng đủ, sau gặp nhiều trở ngại.
Về vận hạn: quan chức xa xỉ, bê bối đến cùng nguy; giới sĩ kém đức hạnh nên bị bỏ; người thường phung phí, không từng trải.
Hào lục tứ: yên vui trong chừng mực, vâng theo bề trên nên hanh thông
Hào âm, hào tốt. An vui về việc giữ chừng mực nên hanh thông; tốt cho mọi người.
An tiết, hanh.
Hà Lạc nói yên phận phụ tá nên thành công.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này nhu thuận, đắc chính, vâng theo hào năm, thực tâm dè đặt, tự tiết chế đúng thời, cho nên hanh thông.
Người mệnh hợp cách bậc nguyên thủ không quên hiến pháp, người cộng tác không quên tuân theo các chế độ, phúc trạch lâu bền. Người mệnh không hợp cách cũng suốt đời yên ổn, không có việc đổ vỡ; đàn bà thì thuận chồng con để lo việc nhà.
Về vận hạn: quan chức trọng mệnh trời và vỗ về dân tình, được lệnh làm việc ủy lạo tốt; giới sĩ thành danh, nêu cao pháp luật; người thường kính trên, thờ tổ được phúc. Câu thơ của hào nói lộc tài kiệm ước nên thừa, giữ thân chừng mực bao giờ cũng hay.
Hào cửu ngũ: tiết chế mà vui, thiên hạ noi gương
Hào dương, hào tốt. Chừng mực một cách ngon ngọt; tiến đi còn được sùng thượng nữa. Có tiết độ, thái độ đúng đắn, mọi người khâm phục.
Cam tiết, cát, vãng, hữu thượng.
Hà Lạc nói chừng mực tốt lành, vui vẻ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở vị chí tôn, làm chủ quẻ Tiết, có đủ các đức dương, trung, chính; tự tiết chế một cách vui vẻ, thiên hạ noi gương mà vui vẻ tiết chế, cho nên tốt; cứ thế mà tiến hành thì có công lớn, đáng khen.
Người mệnh hợp cách lập chế độ, bàn đức hạnh, thành công đương thời, lưu tiếng đời sau. Người mệnh không hợp cách cũng chẳng cạnh tranh, không xa hoa, yên phận nghèo, cẩn trọng giữ gìn.
Về vận hạn: quan chức và giới sĩ có thăng chuyển, đạt được; người thường mưu vọng toại ý. Câu thơ của hào nói đầu cành chim thước đã báo tin, thang mây sẵn đó, hoa đèn đẹp kia.
Hào thượng lục: giữ tiết đến khổ sở, quá đà thì tốt hóa xấu
Hào âm, hào xấu. Khổ sở vì việc giữ tiết vì thái quá; cứ cố giữ nữa thì xấu, biết hối hận thì khỏi xấu. Tiết độ mà thái quá thì thành xấu, như điều tốt mà làm quá đáng sẽ trở thành điều xấu.
Khổ tiết, trinh hung, hối vong.
Hà Lạc nói giữ chừng mực quá đáng cho nên xấu.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này trái với hào năm, vì ở trên cùng quẻ Tiết, có nghĩa là tiết chế thái quá, tới cực khổ, không ai chịu được hoài như vậy. Hai chữ hối vong ở lời hào ở đây không có nghĩa thường dùng là hối hận tiêu tan đi, mà có nghĩa là nếu hối hận thì cái xấu sẽ tiêu tan đi.
Phan Bội Châu phụ chú: quẻ Tiết đặt sau quẻ Hoán, về lý luận Dịch học là rất hay. Quốc gia xã hội vừa trải qua một cuộc tan rã, phong tục đổi bại, công nghệ hoang phế, trật tự nhiễu nhương, kinh tế cùng quẫn. Nếu khi ấy không dùng đạo tiết thì nguy hiểm cho vận mệnh đất nước và cuộc sống biết chừng nào. Vậy nên sau thời Hoán rất cần có Tiết: đường tài chính tiết chế cho đỡ hao tổn, giáo dục tiết chế cho thích ứng, quân sự tiết chế cho nghiêm minh, việc trong chính phủ phải trọng danh tiết. Việc tiết có rất nhiều, nhưng tóm lại là để bổ túc sau thời Hoán.
Nhưng tiết phải đúng mực, tức đắc trung; quá khổ thì nhân tình không chịu được, quá dễ chịu thì không đúng nghĩa lý. Nên trong sáu hào, tùy theo vị của mỗi hào mà xử lý cho thích đáng. Vị của mỗi hào chính là thời của mỗi hào; tiết cho đúng với thời thì hay, tiết không đúng với thời thì không hay. Các hào sơ dương, bốn âm, năm dương rất đúng vị, tiết đúng với thời, nên lời hào năm là tốt, hào bốn là hanh, hào sơ là không lỗi. Các hào hai dương, ba âm đều không đúng vị mà tiết trái với thời, nên lời hào hai dương là xấu, còn hào ba âm là than thở.
Lại xem mỗi cặp hai hào đi liền nhau thì nghĩa hào đều trái nhau. Hào sơ đi với hào hai: sơ không ra khỏi cửa sân thì không lỗi, hai không ra khỏi cửa thì lại xấu; đó là hai trái với sơ. Hào ba đi với hào bốn: bốn được chính thì an vui giữ chừng mực, ba bất chính thì chẳng giữ chừng mực; đó là ba trái với bốn. Hào năm đi với hào thượng: năm cương mà đắc trung thì tiết mà vui vẻ, thượng quá chừng mực mà khổ sở; ấy là thượng trái với năm. Cứ mỗi cặp hào dính nhau thì trái nhau. Thánh nhân sở dĩ bày đặt như thế có phải xuyên tạc cho phiền sự đâu. Than ôi, loài người phức tạp, sự vật không về một mối; tiết chế vẫn là hay mà không thể cấm người ta không tiết chế; huống chi thời Hoán vừa qua, đạo Tiết chưa thịnh, làm thế nào khỏi trái nhau cho được. Thánh nhân chỉ biết đem chân lý mà chỉ vẽ cho người ta; ai hay thì theo, ai dở thì bỏ qua. Tiết hay không tiết, còn tùy ở người học Dịch.
Người mệnh hợp cách kiệm ước, liêm khiết, giảm chi phí, giản dị, không có vẻ hợp nhân tình nhưng cũng không tốn tài hại vật. Người mệnh không hợp cách quê mùa, dè sẻn, bủn xỉn, không biết kế thừa nghiệp tổ, ít hợp nhân tình, khó tránh hối hận.
Về vận hạn: quan chức cố chấp quá nên hối hận; giới sĩ quá nghi ngại nên than vãn; người thường đi quá lố, cầu danh lợi chẳng ăn thua gì; người già giảm thọ. Câu thơ của hào nói việc đời cũng biến, tắc rồi thông; đừng nên cố chấp, chỉ hung mà chẳng ích gì.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
