Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Lục hào dự đoán

Bài tổng quan

Nhật, nguyệt và hào Thế: thước đo sức mạnh của mỗi hào

Bói Dịch - Lục hào dự đoán02/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Nhật, nguyệt và hào Thế: thước đo sức mạnh của mỗi hào

Cùng một hào Tài, có hôm gánh nổi cả một việc lớn, có hôm không cứu nổi chính mình. Chênh lệch ấy do ngày và tháng đặt xuống, không do bản thân hào. Rồi còn hào Thế, nơi người hỏi tự soi mình trong quẻ, và nơi đôi khi chỉ cần đổi một thói quen là cả quẻ đổi theo.


Nhật và nguyệt: cái nền đặt dưới chân mọi hào

Quẻ đã lập, địa chi đã gắn lên từng hào, nhưng chưa thể kết luận hào nào mạnh, hào nào yếu. Sức mạnh ấy do hai yếu tố bên ngoài quẻ quyết định là nhật và nguyệt. Nhật là chu kỳ một ngày của mặt trời, tính bằng địa chi, và khi lấy nhật thì lấy luôn cả thiên can để về sau đối chiếu với tuần không và lục thú. Nguyệt là chu kỳ một tháng của mặt trăng, cũng tính theo địa chi, và khi lấy nguyệt chỉ cần địa chi. Cách lấy rất đơn giản: tra lịch vạn niên rồi đọc can chi của ngày giờ đang xét, ví dụ ngày Giáp Dần tháng Mão. Nhật và nguyệt có tác dụng trực tiếp lên trạng thái của từng hào, quyết định hào đó vượng, hưu, suy hay vô căn, nên đây là bước đặt nền trước mọi phép luận về sau. Ai muốn đào sâu hơn có thể đọc thêm về quyền chi phối của nguyệt kiến lên sáu hào và vai trò của dụng thần trong nhật nguyệt.

Bốn trạng thái cơ bản của một hào

Nhật và nguyệt đặt nền, còn trạng thái cụ thể của từng hào thì có tên gọi riêng.

Vượng, hưu, suy, vô căn, cùng với trạng thái quá vượng, là thước đo bản chất của mỗi hào. Việc xếp một hào vào trạng thái nào được tra theo bảng đối chiếu hành của hào với địa chi của ngày và tháng. Còn ý nghĩa của từng trạng thái như sau.

Hào vượng hiểu đơn giản là hào dùng được. Nếu dụng thần vượng thì quẻ này xem tiếp được, và nếu không gặp những nhiễu loạn bên ngoài như hào động hay hào Thế khắc, việc hỏi về cơ bản sẽ thành.

Hào hưu là trạng thái trung bình. Việc thông thường chỉ có hai khả năng thành hoặc không, không có mức lưng chừng, nên hưu giúp phân biệt việc gần hay xa, việc của con người hay của một sự kiện. Nếu việc xa tính theo năm hoặc tháng, trong sự kiện ấy hưu được tính như hào vượng. Nếu việc gần tính theo ngày hoặc giờ, hưu tính như hào suy.

Hào suy gần như đối lập với vượng. Nếu dụng thần suy, lại không có hào động hay hào biến đến giúp, việc hỏi chắc chắn hỏng.

Hào vô căn là trạng thái chắc chắn hỏng. Dù được hào động sinh cho, việc vẫn hỏng. Chỉ có một ngoại lệ: hào biến động sinh cho hào động tương ứng với vô căn, khi đó bản chất hào ấy trong khoảng thời gian tính theo ngày và giờ là suy, còn tính theo tháng và năm là vượng.

Hào quá vượng thì phải chờ đến lúc hào nhập mộ thì việc mới thành. Điều này giải thích vì sao có những quẻ vượng đến mức lại không tốt ngay.

Việc gần hay việc xa: thước đo thời gian quyết định bản chất

Cùng một trạng thái, đo bằng giờ ngày hay bằng tháng năm sẽ cho kết quả khác.

Trong Dịch, việc gần hay xa được quy chiếu theo bốn trục thời gian là giờ, ngày, tháng, năm. Nguyên tắc: những sự kiện tính theo hai trục giờ và ngày là việc gần; những sự kiện tính theo hai trục tháng và năm là việc xa. Điểm khác biệt này làm một hào có thể mang bản chất khác nhau tùy việc hỏi.

Có năm tình huống thường gặp mà bản chất hào đổi theo quy mô sự việc: hào hưu; tiến thần với hào động suy; thoái thần với hào động vượng; hào biến hưu khắc hào động vượng; và sự việc không xác định thời gian mà dụng thần vượng bị nguyệt khắc. Trong tất cả những trường hợp ấy, trạng thái của hào thay đổi theo trục thời gian được chọn để đo.

Lưu ý quy chiếu xa gần khác hẳn nguyên tắc điểm bắt. Nguyên tắc điểm bắt chia cùng một hệ quy chiếu thành hai giai đoạn, còn quy chiếu xa gần phân biệt từng trục thời gian khác nhau để quyết bản chất của hào. Hai nguyên tắc giống nhau ở chỗ cùng phân biệt tính chất hào theo thời gian, nhưng khác nhau ở cách áp dụng cho từng trạng thái.

Khi hỏi những việc mang tính sự kiện, hào hưu chia thành hai mảng xa và gần: xa tính như vượng, gần tính như suy. Với hào hưu động, tác dụng lên tiết, sinh và cừu cũng tương tự các hào vượng khác. Riêng trường hợp kỵ thần hưu mà dụng thần vượng, hào kỵ tuy động nhưng yếu hơn dụng thần, nên không cần xét xa gần mà chỉ tính rằng trước thời điểm ứng kỳ của kỵ thần, việc hỏi còn bị cản.

Việc phá hoại luôn có thể xảy ra, và nếu đó là hào khắc hào Thế thì bất lợi cho bản thân. Khi ấy thời điểm thành công không nằm ở ứng kỳ của dụng thần mà nằm ở lúc xung hào hưu này. Lúc đó, bất kể tính theo giờ, ngày, tháng hay năm, hào hưu coi như mất đi và việc có thể thành. Điều này có nghĩa là trước khi thành công, sự việc luôn gặp bất lợi, trở ngại gắn với đặc điểm của hào hưu ấy. Muốn biết đó là ai, chỉ cần tra đặc điểm của hào theo ngũ hành và lục thân. Từ đó, nếu muốn tránh thì cứ tránh trước. Dù tránh được hay không, kết quả vẫn có thể thành công. Nếu đáp ứng ngay từ đầu được thì tốt, nếu không thì quy chiếu nội ngoại và làm ngược lại để tránh.

Can thiệp vào tương lai: được gì, mất gì

Biết điều sắp tới rồi, câu hỏi tự nhiên là có nên làm gì để đổi nó.

Việc can thiệp ở đây hiểu là thay đổi, hoặc sẽ thay đổi, hoặc giải quyết một mối nguy vừa xuất hiện, để kết quả cuối cùng của sự việc không bất lợi so với điều mình mưu cầu. Ví dụ biết chuyến đi này nguy hiểm thì dễ nhất là không đi. Nếu bắt buộc phải đi, không còn cách nào ngoài việc biết mối nguy đến vào lúc nào và từ đâu. Khi đó, đến thời điểm ấy ta tránh những vị trí, những con người cùng các yếu tố có thể gây ra điều bất lợi, nhờ vậy thoát nạn.

Câu hỏi đặt ra là điều ta biết có thật sự là tương lai không, vì trong một môi trường tương tự, hoặc người giống người, biết đâu điều ta tránh lại chẳng gây hại? Quy chiếu nội ngoại đủ rộng để trả lời câu hỏi này. Nội là khoảng không gian gần, ngoại là khoảng không gian xa. Từ đó ta quy chiếu theo tính chất việc hỏi. Ví dụ đi xa thì trong khoảng không gian sinh hoạt cố định tính là gần, còn phía ngoài tính là xa.

Hào Thế: bản thân trong câu chuyện

Mọi phép đo ấy cuối cùng quay về một hào duy nhất: hào đại diện cho chính người hỏi.

Hào Thế là hào mang chữ Thế ở bên, đại diện cho bản thân người hỏi trong sự việc. Nếu là tranh chấp thì Thế là mình, Ứng là dụng thần. Thực tế, nếu mình sinh cho người kia thì mình tổn, người kia khắc mình thì mình thiệt. Xem việc cũng vậy, hào Thế suy thì bản thân đuối, hào Thế vượng thì dù việc chưa thành mình cũng ổn.

Hào Thế khắc dụng thần có nghĩa là bản thân đang đi sai hướng, hoặc có thể coi như không có khả năng làm việc đó nếu cứ đi theo hướng hiện tại. Năng lực bản thân biểu thị qua vượng suy của hào Thế. Nếu bị dụng thần khắc thì sẽ chịu áp lực. Để dễ hình dung, cứ xem dụng thần như một người khác, người khác khắc mình nghĩa là họ gây bất lợi cho mình, nên bản thân sẽ mệt.

Hào Thế rất quan trọng, nhưng luôn nhớ rằng nó chỉ đại diện cho chính ta trong sự việc đang hỏi, không đại diện cho mọi việc. Nếu hào Thế suy hoặc vô căn, bản thân phải hiểu ngay rằng mình sẽ gặp nguy hiểm trong việc này. Cách đơn giản nhất để thoát hiểm là thay đổi cách hành động, thay đổi cách tham gia, rồi xem lại một quẻ mới để biết đã ổn chưa.

Không phải lúc nào cũng dùng hào Thế. Với những trường hợp không hỏi cho bản thân, chỉ cần xét dụng thần mà không xét Thế. Xem cho người khác thì xem dụng thần để biểu đạt kết quả sự việc. Sự bất tiện của việc hỏi hộ là chỉ biết được thành bại của sự việc, nhưng không biết ảnh hưởng đến người được hỏi ra sao, nên không đoán được các sự cố phát sinh trong quá trình sự kiện diễn ra. Trừ trường hợp Thế khắc dụng, còn lại dụng vượng là việc thành, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt như hỏi giấy tờ hay hỏi nhà ở, khi đó cần cả hai cùng vượng.

Thế và dụng thần: bốn thế đứng thường gặp

Thế đứng cạnh dụng thần theo những kiểu quan hệ khá nhất định.

Khi Thế đóng vai kỵ thần của dụng thần, thường gặp bốn tình huống. Thế vượng mà dụng thần suy: bản thân có năng lực nhưng không gặp thời. Thế suy mà dụng thần vượng: vừa bất tài lại đang sai đường cho một việc có tiềm năng. Thế vượng dụng thần vượng: năng lực có, tiềm năng có, nhưng đi sai đường. Thế suy dụng thần suy: lao đầu vào việc một cách liều lĩnh.

Ngoài các trường hợp thông thường còn có vài tình huống đặc biệt. Thế nhập mộ khi dụng thần vượng, vòng địa chi chưa đến chi xung mộ, việc sẽ thành nhưng trong bóng tối, gần như may mắn. Thế quá vượng, trước ngày đến chi xung mộ thì việc vẫn thành nếu dụng thần vượng, nhưng bản thân quá tài giỏi mà chẳng biết đi đường nào, như người lạc trong rừng, vô tình thoát được. Thế không, trước lúc xung thực việc vẫn thành nếu dụng thần vượng; riêng khi xem công danh, quẻ này thường báo tin vui đến rồi sau đó gặp tai họa đúng lúc xung thực không, nên phải đề phòng.

Thế hóa Quan thì là tai họa vì hóa quỷ, nhưng vẫn thành trước. Thế hóa Phụ nếu không bị tổn thất mà ra việc thì chỉ là việc tạm thời, tùy tình huống mà xét. Những trường hợp không liệt kê nghĩa là không tồn tại, ví dụ Thế phá hay Thế tuyệt. Cũng cần để ý trường hợp dụng thần động hóa sinh không phải là được trợ giúp, vì lúc đó là cừu thần của Thế đang động, tức là hại chứ không phải phúc.

Sửa sai: bắt đầu từ chính tính cách

Khi hào Thế đứng sai chỗ, lỗi thường nằm ngay ở tính khí của người hỏi.

Muốn sửa sai thì phải hiểu vì sao mình sai. Khi kỵ thần tới hành nào, thì bản thân mang tật của hành ấy. Kỵ tới Kim: bản thân cứng nhắc, bảo thủ quá. Kỵ tới Thủy: bản thân mềm yếu, dễ chịu bề ngoài quá. Kỵ tới Mộc: bản thân bay bổng, quá hiền ở bên ngoài. Kỵ tới Hỏa: bản thân vội vàng, nóng nảy quá. Kỵ tới Thổ: bản thân chậm chạp, không nắm đúng câu chuyện.

Để sửa được con đường, đừng mong có điều lợi từ trên trời rơi xuống, mà phải thay đổi từ bản chất, vì chính bản thân ta là hào Thế trong câu chuyện, cách cư xử của ta tương ứng với hào Thế trong quẻ. Vì thế, ta chuyển bản thân thành hào tiết, nghĩa là cư xử như tiết thần của hào Thế, cũng là nguyên thần của dụng thần. Ví dụ từ Kim ta chuyển thành cư xử như Thủy. Tính cách biểu thị theo ngũ hành là: Thủy khéo léo, mềm mỏng hơn; Kim cứng rắn, bảo thủ hơn; Hỏa nhanh chóng, quyết đoán hơn; Thổ chậm rãi, kỹ càng hơn; Mộc tỏ ra vô hại, hiền lành hơn. Đó là cách chữa đơn giản nhất cho trường hợp kỵ thần trì Thế. Để chắc chắn hơn, sau khi chọn đổi thái độ, hãy kiểm tra lại bằng một quẻ mới.

Thế gặp nguyên, tiết và cừu

Ngoài đối đầu, Thế còn có thể đóng vai người nuôi dưỡng, người rút khí hay kẻ thù của người giúp mình.

Khi Thế đóng vai nguyên thần của dụng thần, vẫn tiếp tục xét vượng suy. Dụng vượng mà Thế suy thì bỏ nhiều công sức, mệt mỏi mới ra được việc; nếu việc liên quan giấy tờ thì mất giấy tờ; nếu dụng thần động thì tiền của hao vì việc hỏi, vì dụng động thì tiết khí của Thế. Dụng thần suy thì việc hỏng, Thế vượng mấy cũng chỉ tốn công vô ích. Thế suy nữa thì ăn mày không đòi xôi gấc được.

Khi Thế đóng vai tiết thần, dụng vượng Thế suy thì tiền rơi vào đầu. Dụng vượng Thế vượng thì đã hay lại còn gặp may. Dụng suy thì chỉ tưởng thế thôi nhưng cuối cùng tuột mất. Tình huống này kéo theo sự hao hụt trong việc cần hỏi, vì do quá may mắn nên người hỏi coi thường mọi thứ.

Khi Thế đóng vai cừu thần, dụng thần khắc Thế, kiểu gì cũng chịu áp lực từ việc đang hỏi. Dụng vượng mà Thế vượng thì việc thành, nhưng không có gốc, trong suốt quá trình đến khi thành thì rối ren chuyện này chuyện khác. Không có gốc vì cừu thần khắc nguyên thần, dù động hay không vẫn khắc nguyên thần. Thế là bản chất của mình, còn hào động chỉ là yếu tố tác động. Thế vượng mà dụng suy thì kiên cường chống trả nhưng chẳng tới đâu.

Nguồn: Vi Nhất Sơn, Bốc Dịch Đại Toàn.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Lục hào dự đoán