Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Tăng San Bốc Dịch

Bài tổng quan

Nguyệt Tướng: Quyền Cương Lĩnh Của Nguyệt Kiến Đối Với Sáu Hào Trong Quẻ

Bói Dịch - Tăng San Bốc Dịch16/09/202615 phút đọc8 lượt đọc
Nguyệt Tướng: Quyền Cương Lĩnh Của Nguyệt Kiến Đối Với Sáu Hào Trong Quẻ

Nguyệt kiến, còn gọi là Nguyệt tướng, nắm quyền cương lĩnh của mọi quẻ trong một tháng: sinh trợ hào suy, tước bớt hào mạnh, chế phục hào động và hào biến. Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu xem cầu tài cho thấy Dụng thần dù vượng mà gặp Tuần Không vẫn phải chờ ngày xuất Không. Các quẻ Cổ biến Mông và Cấn biến Di xét Nguyệt kiến chi phối hào động trong việc yết kiến và thăng chức. Nguyệt kiến làm Kỵ thần nhập quẻ thì đại hung, như quẻ Khốn biến Hằng xem em trai bị luận tội. Quẻ Cấn biến Minh Di chỉ ra rằng được thời thì vô sự, hết thời sẽ tổn hại. Lý Ngã Bình tán thành Dã Hạc: hào gặp Nguyệt tướng mà bị khắc thêm thì lâm Tuần Không vẫn là Không.


Nguyệt Tướng: quyền của Nguyệt kiến và quẻ Đại Hữu xem cầu tài

Chương 17: Nguyệt Tướng

Nguyệt tướng còn gọi là Nguyệt kiến, cũng là Nguyệt lệnh, nắm quyền trong một tháng, khống chế ba tuần, nắm quyền, đắc lệnh trong thời gian ba mươi ngày của một tháng.

Nắm giữ cương lĩnh của muôn quẻ, kiểm soát được thiện ác của sáu hào.

Có thể trợ giúp cho hào quẻ suy nhược, có thể tước bỏ sự vượng thịnh của tướng hào.

Có thể chế phục hào động hào biến, có thể hưng khởi cho Dụng thần phi, phục.

Nguyệt tướng là chủ tể đương quyền, muôn quẻ đều lấy đó làm cương lĩnh.

Nếu hào quẻ suy nhược, mà được Nguyệt tướng sinh, hợp, tỷ hòa, nâng đỡ, phò trợ, thì suy cũng nên vượng.

Nếu hào quẻ vượng cường, mà bị Nguyệt tướng, xung, khắc, hình, phá, thì vượng cũng thành suy.

Trong quẻ nếu có hào biến khắc chế hào động, Nguyệt kiến có thể chế phục hào biến.

Trong quẻ có hào động khắc chế hào tĩnh, thì Nguyệt kiến cũng có thể chế phục hào động.

Nếu Dụng thần ẩn tàng, bị Phi thần đè nén, thì Nguyệt kiến có thể xung khắc Phi thần, sinh trợ cho Phục thần, khiến nó trở nên hữu dụng.

Hào được Nguyệt hợp sẽ trở nên hữu dụng; hào bị Nguyệt phá sẽ trở nên vô lực. Hào tương hợp với Nguyệt kiến gọi là Nguyệt hợp; hào bị Nguyệt kiến xung gọi là Nguyệt phá.

Nếu Nguyệt kiến không nhập hào (không xuất hiện trong quẻ), vẫn hữu dụng.

Nguyệt kiến nhập vào trong quẻ, sẽ càng trở nên cương cường.

Trong quẻ nếu không có Dụng thần, thì lấy hào Nguyệt kiến làm Dụng thần, không cần phải tìm Phục thần.

Nguyệt kiến nhập vào quẻ, nếu động mà trở thành Nguyên thần, phúc sẽ càng lớn; nếu động mà trở thành Kỵ thần, họa sẽ càng nặng. Nếu không nhập quẻ, mức độ tác động sẽ giảm nhẹ.

Hào gặp Nguyệt kiến, sẽ là vượng tướng đương quyền, gặp Tuần Không cũng không bị Không, gặp khắc thương cũng vô hại.

Dã Hạc bàn rằng: Đây là nhận định của người xưa, nhưng ta không cho là như vậy, tuy gặp Nguyệt kiến mà vẫn ở trong tuần đó, thì vẫn coi là Không Vong.

Ví dụ: Ngày Canh Tuất tháng Dần, xem cầu tài, được quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu:

Quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu

Bèn đoán rằng: Hào Tài Dần mộc là Dụng thần, hào Tài khắc hào Thế, nên tiền tài sẽ được. Thế nhưng trước mắt vẫn là Tuần Không, phải đợi đến tháng Giáp Dần, xuất Không sẽ đắc tài. Quả nhiên đến ngày Giáp Dần được của. Người xưa cho rằng lâm Nguyệt kiến gặp Tuần Không cũng không bị Không, là sai. Nếu trong tuần, vẫn là Không Vong, cần phải đợi ra khỏi tuần đó, mới không còn là Không nữa.

Gặp Không vẫn là Không, nhưng không phải là Không triệt để;

Gặp tổn thương vẫn bị tổn thương, nhưng vẫn có thể chờ thời để hữu dụng.

Bởi vậy, khi Dụng thần gặp Tuần Không, không nên lập tức cho rằng không bị Không, mà vẫn là Không Vong. Thế nhưng chỉ là Không Vong ở trong tuần hiện tại. Đợi đến ngày xuất Không, sẽ không còn Không nữa. Nếu là Kỵ thần, xuất Không sẽ gặp họa. Nếu là Nguyên thần, xuất Không sẽ là phúc. Đây không phải cái Chân Không hưu tù, Không triệt để.

Hào gặp Nguyệt kiến, là vượng tướng. Hoặc bị hào khác khắc, là bị tổn thương.

Nếu xem về bệnh tật, thì bệnh trước mắt vẫn không thuyên giảm; nếu xem về sự việc, việc trước mắt sẽ không thành. Phải đợi đến ngày xung mất hào gây tổn thương, thì sẽ không phải chịu thương hại đó nữa. Khi đó, xem về bệnh bệnh sẽ khỏi; Xem về sự việc, sự việc sẽ thành. Nên mới nói rằng: Gặp tổn thương vẫn bị tổn thương, nhưng vẫn có thể chờ thời để hữu dụng.

Nguyệt Tướng chi phối hào động: quẻ Cổ biến Mông, Cấn biến Di

Ví dụ: Ngày Bính Dần tháng Dậu, xem về việc yết kiến người quyền quý, được quẻ Sơn Phong Cổ biến Sơn Thủy Mông:

Quẻ gốc Sơn Phong Cổ
Quẻ biến Sơn Thủy Mông

Thế nằm tại hào Quan Quỷ gặp Nguyệt kiến, chắc chắn sẽ được yết kiến. Nhưng lại bị Ngọ hỏa hồi đầu khắc, cần phải đợi đến ngày Tý để xung đi Ngọ hỏa, mới được yết kiến, về sau, quả được bái kiến vào ngày Bính Tý. Nên mới nói rằng: Gặp tổn thương vẫn bị tổn thương, nhưng vẫn có thể chờ thời để hữu dụng.

Nếu gặp Tuyệt tại Nhật thần, bị Nhật thần xung, khắc, đều phải quan sát xem có được sinh trợ ở chỗ khác hay không.

Hóa Tuyệt, hóa Mộ, hóa Khắc, cần đề phòng bị hào khác khắc chế thêm.

Hào gặp Nguyệt kiến mà hóa Tuyệt, hóa Mộ tại Nhật thần, hoặc bị Nhật kiến xung khắc, vẫn có thể đối địch được, là tượng không cát không hung. Nếu lại được hào động khác sinh phò, thì càng là điềm tốt. Chỉ sợ bị hào khác khắc chế thêm, thì Dụng thần tuy gặp Nguyệt kiến, cũng khó mà địch lại được.

Ví dụ: Ngày Bính Thân tháng Dần, xem về việc thăng tiến, được quẻ Cấn biến Sơn Lôi Di:

Quẻ gốc Cấn Vi Sơn
Quẻ biến Sơn Lôi Di

Hào Quan Quỷ Dần mộc trì Thế, gặp Nguyệt kiến nên là vượng tướng. Tuy bị Nhật thần Thân xung khắc, nhưng may được Thân, Tý, Thìn hợp thành Tam hợp thủy cục để sinh Quan, không những vô hại, mà vào tháng ba sẽ được thăng tiến. Sau quả nhiên tháng ba được thăng chức đi Vân Nam. Sở dĩ được ứng nghiệm thăng chức, là vì được thủy cục sinh phò. Ứng nghiệm vào tháng ba, vì đó là tháng Thìn thổ xuất Không. Ứng nghiệm vào Vân Nam, là do Thế và Quan tinh đều nằm tại hào 6.

Tân bình thích: Ví dụ này giải thích có sai lầm, trong tam hợp cục, địa chi ở giữa nằm trong quẻ biến thông thường không thể sinh khắc Dụng thần, trừ phi hào biến của Dụng thần là địa chi ở giữa trong tam hợp cục, quẻ này Thê Tài Tý thủy là do hào sơ biến ra, thông thường chỉ có thể ảnh hưởng đến hào vị trí của của nó, tức là hào sơ, mà không thể tác động đến các hào khác, phía trước đã từng nói về cái lý này, nhưng ở đây lại tự phủ nhận, làm sao có thể khiến người ta phục được? Quẻ này xem về điều chuyển, Quan Quỷ trì Thế ám động, lại hóa du hồn, là tượng biến động chức vụ. Ngày xưa Vân Nam thuộc về vùng sát biên giới, kẻ bị phái đi đến đây là bị giáng chức, cho dù chức quan có cao hơn ban đầu, thì cũng chẳng tốt lành gì. Ứng động xung Thế, là tượng người khác thôi thúc, bởi vì hào Ứng hóa Không cho nên việc ứng tại tháng Thìn xuất Không.

Nguyệt kiến làm Kỵ thần: quẻ Khốn biến Hằng

Lại ví dụ: Vào ngày Đinh Mùi tháng Ngọ, xem về việc em trai bị luận tội, không biết lành dữ ra sao, được quẻ Khốn biến Lôi Phong Hằng:

Quẻ gốc Trạch Thủy Khốn
Quẻ biến Lôi Phong Hằng

Hào Dậu kim Huynh Đệ làm Dụng thần, bị Nguyệt kiến Ngọ hỏa khắc, được Nhật thần Mùi sinh, nên có thể đối địch lẫn nhau. Nhưng hiềm vì gặp hào động Ngọ hỏa tương khắc, tức bị hào khác khắc chế thêm.

Người xem liền hỏi rằng: "Liệu có nguy lắm không?" Ta bèn đáp rằng: "Ngọ hỏa là Nguyệt kiến, lại động ở trong quẻ này, như vậy gọi là Nguyệt kiến nhập quẻ, càng thêm cương cường. Lại cũng chính là trường hợp Nguyệt kiến làm Kỵ thần, tai họa ắt không nhỏ, đây chính là tượng đại hung." Người đó lại hỏi hung đến vào lúc nào. Ta bèn đáp: "Hào Huynh Đệ Dậu kim hóa Thoái thần, năm nay là năm Thìn, tương hợp với Thái Tuế, tự nhiên sẽ không có gì đáng ngại. Nhưng sợ rằng đến năm Thân sẽ không thoát được."

Quả nhiên người em trai năm đó bị hạ ngục, đến năm Thân thì bị kết án tử hình.

Tân bình thích: Trong quẻ này Ngọ hỏa tuy động, nhưng bị Nhật hợp, có thể ứng vào năm Tý hoặc năm Sửu, xung khai hợp là hung, cũng có thể ứng vào năm Thoái thần. Đoán định ứng kỳ, xem địa chi nào đến trước. Năm Tý Sửu rất xa, ứng kỳ Thoái thần đến trước, do đó ứng vào năm Thân. Nếu như năm Tuất hoặc năm Hợi gieo quẻ, thì có khả năng ứng vào năm Tý.

Đại tượng là cát, tại tháng đó được phúc;

Đại tượng là hung, sang tháng gặp tai ương.

Quẻ khắc ít sinh nhiều, thì đại tượng được cát; quẻ khắc nhiều sinh ít, đại tượng là hung.

Đại tượng tuy hung, nhưng trong tháng vẫn chưa có gì đáng ngại, qua khỏi tháng đó sang tháng sau sẽ gặp tai họa.

Dụng thần gặp được, được phúc không nhỏ;

Kỵ thần gặp được, mắc họa chẳng nhẹ.

Hai câu trên có nghĩa là, nếu Dụng thần gặp Nguyệt kiến, mà không bị hào khác khắc thương, thì xem việc gì cũng là tốt.

Nếu Kỵ thần gặp Nguyệt kiến, trong khi Dụng thần hưu tù không được ứng cứu, thì xem việc gì cũng là đại hung.

Sinh phò Kỵ thần, giúp kẻ ác làm điều bạo ngược;

Khắc chế Nguyên thần, là đón lõng để cắt đường lương.

Nếu Kỵ thần khắc chế Dụng thần, mà được Nguyệt kiến khắc chế Kỵ thần, là được ứng cứu. Nhưng nếu như Nguyệt kiến lại sinh ra Kỵ thần, thì chẳng khác gì trợ giúp kẻ ác làm chuyện bạo ngược.

Nếu như Dụng thần được Nguyên thần tương sinh, mà Nguyệt kiến lại sinh ra Nguyên thần, tức đã tốt lại thêm tốt. Nhưng nếu như Nguyệt kiến lại khắc chế nguyên thần, cũng như "kiêu thần đoạt thực", bị kẻ ác đoạt mất miếng ăn.

Sự vật cùng cực sẽ biến, đồ đựng đầy quá phải tràn.

Dụng thần suy nhược, gặp thời sẽ vượng phát. Ví dụ như Dụng thần tại hỏa, nếu xem vào mùa đông là hưu tù, nhưng đến mùa xuân lại sẽ vượng, như vậy gọi là "sự vật cùng cực sẽ biến".

Lại như xem vào tháng giêng, Dụng thần tại Dần mộc, như vậy là quá vượng. Nhưng đến mùa thu, bị kim xung khắc, thì mọi sự đều phá tán, như vậy là "đồ đựng đầy quá phải tràn".

Tân bình thích: Lý luận này không đúng, Dã Hạc đã hiểu sai ý của câu này. Ở đây là nói Dụng thần quá vượng, vật cực tất phản. Dụng thần quá vượng là hung.

Được thời thì vô sự: quẻ Cấn biến Minh Di

Ví dụ vào ngày Tân Dậu tháng Dần, xem về việc mở cửa hàng, được quẻ Cấn biến Minh Di:

Quẻ gốc Cấn Vi Sơn
Quẻ biến Địa Hỏa Minh Di

Hào Thế tại Dần mộc, đắc lệnh đương quyền, nếu mở cửa hàng trong lúc này, việc buôn bán sẽ cực kỳ phát đạt. Nhưng hiềm nỗi Nhật thần Thìn khắc hào Thế, Dần mộc động hóa Dậu kim, hồi đầu khắc Thế, khiến đại tượng sinh ít khắc nhiều. Lại là quẻ lục xung, lục xung thì không được lâu.

Người xem liền hỏi rằng: "Là người làm không đồng lòng, hay là bởi nguyên do khác?" Ta bèn đáp rằng: "Quỷ ở bên mình (tức Quỷ trì Thế), nên phòng bệnh tật, người làm cũng bởi đó mà thay lòng, ắt phải chịu liên lụy." Về sau, người này quả nhiên tháng sáu mắc bệnh lỵ, đến tháng tám vẫn chưa khỏi. Người làm bèn lấy trộm sạch, người này kêu lên quan, nhưng cũng không lấy được đồng nào. Như vậy chính là được thời vượng tướng thì vô sự, hết thời sẽ chịu tổn hại.

Sở dĩ ứng nghiệm vào tháng sáu, là vì mộc gặp Mộ ở Mùi; người làm thay lòng đổi dạ, vì hào Ứng tại Thân kim, đến mùa thu được thời mà xung hào Thế; của cải bị lấy trộm, vì hào Tài Tý thủy gặp Không Vong.

Tân bình thích: Quẻ này giải thích dễ dẫn tới hiểu lầm, khi mở cửa hàng lấy Tài làm Dụng thần, nếu lại hỏi thêm cát hung của bản thân, thì mới xem hào Thế. Hiện nay phát đạt, là vì Nhật thần sinh hào Tài. Nhưng hào Tài gặp Không, bị Huynh Đệ Thìn thổ phát động khắc chế, Nguyên thần Nguyệt phá, lại là quẻ lục xung, do đó kinh doanh không được lâu dài. Tài lâm Huyền Vũ mà Không, Huyền Vũ là trộm cắp, cho nên bị ăn trộm. Hào sơ là người làm thuê, Huynh Đệ là nhóm, lâm Chu Tước động khắc hào Tài, hóa ra Quan Quỷ, Chu Tước là quan ti (kiện tụng), khẩu thiệt, Quan Quỷ là quan ti, cho nên là do nhóm người làm thuê trộm cắp tài sản trong cửa hàng mà phát sinh quan ti khẩu thiệt.

Bị kiết lỵ, là vì Kỵ thần tại hào 3 động mà khắc Thế. Hào 3 là hào vị bụng, Tài là phân và nước tiểu, Tử Tôn là Nguyên thần của hào Tài, vì vậy là ruột, có kiết lỵ.

(Muốn hiểu rõ chi tiết cách dùng lục thân trong đoán bệnh, xin mời xem cuốn "Lục hào dự trắc tật bệnh tân thám").

Nhật Nguyệt cùng sinh khắc một hào: quẻ Tấn, Lý biến Trung Phu

Phùng Tuyệt bất Tuyệt, phùng xung bất tán;

Nhật sinh Nguyệt khắc, kiêm khán sinh phù;

Nhật khắc Nguyệt sinh, kiêm tra xung khắc.

Nguyệt tướng đương quyền, kỳ năng suy Tuyệt?

Vượng tướng như cương, khởi năng xung tán?

Nguyệt khắc Nhật sinh, ngộ bang nhi dũ vượng;

Nguyệt sinh Nhật khắc, phùng khắc chế nhi diệc suy.

Nghĩa là: Gặp Tuyệt mà không Tuyệt, gặp xung mà không tán.

Được Nhật thần sinh, bị Nguyệt kiến khắc, thì xem có được hào nào khác sinh phò hay không.

Bị Nhật thần khắc, được Nguyệt kiến sinh, thì xem có bị hào nào khác xung khắc hay không.

Nguyệt tướng nắm quyền, không thể suy Tuyệt.

Vượng tướng đang có, không thể xung tán.

Bị Nguyệt kiến khắc, được Nhật thần sinh, được trợ giúp sẽ càng nên vượng.

Được Nguyệt kiến sinh, bị Nhật thần khắc, bị khắc chế cũng phải suy vong.

Ví dụ: Ngày Mậu Thìn tháng Ngọ, xem em gái sinh nở lành dữ ra sao, được quẻ Hỏa Địa Tấn:

Quẻ Hỏa Địa Tấn

Lấy hào Huynh Đệ Dậu kim làm Dụng thần, bị Nguyệt lệnh khắc, được Nhật kiến sinh, nên vô sự, vào giờ Mão ngày hôm sau sẽ sinh. Quả nhiên sinh vào giờ Mão ngày hôm sau, được mẹ tròn con vuông. Ứng vào giờ Mão, là vì Dụng thần Dậu kim và Nhật thần Thìn tương hợp. Trong "Hoàng kim sách" có viết:

"Nếu gặp hợp, phải đợi xung khai".

Đây chính là trường hợp bị Nguyệt kiến khắc, được Nhật thần sinh, mà không bị hào khác khắc chế hay phù trợ thêm.

Lại ví dụ vào ngày Mậu Thìn tháng Ngọ, xem cho con trai bị đậu mùa, được quẻ Thiên Trạch Lý biến Phong Trạch Trung Phu:

Quẻ gốc Thiên Trạch Lý
Quẻ biến Phong Trạch Trung Phu

Lấy hào Tử Tôn Thân kim làm Dụng thần, được Nguyệt kiến sinh, bị Nhật thần khắc, nên có thể dùng để đối địch, loại trừ lẫn nhau. Nhưng hiềm vì lại bị hào động Ngọ hỏa khắc, may nhờ Ngọ hợp với Mùi, trước mắt không có gì đáng ngại. Nhưng phòng ngày Sửu xung mất Mùi thổ, khiến hỏa tổn thương đến kim ắt sẽ gặp nguy. Sau quả con trai chết vào ngày Sửu.

Lý Ngã Bình bàn rằng: Các sách đều cho rằng khi Nguyệt tướng đương quyền gặp Tuần Không cũng không bị Không, gặp tổn thương cũng vô hại. Nhưng trong sách này, Dã Hạc lão nhân lại đề cập đến vấn đề khắc thêm (tăng khắc), hào dù gặp Nguyệt tướng, nhưng bị hào khác khắc thêm, lâm Tuần Không vẫn là Không, bị tổn thương vẫn là thương. Đây là một quan điểm cực kỳ sáng suốt, có thể coi là khuôn mẫu. Sách "Dịch mạo" nói rằng, được Nhật thần khắc bị Nguyệt kiến sinh là được tám phần sinh; bị Nguyệt kiến khắc Nhật thần sinh là được bảy phần sinh. Vậy dựa vào đâu để xác định bảy phần hay tám phần? Như trong quẻ trên, xem về việc sinh nở, bị tháng khắc ngày sinh mà không bị hào khác khắc chế thêm, nguy cũng thành an; xem về bệnh đậu mùa bị tháng sinh ngày khắc, lại gặp thêm hào khắc thương, tính mệnh khó toàn. Một người sống, một người chết, đó là bảy phần ư? Là tám phần ư?


Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Tăng San Bốc Dịch