Bài tổng quan
Sự Vượng Suy Của Nguyên Thần, Kỵ Thần Và Phép Hợp Nhiều Quẻ Để Quyết
Nguyên thần có sinh được Dụng thần hay không, Kỵ thần có khắc được Dụng thần hay không, đều tùy vào sức vượng suy của chính chúng. Dã Hạc lão nhân nêu năm loại Nguyên thần hữu lực và sáu loại vô lực, cùng năm loại Kỵ thần hữu lực và bảy loại vô lực. Khái niệm Dụng thần vô căn được soi qua quẻ Đại Quá biến Đỉnh tự xem bệnh và quẻ Sư biến Tiết xem chuyến đi Bắc Kinh, nơi Nhật Nguyệt khắc Tài mà Tử Tôn động sinh Thế nên vẫn cát lợi. Các quẻ Đồng Nhân biến Lữ, Ly biến Đại Hữu, Tổn biến Lâm thể hiện phép của Dã Hạc: một quẻ chưa rõ thì xem thêm quẻ nữa, hợp lại mà quyết. Lời bình còn chỉ ra chỗ vênh giữa Tam Mộ và Nguyệt Mộ.
Sự Vượng Suy Của Nguyên Thần
Chương 10: Sự Vượng Suy Của Nguyên Thần, Kỵ Thần
Nguyên thần
Nguyên thần tuy sinh Dụng thần, nhưng phải là vượng tướng mới sinh được.
Có năm loại Nguyên thần có thể sinh Dụng thần:
- Nguyên thần được vượng tướng, hoặc gặp Nhật thần, Nguyệt kiến, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh vượng, trợ giúp.
- Nguyên thần động hóa hồi đầu sinh, hoặc động hóa Tiến thần.
- Nguyên thần gặp Trường Sinh, Đế Vượng tại Nhật thần.
- Nguyên thần và Kỵ thần đều động.
- Nguyên thần vượng động, nhưng gặp Tuần Không, hóa Tuần Không.
Sách xưa cho rằng Nguyên thần gặp Tuần Không, hóa Tuần Không là vô dụng, như vậy là sai lầm, không hiểu được nguyên lý động thì không bị Không, đợi đến ngày xung Không, thực Không, Nguyên thần lại hữu dụng, nên vẫn là cát, có thể sinh ra Dụng thần.
Năm loại Nguyên thần trên đều là Nguyên thần hữu lực, gặp được thì chuyện gì cũng tốt.
Ví dụ: Vào ngày Tân Hợi tháng Dậu, xem cầu danh cầu tài, được quẻ Đoài Vi Trạch biến Lôi Thủy Giải:
Đoán rằng: "Ngày Giáp Dần sẽ được của, cũng được như ý". Có người hỏi rằng: "Hào Thê Tài Mão mộc gặp Tuần Không, Nguyệt phá, lại bị hào động Dậu kim khắc; hào sơ Tị hỏa tuy sinh hào Thế, nhưng lại bị Nhật thần Hợi xung tán, hóa Tuần Không, vậy cát lợi ở chỗ nào?"
Ta bèn đáp rằng: "Thần hé lộ thiên cơ ở chỗ động, ta trước nay không hề nói đến khái niệm tán. Chính vì Tị hỏa hóa Tuần Không, nên trước mắt vẫn chưa thấy ứng nghiệm, đợi đến ngày Giáp Dần xuất Không sẽ đắc tài. Hào Tài Dần mộc sinh ra Quan, Quan sẽ sinh ra Thế". Quả nhiên đến sáng ngày Dần được của.
Có sáu loại Nguyên thần tuy xuất hiện nhưng không thể sinh ra Dụng thần:
- Nguyên thần hưu tù không phát động, hoặc động mà hưu tù, lại bị khắc thương.
- Nguyên thần hưu tù, lại gặp Tuần Không, Nguyệt phá.
- Nguyên thần hưu tù, động mà hóa Thoái thần.
- Nguyên thần gặp suy, gặp Tuyệt.
- Nguyên thần nhập Tam Mộ.
- Nguyên thần hưu tù, động mà hóa Tuyệt, hóa Khắc, hóa Phá, hóa Tán.
Những trường hợp trên tuy thấy sinh nhưng lại không sinh, là Nguyên thần vô lực, có cũng như không.
Sự Vượng Suy Của Kỵ Thần
Kỵ thần
Có năm loại Kỵ thần khi phát động sẽ khắc hại Dụng thần:
- Kỵ thần vượng tướng, hoặc được Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động sinh vượng, phù trợ, hoặc gặp Nhật thần, Nguyệt kiến.
- Kỵ thần động hóa hồi đầu sinh, hóa Tiến thần.
- Kỵ thần vượng động, gặp Tuần Không, hóa Tuần Không.
- Kỵ thần gặp Trường Sinh, Đế Vượng tại Nhật thần.
- Kỵ thần và Cừu Thần cùng động.
Các loại Kỵ thần như trên đây đều rất dữ, xem việc gì gặp phải đều là đại hung.
Có bảy loại Kỵ thần tuy động nhưng không khắc được Dụng thần:
- Kỵ thần hưu tù không động, động mà hưu tù, hoặc bị Nhật thần, Nguyệt kiến, hào động tương khắc.
- Kỵ thần tĩnh mà gặp Tuần Không, Nguyệt phá.
- Kỵ thần nhập Tam Mộ.
- Kỵ thần suy mà động hóa thành Thoái thần.
- Kỵ thần suy mà gặp Tuyệt.
- Kỵ thần động hóa Tuyệt, hóa Khắc, hóa Phá, hóa Tán.
- Kỵ thần và Nguyên thần cùng động.
Những trường hợp trên đều là Kỵ thần vô lực, xem chuyện gì cũng là biến hung thành cát.
Trên đây là bàn về trạng thái hữu lực, vô lực của Nguyên thần và Kỵ thần, nhưng Dụng thần cũng phải có khí. Nếu như Dụng thần vô căn (không gốc rễ), thì cho dù Nguyên thần hữu lực cũng khó sinh, cho dù Kỵ thần vô lực chưa chắc đã tốt.
Ví dụ: Ngày Ất Mùi tháng Tị, tự xem về bệnh tật, được quẻ Trạch Phong Đại Quá biến Hỏa Phong Đỉnh.
Quẻ này tự xem bệnh cho mình, nên lấy hào Thế Hợi thủy làm Dụng thần, bị Kỵ thần là Mùi thổ động nên khắc thủy, may nhờ có Nguyên thần là Dậu kim cũng động, nên Kỵ thần Mùi thổ hồi đầu sinh Nguyên thần Dậu kim. Kim lại sinh Dụng thần Hợi thủy, tiếp tục tương sinh, nên hóa hung thành cát. Thế nhưng Hợi thủy lại bị Nguyệt kiến xung (tháng xung), Nhật thần khắc (ngày khắc), gặp Nguyệt phá nên bị khắc, tuy được sinh cũng không khởi vượng được. Cũng như cây không rễ, cành không thể hồi sinh. Quả nhiên người này sau chết vào ngày Quý Mão. Sở dĩ ứng vào ngày Mão, vì ngày đó xung mất Nguyên thần. Như vậy gọi là Dụng thần vô căn (không có gốc), cho dù Nguyên thần có lực cũng khó sinh.
Tân bình thích: Ví dụ này hung, chẳng những Dụng thần vô căn, Thê Tài Sửu thổ ám động, đã khắc Dụng thần, lại khiến cho Nguyên thần nhập Mộ, khắc nhiều sinh ít, Kỵ thần vô chế, ngày Mão lại là Tử địa Dụng thần, vì vậy là hung.
Ví Dụ Xuất Hành Cầu Tài
Ví dụ, tôi được nghiệm một ví dụ, có thể cùng nghiên cứu với ví dụ này. Ngày Tân Hợi tháng Tý, bạn tôi đoán ngày hôm sau muốn đến Bắc Kinh ra sao? Được quẻ Địa Thủy Sư biến Thủy Trạch Tiết.
Tôi đoán: Lần này đi Bắc Kinh có thể được tài, rất có lợi.
Anh ta nói: Tôi chẳng đi cầu tài, chỉ là đi chơi thôi, ông xem cát hung thế nào?
Tôi nói: Chuyến đi này cát lợi, ngày Đinh Tị trở về, có thể kiếm được khá nhiều tiền.
Anh ta nói: Tôi dự định trở về vào ngày Bính Thìn, chẳng ăn khớp với dự đoán.
Tôi nói: Hãy cứ xem ứng nghiệm ra sao.
Sau đó anh ta đi Bắc Kinh đúng là được một vạn nguyên, vốn dự định ngày Bính Thìn quay về, nhưng bởi vì có việc nên lùi lại một hôm. Trở về vào ngày Đinh Tị. Anh ta hỏi tôi: Nhật Nguyệt khắc Tài, Dụng thần vô căn, hào Thế Tài tinh Nguyệt phá, trong quẻ lại có Kỵ thần phát động, mặc dù có Tử Tôn cùng động tương giải, nhưng Tử Tôn Không Vong, lại động mà hóa Phá, phải đoán là bản thân gặp hung, lại xảy ra chuyện phá tài mới đúng chứ?
Tôi đáp, quẻ này mặc dù Dụng thần có thể nói là vô căn, nhưng thần triệu cơ ở động, mặc dù Kỵ thần động, nhưng Tử Tôn Dần mộc động mà hợp Kỵ thần, Dần lại sinh hào Thế, huống hồ Kỵ thần động hóa hồi đầu khắc, Tử Tôn vượng mà động ở trong quẻ, xuất hành bình an. Thế lâm Thanh Long, Thanh Long là vui mừng, được Tử Tôn động sinh, tất có hỉ. Hào sơ là chân, động mà hóa Tài, xuất hành tất được tài. Tử Tôn cũng là Nguyên thần của hào Thế, ngày Tị thực Phá, ngày Tị sẽ trở về.
Ví Dụ Xem Bệnh, Hợp Nhiều Quẻ Để Quyết
Lại như ngày Mậu Tý tháng Sửu, tự xem về bệnh của mình, được quẻ Thiên Hỏa Đồng Nhân biến Hỏa Sơn Lữ.
Tự xem về bệnh của mình thì dùng hào Thế làm Dụng thần, hào Thế Hợi thủy, được Nhật thần Tý thủy trợ giúp, lại được Nguyên thần Thân kim cũng động, nên Kỵ thần Mùi thổ hồi đầu sinh Nguyên thần Dậu kim. Kim lại sinh Dụng thần Hợi thủy, tiếp tục tương sinh, nên hóa hung thành cát. Thế nhưng Hợi thủy lại bị Nguyệt kiến xung (tháng xung), Nhật thần khắc (ngày khắc), gặp Nguyệt phá nên bị khắc, tuy được sinh cũng không khởi vượng được. Cũng như cây không rễ, cành không thể hồi sinh. Quả nhiên người này sau chết vào ngày Quý Mão. Sở dĩ ứng vào ngày Mão, vì ngày đó xung mất Nguyên thần. Như vậy gọi là Dụng thần vô căn (không có gốc), cho dù Nguyên thần có lực cũng khó sinh.
Nên mời mẹ anh ta xem thêm một quẻ nữa, được quẻ Ly Vi Hỏa biến Hỏa Thiên Đại Hữu.
Mẹ xem cho con, lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Tử Tôn Sửu thổ tuy gặp Nguyệt kiến, nhưng động hóa thành Dần mộc hồi đầu khắc là không tốt, trước mắt tuy được yên lành, nhưng đến tiết Lập Xuân, khi mộc vượng thổ suy, ắt sẽ chết. Lại hợp với quẻ trước, hào Thế Hợi thủy được Nguyên thần Thân kim sinh, đến tháng Dần xung mất Thân kim sẽ nguy đến tính mạng. Quả nhiên người này chết vào tiết Lập Xuân.
Phàm là xem về bệnh tật, cả nhà đều có thể xem thay, gộp các quẻ lại để suy đoán, sẽ biết được thời điểm nào sẽ khỏi bệnh hay chết. Tượng quẻ nên tốt nhiều dữ ít, thì phán đoán họa phúc mới được chính xác. Trong quẻ thứ nhất, Nguyên thần là Thân kim động mà sinh hào Thế, nên đoán là đến ngày Thân bệnh sẽ lui. Nhưng lại xét quẻ sau, Tử Tôn Sửu thổ biến thành hào Dần mộc hồi đầu khắc, đến tháng Dần sẽ nguy, mới ngộ ra rằng vì tháng Dần xung mất Thân kim, nên mới nguy đến tính mạng.
Tân bình thích: Trước nói Tam Mộ là Nhật Mộ, động Mộ và hóa Mộ, Nguyệt Mộ hoàn toàn không được đưa vào Tam Mộ. Ở đây lại nói Nguyệt Mộ là thế nào? Người xưa xem Mộ là hung, trên thực tế đó là một nhận thức sai lầm về Mộ khố. Cát hung chủ yếu xem lực sinh khắc của Nhật Nguyệt hào động đối với Dụng thần ra sao, Mộ khố chỉ phụ họa cho Dụng thần theo góc độ tượng và phân rõ ý nghĩa phán đoán mà thôi. Theo như quẻ đầu tiên, tự xem bệnh, Nguyệt kiến là thổ khắc chế Dụng thần, Nguyên thần nhập Nguyệt Mộ, Nguyên thần là tư duy và thế giới nội tâm của con người, Nguyên thần nhập Mộ, chính là tượng không có tinh thần. Dụng thần không cát, trong quẻ Phụ Mẫu Mão mộc phát động, Mão mộc là Tử địa của Dụng thần, trợ khởi Huynh Đệ Ngọ hỏa, Nhật xung tạo thành ám động, khắc chế Nguyên thần, Nguyên thần lại động mà hóa Phá, vì vậy là hung, tháng Dần Cừu thần được trợ, Nguyên thần bị xung mất, vì vậy mà ứng vào tháng Dần.
Ví dụ: Ngày Quý Mùi tháng Tuất, Dịch hữu Mao tiên sinh ở Giang Tô hỏi tôi, cha vợ của một người bị tai nạn xe cộ nhập viện, ông ta đoán là cát, ý kiến tôi thế nào? Được quẻ Sơn Trạch Tổn biến Địa Trạch Lâm.
Tôi đáp: Cha vợ người này đã hôn mê bất tỉnh, tháng Hợi tất hung. Kết quả là mất ở tháng Hợi.
Quẻ này Nhật Nguyệt không khắc Dụng thần, Dụng thần nhập Mộ ở Nguyệt, chính là tượng hôn mê. Trong quẻ mặc dù được Nguyên thần động mà đến sinh, nhưng Nguyên thần cũng hưu tù vô lực, động hóa hồi đầu khắc, vô lực sinh Dụng, đến tháng Hợi Nguyên thần bị hợp không thể sinh Dụng, Dụng thần lâm Tuyệt, tất hung. Người đời chỉ biết Dụng thần vô khắc, được Nguyên thần động mà đến sinh là cát, mà không biết Nguyên thần bị thương vô lực sinh Dụng cũng là hung.
Tuy nhiên, phương pháp của Dã Hạc là một quẻ không rõ thì xem thêm quẻ nữa, hợp các quẻ lại mà quyết, đây cũng là một cách dễ làm. Đáng được đề xướng.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
