Bài tổng quan
Nhật Thần Và Lục Thần: Chủ Tể Sáu Hào Cùng Tượng Của Sáu Thú
Nhật thần là chủ tể của sáu hào, vượng tướng suốt bốn mùa, quyền lực ngang Nguyệt kiến: xung hào Không thì khởi, xung hào hợp thì khai, hào suy mà động bị Nhật xung thì tán bại. Hai quẻ Độn biến Cấu và Quải biến Lý minh họa sức mạnh ấy khi xem bệnh và đoán nô bộc gặp họa dọc đường. Nhật và Nguyệt đồng công mà chức trách khác nhau. Lục Thần gồm Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần, Đằng Xà, Bạch Hổ, Huyền Vũ, an theo Thiên Can ngày xem, thuộc phạm trù tượng chứ không quyết định cát hung. Đằng Xà chủ bệnh dai dẳng chứ không hẳn là chết, Thanh Long báo tin thi đậu, còn Bạch Hổ ngậm dao ứng vào tội hình nặng, như quẻ Quán biến Truân đoán đúng thời điểm hành quyết.
Nhật Thần: chủ tể sáu hào, quẻ Độn biến Cấu và Quải biến Lý
Chương 18: Nhật Thần
Tý thủy, Sửu thổ, Dần mộc, Mão mộc, Thìn thổ, Tị hỏa, Ngọ hỏa, Mùi thổ, Thân kim, Dậu kim, Tuất thổ, Hợi thủy.
Nhật thần tức ngày xem quẻ, còn gọi là Nhật kiến.
Nhật thần là chủ tể của sáu hào, vượng tướng suốt bốn mùa.
Chương trên nói về Nguyệt lệnh cai quản trong ba tuần. Lệnh mùa xuân thì sinh, lệnh mùa thu thì sát. Xuân hạ thu đông, mỗi mùa chỉ nắm quyền trong một khoảng thời gian nhất định. Nhưng Nhật thần lại khác, bốn mùa đều vượng, nắm giữ quyền sinh sát, có quyền lực tương đương Nguyệt kiến.
Hào tĩnh vượng tướng, bị Nhật thần xung tức là ám động (động ngầm);
Hào tĩnh suy nhược, bị Nhật thần xung tức là Nhật phá.
Hào vượng mà tĩnh, bị Nhật thần xung tức là ám động, càng thêm cường vượng.
Hào tĩnh mà suy, bị Nhật thần xung tức là Nhật phá, càng thêm vô dụng.
Xung không sẽ khởi, xung hợp sẽ khai;
Được sinh phù củng hợp, như mầm non gặp được trận mưa lành;
Bị khắc hại hình xung, tựa cỏ cây tàn úa vì sương giá.
Hào gặp Tuần Không mà được Nhật thần tương xung sẽ thành hữu dụng, như vậy gọi là Không bị xung sẽ thực.
Hào gặp hợp, bị Nhật kiến xung khai, gọi là nơi hợp gặp xung (hợp xứ phùng xung).
Hung thần gặp hợp tốt nhất nên bị xung; cát thần gặp hợp không nên bị xung.
Nhật thần có thể tương sinh, tương hợp, sinh vượng cho hào suy nhược. Hoặc nếu đồng chất có thể tỷ hòa, trợ giúp cho hào suy nhược; Nhật thần cũng có thể hình, xung, khắc, Tuyệt, Mộ đối với hào vượng cường.
Hào vượng mà động, bị Nhật thần xung càng vượng cường;
Hào suy mà động, bị Nhật thần xung thành tán bại.
Trong các sách bốc dịch khác có viết:
"Hào gặp Nguyệt kiến, có bị Nhật thần xung cũng không tán",
tức được thời sẽ không sợ bị Nhật thần xung. Khi bàn luận về họa phúc, bất kể là vượng tướng hay hưu tù, đều coi là tán, coi tán là quan trọng nhất. Ta đã thử nhiều lần, đều không thấy ứng nghiệm ở tán. Thần linh mách bảo thiên cơ ở hào động, có động sẽ ứng nghiệm, chứ không hề thấy tán. Hào vượng tướng bị xung thì càng thêm mạnh; hào hưu tù vô khí, thi thoảng cũng gặp tán, nhưng cả trăm trường hợp chỉ có một hai mà thôi.
Gặp Nguyệt phá mà không phá, gặp xung khắc mà vô hại.
Tức hào gặp Nhật kiến, bị Nguyệt kiến xung cũng không phá, bị Nguyệt kiến khắc cũng vô hại, gặp hào động tương khắc cũng không bị tổn thương, bị hào biến hồi đầu khắc cũng không gặp họa, sức mạnh của nó vững như bàn thạch, với quyền lực tương đương với Nguyệt kiến, là vượng tướng cùng cực như vầng dương đang giữa bầu trời.
Sinh nhiều khắc ít, như gấm thêm hoa;
Sinh ít khắc nhiều, ít khó địch nhiều.
Hào gặp Nhật kiến, lại được hào động trong quẻ tương sinh, trợ giúp, thì như gấm thêm hoa, đã tốt càng thêm tốt. Nếu hào gặp Nhật kiến, lại bị hào động Nguyệt kiến tương khắc, như vậy là thế ít không địch nổi nhiều.
Ví dụ xem quẻ vào ngày Mão tháng Dậu, được hào Mão mộc, như vậy là gặp Nguyệt phá (tháng Dậu kim khắc Mão mộc) mà không bị phá. Nhưng nếu trong quẻ lại có hào Thân kim hoặc Dậu kim động, hoặc hào Mão động mà hóa ra Thân hoặc Dậu, như vậy là thế ít không địch nổi nhiều. Trong những trường hợp đó, gặp Nguyệt phá vẫn bị phá, gặp khắc thương vẫn bị khắc thương. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.
Ví dụ: Ngày Mậu Ngọ tháng Thân, xem về bệnh tật được quẻ Thiên Sơn Độn biến Thiên Phong Cấu:
Hào Thế tại Ngọ hỏa, gặp Nhật thần, vốn là vượng tướng. Nhưng hiềm vì Nguyệt kiến Thân kim sinh Hợi thủy hồi đầu khắc hào Thế. Kết quả, người này chết vào tháng Hợi.
Lại ví dụ: Ngày Đinh Hợi tháng Tị, xem lúc nào nô bộc quay trở về, được quẻ Quải biến Lý:
Hào Tài tại Hợi thủy là Dụng thần, gặp Nguyệt phá, tuy lâm Nhật thần nên gặp Phá mà không bị Phá, nhưng hiềm vì có thêm bốn hào thổ động mà bị khắc thương. Tục ngữ có câu "hai nắm đấm khôn địch bốn cánh tay", trường hợp này không những người nô bộc kia khó mà quay được trở về, mà e còn có chuyện bất trắc. Quả nhiên vào ngày Mão tháng Ngọ, nhận được tin người này đã gặp họa chết dọc đường.
Khi đọc chương này, cần tham khảo chương "Nguyệt kiến".
Phụ chú:
Hào vượng, tức gặp Đế Vượng tại Nhật thần.
Tỷ hòa, nghĩa là hào có ngũ hành tương tự với Nhật, Nguyệt.
Phù (phò trợ), củng (nâng đỡ), là hào có ngũ hành cùng loại với Nhật Nguyệt;
Mộ, Tuyệt, tức hào có ngũ hành gặp Mộ, Tuyệt tại Nhật thần.
Lý Ngã Bình từng nói: Sách "Dịch mạo" có viết:
"Hào gặp Nhật thần, không thể tán, không thể bị Không".
Tức là gặp tán mà không tán, gặp Không cũng chẳng Không. Động mà bị Nhật thần xung, gọi là tán. Đã là Nhật thần, lẽ nào lại có thể bị Nhật thần đến xung khắc? Tuần Không, tức không có trong tuần đó. Đã là Tuần Không, lẽ nào lại có chuyện gặp được Nhật thần? Thế mới biết các sách vở chưa chắc đã đáng tin tưởng.
Nhật Nguyệt đồng công: quẻ Trạch Lôi Tùy
Tân bình thích: Những phân tích trên đây của Dã Hạc rất hay, rất tỉ mỉ, có thể thấy được mỗi bên Nhật Nguyệt đều có chỗ sử dụng. Sách cổ mặc dù nói "Nhật Nguyệt đồng công", nhưng Nhật Nguyệt có chức trách của riêng nó, ảnh hưởng cũng khác nhau.
Dụng thần phục tàng, Nguyệt kiến xung Phi, Phi là Nguyên thần thì không cát, Phi là Kỵ thần thì cát. Nhưng Nhật xung Phi thần, Phi thần có khí hoặc vượng tướng, Phi thần là Nguyên thần là cát, Phi thần là cát thần, Dụng thần vượng thì cát, Dụng thần suy thì hung.
Dụng thần phục tàng, Nguyệt kiến xung không cát, Nhật thần xung mà được xuất. Sao lại nói Nhật Nguyệt đồng công?
Dụng thần Nguyệt phá mà lâm Nhật, tất nhiên là thực Phá, cũng có mức độ nặng nhẹ khác nhau. Nguyệt kiến trong xung có khắc, Nhật thần thực Phá cũng cần có hào khác sinh phù, chỉ xung không khắc, thì có thể đối kháng với Nguyệt kiến, nhưng trong quẻ nếu có hào động, thì còn phải xem ảnh hưởng của nó đối với Dụng thần ra sao, mới có thể phán đoán là cát hay là hung.
Tuy nhiên cát hung chỉ là một phương diện, hào Nguyệt phá Nhật thần thực Phá còn có chỗ áo diệu của nó, tôi được nghiệm rất nhiều.
Ví dụ: Ngày Đinh Dậu tháng Mão, một người Nhật Bản nhờ tôi đoán phong thủy nhà ở, được quẻ Trạch Lôi Tùy:
Tôi đoán người này đã tốn không ít tiền để sửa chữa đường ống dẫn nước và phòng tắm, ngôi nhà nằm bên đường kề khu phố sầm uất, đường đi bất tiện, đã từng tu bổ nhiều lần. Kết quả phán đoán rất chính xác.
Quẻ này Thê Tài trì Thế, chính là tiền nằm trong tay, Không mà bị Nguyệt kiến khắc thương, là cầm tiền trong tay tiêu mất đi. Huynh Đệ lâm Câu Trần tại hào 2 vượng mà khắc hào Tài, hào 2 là hào trạch, Câu Trần là tu tạo, nhất định là bởi vì tu tạo hoặc cải tạo nhà cửa mà tốn tiền. Thê Tài Thìn thổ là thủy khố, có thể hiểu là vật đựng nước. Lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ vật nhỏ dài, uốn khúc, Thìn thổ có thể hiểu là đường ống dẫn nước. Lại Thìn thổ gặp Nhật là đất Mộc Dục, Mộc Dục có thể hiểu là tắm rửa, thủy khố của nơi tắm rửa, có thể hiểu là phòng tắm, cho nên đoán như vậy.
Quẻ tại cung Chấn, Chấn là khu phố sầm uất, náo nhiệt, lại Phụ Mẫu lâm Chu Tước, một Phụ Mẫu lâm Bạch Hổ, Chu Tước chủ ồn ào, Bạch Hổ chủ đường đi, vì vậy đoán nhà của người đó nằm bên đường tại khu phố sầm uất. Hào 5 là đường đi, Nguyệt phá, chính là tượng đường đi bị tổn hại, nhưng Nhật thần thực Phá, lại là tượng tu bổ.
Ở đây nêu ra ví dụ này, là để mở rộng lối nghĩ của chúng ta. Những phân tích của Dã Hạc là trình bày từ góc độ lý, là cách dùng cơ bản nhất của bốc dịch, mà ví dụ tôi đưa ra chính là trình bày từ góc độ tượng. Lý tượng đều đầy đủ mới là đạo lý bốc dịch hoàn mỹ.
Lục Thần: bảng an theo Thiên Can và quẻ Bác biến Quán
Chương 19: Lục Thần
| Ngày | Hào sơ | Hào 2 | Hào 3 | Hào 4 | Hào 5 | Hào 6 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Giáp, Ất | Thanh Long | Chu Tước | Câu Trần | Đằng Xà | Bạch Hổ | Huyền Vũ |
| Bính, Đinh | Chu Tước | Câu Trần | Đằng Xà | Bạch Hổ | Huyền Vũ | Thanh Long |
| Mậu | Câu Trần | Đằng Xà | Bạch Hổ | Huyền Vũ | Thanh Long | Chu Tước |
| Kỷ | Đằng Xà | Bạch Hổ | Huyền Vũ | Thanh Long | Chu Tước | Câu Trần |
| Canh, Tân | Bạch Hổ | Huyền Vũ | Thanh Long | Chu Tước | Câu Trần | Đằng Xà |
| Nhâm, Quý | Huyền Vũ | Thanh Long | Chu Tước | Câu Trần | Đằng Xà | Bạch Hổ |
Tất cả các sách xem đều cho rằng Thanh Long là cát, Bạch Hổ là hung.
"Thiên nguyên phú" viết:
"Thân vượng long trì đa cát khánh" (thân vượng, lại gặp Thanh Long, được nhiều chuyện vui vẻ, cát tường).
"Toái kim phú" viết:
"Long động gia hữu hỷ; Hổ động gia hữu tang" (Thanh Long động, nhà có chuyện vui; Bạch Hổ động, nhà có tang ma).
"Bốc phệ nguyên quy" viết:
"Đằng Xà Bạch Hổ ưu tôn trưởng" (gặp Đằng Xà, Bạch Hổ, gia trưởng có chuyện không may).
"Bốc phệ đại toàn" viết:
"Úy hàm đao chi Bạch Hổ; hỷ phó thủy chi Thanh Long" (sợ Bạch Hổ ngậm dao; ưa Thanh Long giỡn nước).
"Duyệt áo chương", xem về bệnh tật viết:
"Đằng Xà chủ tử, Bạch Hổ chủ tang" (gặp Đằng Xà sẽ chết, gặp Bạch Hổ sẽ có tang).
Tất cả những luận đoán trên đều không dựa vào ngũ hành, mà chỉ căn cứ vào lục thần để đoán định sống chết.
Chỉ có "Thiên kim phú" viết:
"Hổ hưng nhi ngộ cát thần, bất hại kỳ cát; Long động nhi phùng hung diệu, nan yểm kỳ hung" (Bạch Hổ động mà gặp cát thần, chẳng hại đến cát; Thanh Long động mà gặp sao xấu, khó đỡ được hung), đó mới là chân lý.
Lục thần chỉ là thần phụ trợ. Nếu là quẻ tốt, gặp được Thanh Long lại càng tốt; nếu là quẻ xấu, gặp phải Bạch Hổ, Đằng Xà lại càng xấu. Lại thêm Huyền Vũ chủ về trộm cắp, Chu Tước chủ về thị phi, đều rất ứng nghiệm. Cho đến gia trạch, mộ phần, cũng cần phải dựa vào lục thần để suy đoán.
Tân bình thích: Cách hiểu và bàn luận về lục thần của người xưa về cơ bản là sai lầm, ngày nay giới Dịch học cũng có nhiều người bỏ lục thần mà không dùng, hiện nay người có thể lấy lục thần phán đoán cũng ít gặp, đây là không biết công dụng thực sự của lục thần.
Công dụng của lục thần không phải là dùng để phán đoán cát hung, cát hung tự có ngũ hành phụ trách, cát hung là phạm trù lý của bốc dịch, mà lục thần thì thuộc về phạm trù tượng của bốc dịch. Người xưa và hầu hết người thời nay không biết dự đoán lục hào (tức bốc dịch) chia thành lý và tượng, cho nên rất khó có đột phá lớn về bốc dịch để đạt đến trình độ cao.
Lục thần không liên quan đến cát hung, nó dùng để thuyết minh và biểu thị tính chất, nguyên nhân của sự vật. Về cơ bản, "Tăng San Bốc Dịch" rất ít khi tham khảo lục thần để phán đoán sự việc, đây là chỗ thiếu sót của cuốn sách này. Nếu muốn nâng cao trình độ dự đoán, đoán quẻ xuất thần nhập hóa, thì nhất định phải thông thạo cách dùng của lục thần. Trong dự đoán hầu như quẻ nào cũng không tách khỏi lục thần.
Ví dụ: Ngày Mậu Tý, xem sinh nở, được quẻ Sơn Địa Bác biến Phong Địa Quán:
Hào Tử Tôn Tý thủy, hóa Tuyệt, biến Quỷ, tức sinh ra sẽ chết. Nhưng may có Thanh Long nằm tại hào Tử Tôn, là điềm vui mừng.
Tân bình thích: Thanh Long có ý nghĩa sinh dục, ở đây Thanh Long chủ sinh con, Thế lâm Thanh Long, lâm Nhật mà động, là tượng hôm đó sinh con, Tử Tôn động mà biến Quan Quỷ, là tượng đứa con sinh ra tử vong.
Đằng Xà và Thanh Long: quẻ Truân biến Chấn, Quán biến Bĩ
Lại ví dụ: Ngày Giáp Thìn tháng Thân, xem bệnh anh trai, được quẻ Truân biến Chấn:
Hào Huynh Đệ Tý thủy là Dụng thần, các hào Kỵ thần, Nguyên thần trong quẻ này đều động, Tuất thổ động sinh Thân; Thân kim động sinh Tý thủy; Nguyệt kiến (Thân) lại sinh Tý thủy, đến ngày Mậu Thân, bệnh nặng sẽ thuyên giảm, như vậy sao có thể nói rằng "Đằng Xà động sẽ chết, Bạch Hổ động có tang"!
Tân bình thích: Bạch Hổ có ý nghĩa bệnh tật, lâm Ứng lâm Quan Quỷ động mà khắc Dụng, Ứng là nơi khác, chính là bệnh nhiễm từ nơi khác, Dụng thần nhập Mộ ở Nhật, là tượng nằm bệnh trên giường, Phụ Mẫu lâm Đằng Xà động đến sinh Dụng, Đằng Xà chủ triền miên, là đã bị bệnh trong thời gian rất dài mới được hồi phục. Tại sao chẳng lý giải là sẽ chết?
Lại như ngày Kỷ Tị tháng Thìn, xem thi hội, được quẻ Quan biến Bĩ:
Thanh Long lâm Mùi thổ, văn chương trì Thế động hóa hồi đầu sinh, Nhật kiến lâm hào 5 làm Quan tinh cùng đến sinh Thế, chắc chắn thi đậu.
Tân bình thích: Quẻ này Thanh Long chủ vui mừng. Phụ Mẫu lại là bảng thông báo trúng truyền, lâm Thanh Long chính là tin mừng.
Bạch Hổ ngậm dao: quẻ Tốn biến Hoán, Quán biến Truân
Lại như ngày Mậu Thìn tháng Mùi, xem việc quan bị tội có nặng không? Được quẻ Tốn biến Hoán:
Thế lâm Mão mộc, đã Mộ ở tháng Mùi, lại gặp Dậu kim Quỷ động, xung khắc hào Thế, thêm lâm Bạch Hổ, gọi là Bạch Hổ ngậm dao, chủ bị gán tội rất hung.
Đối phương hỏi: Hung vào lúc nào?
Ta đáp: Dậu kim hóa Ngọ hỏa, trước mắt không sao, đề phòng ở mùa thu. Quả nhiên đến mùa thu chịu tội chết.
Hai quẻ trên đây, là nói về gặp Long càng cát, gặp Hổ thêm hung.
Tân bình thích: Thế lâm Chu Tước mà nhập Mộ, là tượng vào tù. Hào Ứng Quan Quỷ lâm Bạch Hổ động đến khắc Thế, Bạch Hổ chủ đao thương, chủ trảm sát, Quan Quỷ là nha môn, khắc Thế, chính là tượng bị hành hình. Chẳng phải Bạch Hổ là hung, Dụng thần vốn hưu tù bị khắc mới là hung.
Ví dụ: Ngày Canh Ngọ tháng Kỷ Sửu năm Ất Hợi, một người phụ nữ đoán cát hung của đứa con. Được quẻ Phong Địa Quán biến Thủy Lôi Truân:
Lấy hào Tử Tôn làm Dụng thần. Quẻ này Tử Tôn Tý thủy không hiện trên quẻ, phục dưới hào sơ Phụ Mẫu Tý thủy, Dụng thần bị Nguyệt khắc Nhật xung, Nguyên thần không hiện, khó mà sinh phù, thêm hào Phi Phụ Mẫu Mùi thổ lâm Bạch Hổ động mà đến khắc, hung nhiều cát ít.
Trong quẻ hào 6 Mão mộc phát động tương hình với Tử Tôn Tý thủy, hình chủ hình sự, mắc hình phạt, lâm Đằng Xà, Đằng Xà chủ trói buộc, nhất định là đứa con đã phạm tội, đã bị công an bắt lại.
Ứng lâm Bạch Hổ khắc, Bạch Hổ chủ đao thương, chính là tượng bị hành quyết. Quẻ này Dụng thần Tý thủy phục tàng, năm 96 gặp xuất hiện bị khắc nhất định hung. Hiện nay hào Phi Mùi thổ Nguyệt phá, tháng Ngọ năm 96 Hợp Phá là ứng kỳ.
Quả nhiên là mắc hình phạt vào tù, bị phán tử hình nhưng hoãn lại hai năm mới thi hành. Nói cách khác, theo tình hình lúc đó thì đến năm 98 con mới bị hành quyết. Ai ngờ năm 96 gặp ở trên nghiêm khắc, đứa con bị xét xử lại, bị hành quyết vào tháng Tị. So với thời gian dự đoán sớm hơn một tháng, điều này là bởi vì Phi thần Nguyệt phá, Nhật thần tới hợp, Nguyệt phá được giải trừ, nên không ứng hợp Phá, mà đã ứng Dụng thần gặp Tuyệt.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
