Bài tổng quan
Tuần Không: Sáu Tuần Giáp, Chân Không, Giả Không Và Phép Xem Nhiều Quẻ
Tuần Không là một trong những điều khó lường nhất của Lục Hào: có lúc ngỡ là có mà lại không. Sáu tuần Giáp xác định hai chi lâm Không của mỗi ngày, và các sách chia Tuần Không rất phức tạp thành Chân Không, Giả Không, Động Không, Xung Không, Điền Không, Viện Không. Dã Hạc lão nhân cho rằng hào vượng tướng gặp Không thì không tính là Không, soi qua quẻ Gia Nhân biến Bí và quẻ Khuê biến Tổn, nơi hào Tài phục tàng lâm Không bị khắc nên cầu tài không được. Quẻ Đại Súc toàn mỹ mà hào Thế lâm Không, xem lại được quẻ Minh Di biến Phong, xác nhận chuyến đi thành công sau khi xuất Không. Hai quẻ cùng có hào Phụ động gặp Không lại cho kết quả trái nhau, tùy tâm ý câu hỏi.
Tuần Không: sáu tuần Giáp và quẻ Gia Nhân biến Bí
CHƯƠNG 27: TUẦN KHÔNG
Tuần Giáp Tý: Tuất, Hợi là Tuần Không;
Tuần Giáp Tuất: Thân, Dậu là Tuần Không;
Tuần Giáp Thân: Ngọ, Mùi là Tuần Không;
Tuần Giáp Ngọ: Thìn, Tị là Tuần Không;
Tuần Giáp Thìn: Dần, Mão là Tuần Không;
Tuần Giáp Dần: Tý, Sửu là Tuần Không.
Thế nào là Tuần Không? Mỗi tháng âm lịch được phân thành 3 tuần, mỗi tuần gồm mười ngày, mỗi ngày được định bằng can, chi. Mỗi tuần khởi đầu bằng can Giáp và kết thúc bằng can Quý, do chỉ có 10 ngày mà địa chi lại có 12 nên mỗi tuần luôn đầy đủ 10 thiên can nhưng lại thiếu hai địa chi. Như tuần đầu tiên từ ngày Giáp Tý đến ngày Quý Dậu, trong mười ngày này, không xuất hiện hai địa chi Tuất, Hợi, bởi vậy, trong quẻ nếu có hào Tuất, Hợi sẽ là Không Vong, hay còn gọi là Tuần Không, hay lâm Không. Những trường hợp khác cũng loại suy từ đó.
Về phép xem Tuần Không, các sách trình bày rất phức tạp: phân chia thành Chân Không (Tuần Không thật), Giả Không (Tuần Không giả), Động Không (Tuần Không động), Xung Không (xung Tuần Không), Điền Không (điền thực Tuần Không), Viện Không (hỗ trợ Tuần Không), vô cố tự Không (tự thành Tuần Không không lý do), hữu cố nhi Không (thành Tuần Không có lý do), Mộ Tuyệt Không (Tuần Không gặp Mộ Tuyệt), Hại Không (Tuần Không tai hại), Hợp Không (Tuần Không gặp hợp), Phá Không (Tuần Không gặp Nguyệt phá).
Dã Hạc bàn rằng: Hào vượng tướng và hào động gặp Tuần Không thì không coi là Không; hào được Nhật thần và hào động sinh phò, gặp Tuần Không cũng không coi là Không. Hào động mà hóa Tuần Không, hào Phục mà được vượng tướng, cũng không coi là Không.
Gặp Nguyệt phá là Không, có khí mà bất động cũng là Không; phục mà bị khắc cũng là Không; Chân Không là Không.
Chân Không: Xuân thổ hạ kim thu là mộc; ba đông gặp hỏa ấy chân không.
Ta khi mới học xem quẻ, gặp Tuần Không, không biết suy đoán ra sao. Cho nó là không triệt để, thì đến ngày điền thực lại không còn bị Không nữa; không cho nó là Không, thì lại là Không triệt để. Sau học được cách xem nhiều lần, mỗi khi gặp Tuần Không, đều bảo người ta xem lại. Nếu được quẻ tốt, thì đoán là đợi qua tuần sẽ hết Không. Nếu gặp quẻ xấu, thì đó là Không triệt để.
Ví dụ: Ngày Ất Mão tháng Thìn, xem về cầu tài, được quẻ Gia Nhân biến Bí:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Mộc; Không Vong: Tý, Sửu.)
Hào Tài Sửu trì Thế gặp Tuần Không, tuy được Tị hỏa động mà tương sinh, nhưng Tị hỏa lại hóa Tý thủy hồi đầu khắc nên không thể sinh Tài Sửu thổ. Hào Tài không được sinh phò thì khó được tiền của. Nhưng vì xem vào tháng ba, nên hào Tài Sửu thổ có khí. Theo sách xưa, có khí thì gặp Không cũng không coi là Không, nên ta chẳng dám quyết đoán, mà bảo người này xem lại, được quẻ Khuê biến Tổn.
Tài lâm Không phục tàng: quẻ Khuê biến Tổn
Được quẻ Khuê biến Tổn:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Tý, Sửu.)
Xem được quẻ này, bèn hợp với quẻ trước mà quyết đoán rằng: "Hào Tài vô khí, nên không cần phải tốn công nữa". Người này bèn hỏi nguyên do, ta đáp rằng: "Quẻ trước hào Tài tuy lâm Không nhưng hữu khí; đến quẻ này hào Tài Tý thủy phục ở dưới hào 5 là Mùi thổ, phục tàng mà lại lâm Không, lâm Không mà lại bị khắc, nên chắc chắn là cầu tài không được." Sau quả nhiên là không được.
Tân bình thích: Quẻ trước mặc dù Tài được Nguyệt kiến củng phù, nhưng đồng thời Nguyệt kiến cũng là Mộ khố, Nhật khắc Dụng thần, lại là Tử địa của Dụng thần, Nhật Nguyệt một củng một khắc, về suy vượng là cân bằng, khó mà phân biệt. Nhưng Dụng thần Không Vong, sức lực sẽ giảm, là nhược. Nguyên thần phát động, vốn là chủ Dụng thần được trợ giúp, Dụng thần tăng thêm sức lực, nhưng Nguyên thần hóa hồi đầu khắc, bản thân khó giữ nổi, thì làm sao có sức lực để tái sinh hào khác? Mặc dù khó đoán, nhưng nắm bắt một cách cẩn thận cũng có thể đoán là hung. Tuy nhiên phương pháp xem nhiều quẻ của Dã Hạc cũng đáng được đề xướng, ở đây là cầu tài bình thường, nếu như đoán sai thì chỉ là không được mà thôi, nếu như là đầu tư lớn, đối với người không tinh thông quẻ, nếu có lo ngại thì xem lại là thỏa đáng, nhất định không được xem tiền bạc của người khác là trò đùa.
Vô cố tự Không: quẻ Đại Súc, Minh Di biến Phong
Dã Hạc bàn rằng: Phép xem quẻ nhiều lần có thể tiêu trừ nghi hoặc. Nếu không, chỉ quyết đoán dựa vào một quẻ trước, gặp vô cố tự Không, khác gì dấn thân vào nơi hang sâu vực thẳm. Nhưng lại được hào Tài vượng mà sinh hào Thế, là điềm tiền bạc dồi dào. Nên bảo anh ta đi ư? Hay là ngăn anh ta không nên đi?
Tân bình thích: Lý luận "vô cố tự Không" không vững chắc, Không tất có ý nghĩa của nó, theo như quẻ trước, hào Thế Không chính là trong tâm người đó bất an, đối với cầu tài là tưởng trong tâm không có lòng tin, cũng ứng khi nào có tài, chẳng phải là hung triệu (điềm xấu).
Ví dụ: Ngày Tân Hợi tháng Tý, xem về việc đi xa cầu tài, được quẻ Đại Súc:

(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Dần, Mão.)
Hào Thế tại Dần mộc, Nguyệt kiến Tý, Nhật thần Hợi đều là Tài thần mà sinh hào Thế, lại được hào Ứng tượng trưng cho nơi đến tương sinh hào Thế, nên đây là quẻ toàn mỹ. Chỉ hiềm hào Thế gặp Tuần Không, nếu như xem theo phép cổ, thì đây gọi là "vô cố tự Không" (tự thành Tuần Không mà không có lý do), là điềm đại hung. Như vậy, ta đâu dám khuyên người đó đi xa cầu tài. Nên ta bảo người này xem lại, được quẻ Minh Di biến Phong:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thủy; Không Vong: Dần, Mão.)
Ta bèn đoán rằng: Quẻ này cũng tương tự với quẻ trước. Chuyến đi này ắt sẽ có thành quả. Hào Thế Sửu thổ động hóa Ngọ hỏa hồi đầu sinh, trước mắt gặp Nguyệt phá. Nhưng đến nơi thì đã qua khỏi tháng này, không còn bị phá nữa. Tính theo quẻ trước, tháng Dần, Mão là khởi đầu mùa xuân, chính là tháng mà hào Thế xuất Không, gặp hào Tài Tý thủy tương sinh, sẽ được mãn nguyện.
Người xem hỏi: "Đi lần này có thành công không?" Ta đáp rằng: "Đợi sau ngày Giáp Dần, hào Thế xuất Không, chắc chắn sẽ được." Quả nhiên người này khởi hành vào ngày Ất Mão, đến khoảng giữa tháng Dần, Mão thì đến nơi, mọi việc đều thuận lợi như ý, trở về với tiền của dồi dào.
Hào Phụ động gặp Không: quẻ Quan biến Bĩ, Lý biến Trung Phu
Lại ví dụ: Vào ngày Tân Mão tháng Dần, xem cha bao giờ trở về, được quẻ Quan biến Bĩ:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Kim; Không Vong: Ngọ, Mùi.)
Trong quẻ này, hào Phụ Mẫu gặp Chân Không, bị Nguyệt kiến, Nhật thần khắc thương, nên tuy động nhưng vẫn là Không, e rằng tổn thương quá nặng, nên ta không dám đoán ngay. Hỏi người xem, cha đi từ lúc nào. Anh ta đáp rằng: "Cha mở cửa hàng ở nơi xa, cách nhà chừng hơn ba trăm dặm, thường xuyên đi về. Tháng trước gửi thư về nói trong vòng hai ngày nay sẽ về đến nơi, không biết đã lên đường hay chưa." Ta bèn bảo người này xem lại, được quẻ Lý biến Trung Phu:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Ngọ, Mùi.)
Quẻ này vẫn là hào Phụ động mà gặp Không, nhưng may được Nhật thần Mão sinh hào Phụ, là chỗ khác với quẻ trước. Lại may hào Phụ động mà khắc hào Thế, tức là đã sắp đến nơi, chừng ngày Giáp Ngọ, Ất Mùi sẽ về đến nhà. Quả nhiên đến ngày Mùi, người cha trở về.
Có người hỏi: "Trong quẻ này được Nhật thần, Nguyệt kiến sinh hào Phụ, nên đoán là người cha ắt sẽ trở về là đúng. Vậy tại sao quẻ trước gặp Chân Không lại không hung? Thần linh hẳn không có hai lý lẽ, khiến quẻ này đúng mà quẻ trước lại sai." Ta bèn đáp rằng: "Quẻ trước sao có thể cho là sai được! Hào Phụ Mùi trì Thế, trước mắt gặp Tuần Không, nhưng xuất Không lại sẽ được gặp cha. Người đoán quẻ cần phải xem xét ý niệm của người đến xem. Nếu cha người này lặn lội đường xa, sống chết chưa hay, người con khi xem trong tâm ắt có ý niệm về lành dữ, nếu gặp Chân Không, ắt không được trở về. Nhưng nay là người cha đi về đường quen, người xem chỉ quan tâm đến việc ngày nào cha trở về, nên thần linh mách bảo ngày Mùi sẽ đến nơi. Cũng như người này hỏi: "Cha tôi bao giờ sẽ trở về?" Thần linh bèn đáp: "Cha ngươi ngày Mùi sẽ đến nơi!" Khi ta mới xem quẻ đầu, ta cũng thấy nghi ngờ, nên mới bảo anh ta xem lại. Nếu lại được quẻ xấu, tức là điềm xấu. Nếu được quẻ tốt, thì hợp hai quẻ lại để đoán, để lĩnh ngộ được cái ý của thần linh."
Xem mưa tạnh: quẻ Lâm biến Sư, Ký Tế biến Cách
Ta từng vào ngày Kỷ Sửu tháng Ngọ xem về thời tiết mưa hay tạnh, được quẻ Lâm biến Sư:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thổ; Không Vong: Ngọ, Mùi.)
Hào sơ là hào Phụ Mẫu Tị hỏa động, nên ứng vào ngày Tị sẽ có mưa. Nhưng đến ngày Quý Tị, trời nắng chang chang. Lúc ấy có người bạn họ Địch ngồi cùng, cũng biết về Dịch lý, bèn bảo anh ta xem hôm nay có mưa hay không.
Ngày Quý Tị tháng Ngọ, xem được quẻ Ký Tế biến Trạch Hỏa Cách:


(Quẻ gốc bản cung thuộc Thủy; Không Vong: Ngọ, Mùi.)
Ta nói rằng: "Đến giờ Thân hôm nay sẽ có mưa." Anh Địch bèn nói: "Hào Thân là hào Phụ tuy động, nhưng bị Nguyệt kiến, Nhật thần khắc, huống chi Tị hợp với Thân, hào Phụ bị hợp sẽ không thể mưa được, như vậy mưa từ đâu mà đến?" Ta đáp: "Không phải thế! Nhất định sẽ có mưa lớn!"
Quả nhiên vào khoảng giờ Thân giờ Dậu đổ mưa rào sấm sét. Ngày hôm sau, anh Địch hỏi tôi rằng: "Bị Nguyệt kiến, Nhật thần khắc, mà vẫn đoán là có mưa to, sao lại có chuyện thần kỳ như thế?" Ta bèn đáp rằng: "Tôi không chỉ xem một quẻ hôm qua, mà vào ngày Sửu đã từng gieo một quẻ, vốn đã xem được ngày Tị ắt có mưa. Nên tôi khấn thần linh rằng: "Quẻ trước xem được ngày hôm nay sẽ có mưa, vậy ngày hôm nay có mưa thật không?" Thần liền mách nước cho tôi rằng: "Giờ Thân hôm nay sẽ có mưa", nên không cần để ý đến khắc, hợp nữa. Cũng giống như ví dụ trước, đoán về người đi xa, khi người con hỏi: "Cha tôi bao giờ sẽ trở về?" Thần linh bèn đáp: "Ngày Mùi sẽ về đến nơi", không cần quan tâm đến Chân Không nữa."
Phàm là xem quẻ Dịch, ắt phải cùng với quỷ thần khớp hợp cơ trời, không nên chấp nê, cứng nhắc. Ta được cách xem nhiều lần, tuy chưa thể cùng quỷ thần khớp hợp cơ trời, cũng có thể lĩnh ngộ được phần nào thần cơ của quỷ thần.
Lý Ngã Bình bàn rằng: Không Vong là điều kỳ diệu khó đoán của quỷ thần. Có lúc ngỡ là có mà lại không, ngỡ là không mà lại có; có cái Không hoàn toàn mà không còn Không nữa. Nên phải xem hai quẻ, hợp lại để quyết đoán, mới có thể thấu triệt thần cơ của quỷ thần. Cái lý của trời đất đều sinh ra từ không, nên gọi là "huyền không dĩ đãi" (lờ lửng trong không để chờ đợi). Khi xem quẻ mà gặp Không, không nên lập tức coi đó là Không, mà cần xem xét việc cần xem là gần hay xa. Nếu là việc trong tuần thì là Không. Nhưng cũng có ngày xung Không, thực Không, nên nếu là việc sang tuần khác, thì đoán rằng sẽ ứng nghiệm vào ngày xuất Không. Nếu xem về đại sự, việc lâu dài, thì chưa thể định được thời gian, không phải là cứ ra khỏi tuần đó sự sẽ thành. Nếu đại tượng không tốt, có thể coi đó là Không triệt để; nếu đại tượng là tốt, đợi gặp Nguyệt kiến hoặc Thái Tuế có thể điền thực. Nhưng tốt nhất nên xem thêm để xem gộp hai quẻ, mới là diệu pháp.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
