Bài tổng quan
Viêm tuyến vú và tăng sinh vú qua Thanh Long, Chu Tước, Câu Trần
Bầu vú trong quẻ Lục hào không có một chỗ cố định, nó nằm ở cung Cấn, ở hào bốn hào năm, ở Tử tôn và ở nơi Thê tài trường sinh. Gom bốn lối ấy lại, một vú sưng đỏ và một vú có khối khác nhau ở đâu?
Viêm tuyến vú là tình trạng nhiễm trùng mưng mủ cấp tính của bầu vú, thường gặp ở phụ nữ sau sinh. Lúc đầu vú sưng và đau, da bên ngoài đỏ và nóng, người phát sốt. Nếu chữa không kịp thời, triệu chứng nặng dần, nặng thì thành khối cứng và khối ấy tiếp tục lớn lên. Trong quẻ Lục hào, bệnh ở vú hiện ra theo bốn hướng, và hiểu bốn hướng ấy thì các quẻ sau mới dễ đọc.
Bốn hướng để nhận ra bệnh vú trong quẻ
Cung của quẻ
Cấn là cung của bầu vú, nên quẻ thuộc cung Cấn hoặc có Cấn trong quẻ biến rất đáng chú ý. Cung Ly cũng liên quan khá chặt với bệnh vú.
Ngôi hào
Hào bốn và hào năm gắn bó nhất, vì cả hai đều là vùng ngực, nơi bầu vú sinh trưởng.
Lục thân
Tử tôn đại diện cho bầu vú. Nhìn từ địa chi, Thê tài tượng trưng cho sữa, cho nên nơi Thê tài trường sinh, nơi Thê tài gặp hợp, và mộ khố của Thê tài đều có thể là vú.
Lục thú
Thanh Long gắn với bầu vú vì Thanh Long chủ ăn uống, chủ nuôi dưỡng. Chu Tước thường nói về viêm. Câu Trần nói về sự tăng sinh, về khối u.
Viêm tuyến vú và sáu lá quẻ tăng sinh
Thế lâm Thanh Long bị ngày khắc, nguyên thần lâm Chu Tước bị hỏa khắc
Ngày Kỷ Mùi tháng Ngọ, tuần không Tý Sửu, một người phụ nữ hỏi bệnh, được Trạch Hỏa Cách. Lấy Thế làm dụng thần.
- Hào sáu: Câu Trần, Quan quỷ Đinh Mùi Thổ, vạch âm, tĩnh.
- Hào năm: Chu Tước, Phụ mẫu Đinh Dậu Kim, vạch dương, tĩnh.
- Hào bốn: Thanh Long, Huynh đệ Đinh Hợi Thủy, vạch dương, tĩnh, mang Thế.
- Hào ba: Huyền Vũ, Huynh đệ Kỷ Hợi Thủy (phục dưới là Thê tài Mậu Ngọ Hỏa), vạch dương, tĩnh.
- Hào hai: Bạch Hổ, Quan quỷ Kỷ Sửu Thổ, vạch âm, tĩnh.
- Hào một: Đằng Xà, Tử tôn Kỷ Mão Mộc, vạch dương, tĩnh, mang Ứng.
Thế ở hào bốn là Hợi thủy, lâm Thanh Long, lại bị ngày Mùi thổ khắc. Hào bốn là vùng ngực, Thanh Long gắn với ăn uống, nuôi dưỡng, nên bầu vú có vấn đề. Kỵ thần là Mùi thổ hợp với Thê tài Ngọ hỏa đang phục dưới hào ba, mà Thê tài là sữa, nên tin ấy càng chỉ thẳng về vú. Cần để ý rằng quẻ không có hào nào động, bệnh hiện ra hoàn toàn bằng thế đứng của các hào và các thần. Nguyên thần của Thế là Dậu kim ở hào năm, lâm Chu Tước, đứng giữa tháng Ngọ nên bị hỏa khắc. Chu Tước là thần của viêm, lửa lại đang đốt kim, nên người xem quẻ kết luận đây là viêm tuyến vú chứ chưa phải khối u. Chu Tước là thần của viêm, còn Câu Trần là thần của khối, và hai thần ấy là chỗ phân biệt viêm với tăng sinh.
Thực tế bầu vú tiết ra dịch, ngoài ra người này còn có kinh nguyệt không đều. Dịch tiết ra là dấu hiệu của viêm, hợp với hình tượng Chu Tước bị lửa khắc.
Hào năm Quan quỷ hóa tiến thần là nơi trường sinh của Thê tài
Ngày Đinh Sửu tháng Tý, tuần không Thân Dậu, đây là quẻ lấy từ việc một người hỏi quan vận, rồi diễn thêm bằng phép tách quẻ để hỏi thân thể của người vợ, được Lôi Thủy Giải biến Đoài vi trạch. Lấy Thế làm dụng thần.
- Hào sáu: Thanh Long, Thê tài Canh Tuất Thổ, vạch âm, tĩnh.
- Hào năm: Huyền Vũ, Quan quỷ Canh Thân Kim, vạch âm, động, biến thành Quan quỷ Đinh Dậu Kim, mang Ứng.
- Hào bốn: Bạch Hổ, Tử tôn Canh Ngọ Hỏa, vạch dương, tĩnh.
- Hào ba: Đằng Xà, Tử tôn Mậu Ngọ Hỏa, vạch âm, tĩnh.
- Hào hai: Câu Trần, Thê tài Mậu Thìn Thổ, vạch dương, tĩnh, mang Thế.
- Hào một: Chu Tước, Huynh đệ Mậu Dần Mộc (phục dưới là Phụ mẫu Canh Tý Thủy), vạch âm, động, biến thành Tử tôn Đinh Tỵ Hỏa.
Thế lâm Câu Trần. Quan quỷ ở hào năm động hóa tiến thần, mà vị trí ấy lại là nơi trường sinh của Thê tài, nên Quan quỷ chính là bệnh. Hào bốn là Tử tôn Ngọ hỏa bị tháng Tý xung phá; Tử tôn là bầu vú, hào bốn cũng là bầu vú, hai chữ "vú" chồng lên nhau mà lại cùng bị phá, nên người xem quẻ phán là tăng sinh tuyến vú. Quẻ này vốn được diễn ra từ một câu hỏi về quan vận, nghĩa là bệnh của người vợ tự lộ ra từ quẻ khác, và Thế lâm Câu Trần là nét báo trước của khối tăng sinh.
Thực tế người này bị tăng sinh tuyến vú, ngoài ra còn thiếu máu, đau răng, bệnh cước khí, huyết áp thấp và u cơ tử cung. Bệnh vú chỉ là một trong nhiều bệnh đồng thời, nên không phải mọi tin xấu trong quẻ đều dồn về một chỗ.
Thế bị ngày khắc, hào năm nguyên thần lâm Câu Trần nguyệt phá, lại hợp Thê tài
Ngày Tân Tỵ tháng Thìn, tuần không Thân Dậu, đây là quẻ lấy từ việc bạn của người chồng hỏi tài vận, rồi diễn ra để hỏi một người phụ nữ ngày mai tự mình phẫu thuật cát hay hung, được Thủy Sơn Kiển biến Địa Lôi Phục. Lấy Thế làm dụng thần.
- Hào sáu: Đằng Xà, Tử tôn Mậu Tý Thủy, vạch âm, tĩnh.
- Hào năm: Câu Trần, Phụ mẫu Mậu Tuất Thổ, vạch dương, động, biến thành Tử tôn Quý Hợi Thủy.
- Hào bốn: Chu Tước, Huynh đệ Mậu Thân Kim, vạch âm, tĩnh, mang Thế.
- Hào ba: Thanh Long, Huynh đệ Bính Thân Kim, vạch dương, động, biến thành Phụ mẫu Canh Thìn Thổ.
- Hào hai: Huyền Vũ, Quan quỷ Bính Ngọ Hỏa (phục dưới là Thê tài Đinh Mão Mộc), vạch âm, tĩnh.
- Hào một: Bạch Hổ, Phụ mẫu Bính Thìn Thổ, vạch âm, động, biến thành Tử tôn Canh Tý Thủy, mang Ứng.
Thế ở hào bốn bị ngày Tỵ khắc. Hào năm Tuất thổ là nguyên thần, bị tháng Thìn xung phá, lại lâm Câu Trần và hợp với Thê tài. Hào năm và hào bốn đều là vị trí của bầu vú, Câu Trần chủ tăng sinh, hợp với Thê tài là tin về sữa, về vú, nên phán đó là u tuyến vú cần phẫu thuật. Người hỏi là người sắp lên bàn mổ, nên việc đầu tiên là xác định bệnh nằm ở đâu, rồi mới nói đến cuộc mổ.
Thực tế ngày hôm sau người này đúng là phải mổ vú, đúng với hình tượng u phải cắt đi. Ngoài ra dạ dày cũng không tốt, năm 2000 từng cắt tử cung vì u cơ, và còn bị ù tai.
Nguyên thần Tử tôn bị ngày khắc rồi hóa hồi đầu khắc
Ngày Nhâm Thìn tháng Mão, tuần không Ngọ Mùi, một người phụ nữ tự hỏi bệnh của mình, được Trạch Thủy Khốn biến Sơn Thủy Mông. Lấy Thế làm dụng thần.
- Hào sáu: Bạch Hổ, Phụ mẫu Đinh Mùi Thổ, vạch âm, động, biến thành Thê tài Bính Dần Mộc.
- Hào năm: Đằng Xà, Huynh đệ Đinh Dậu Kim, vạch dương, động, biến thành Tử tôn Bính Tý Thủy.
- Hào bốn: Câu Trần, Tử tôn Đinh Hợi Thủy, vạch dương, động, biến thành Phụ mẫu Bính Tuất Thổ, mang Ứng.
- Hào ba: Chu Tước, Quan quỷ Mậu Ngọ Hỏa, vạch âm, tĩnh.
- Hào hai: Thanh Long, Phụ mẫu Mậu Thìn Thổ, vạch dương, tĩnh.
- Hào một: Huyền Vũ, Thê tài Mậu Dần Mộc, vạch âm, tĩnh, mang Thế.
Nguyên thần là Tử tôn Hợi thủy ở hào bốn, bị ngày Thìn khắc, rồi lại hóa ra Tuất thổ là hồi đầu khắc. Tử tôn là bầu vú, hào bốn là ngôi hào của vú, và Hợi cũng là nơi trường sinh của Thê tài, nên bầu vú có bệnh. Hào ấy lâm Câu Trần, nghĩa là tăng sinh tuyến vú. Cả ba lớp tin, tức là Tử tôn, ngôi hào bốn và nơi trường sinh của Thê tài, cùng trỏ về một chỗ nên lời đoán được giữ rất chắc. Điều đáng ghi nhận là Tử tôn bị khắc hai lần, một lần do ngày và một lần do hóa hồi đầu, nên bệnh ở vú là bệnh có tiến triển chứ không phải một dấu vết ngẫu nhiên.
Thực tế đúng là tăng sinh tuyến vú. Người xem quẻ bảo cô bỏ đá vào cốc nước và đặt ở hướng Tây Bắc, sáu ngày sau bệnh đã được hóa giải và khỏi.
Thế bị nguyệt phá, nguyệt vừa phá Thế vừa hợp Thê tài
Ngày Bính Thìn tháng Mùi, tuần không Tý Sửu, một người phụ nữ hỏi bệnh, được Địa Hỏa Minh Di biến Thủy Hỏa Ký Tế. Lấy Thế làm dụng thần.
- Hào sáu: Thanh Long, Phụ mẫu Quý Dậu Kim, vạch âm, tĩnh.
- Hào năm: Huyền Vũ, Huynh đệ Quý Hợi Thủy, vạch âm, động, biến thành Quan quỷ Mậu Tuất Thổ.
- Hào bốn: Bạch Hổ, Quan quỷ Quý Sửu Thổ, vạch âm, tĩnh, mang Thế.
- Hào ba: Đằng Xà, Huynh đệ Kỷ Hợi Thủy (phục dưới là Thê tài Mậu Ngọ Hỏa), vạch dương, tĩnh.
- Hào hai: Câu Trần, Quan quỷ Kỷ Sửu Thổ, vạch âm, tĩnh.
- Hào một: Chu Tước, Tử tôn Kỷ Mão Mộc, vạch dương, tĩnh, mang Ứng.
Thế ở hào bốn bị tháng Mùi xung phá. Theo phép dời thần, Thế ứng vào Sửu thổ lâm Câu Trần, và tháng xung phá Thế cũng chính là tháng hợp với Thê tài. Vì thế đây là tăng sinh tuyến vú. Nói gọn lại, quẻ này không có Tử tôn nào lộ diện để chỉ vú, mà chỉ có hai nét: Thế chịu phá ở hào bốn và tháng phá ấy đồng thời hợp vào Thê tài. Chừng ấy đã đủ, vì hào bốn là vùng ngực và Thê tài là sữa.
Thực tế người này bị tăng sinh tuyến vú, ngoài ra còn viêm khớp do phong thấp và u cơ tử cung.
Thế mang Tử tôn nguyệt phá lâm Câu Trần, nhưng hào ba còn thấp
Ngày Giáp Tuất tháng Dần, tuần không Thân Dậu, một bà cụ hỏi về thọ mệnh, được Phong Sơn Tiệm biến Càn vi thiên. Lấy Thế làm dụng thần.
- Hào sáu: Huyền Vũ, Quan quỷ Tân Mão Mộc, vạch dương, tĩnh, mang Ứng.
- Hào năm: Bạch Hổ, Phụ mẫu Tân Tỵ Hỏa (phục dưới là Thê tài Bính Tý Thủy), vạch dương, tĩnh.
- Hào bốn: Đằng Xà, Huynh đệ Tân Mùi Thổ, vạch âm, động, biến thành Phụ mẫu Nhâm Ngọ Hỏa.
- Hào ba: Câu Trần, Tử tôn Bính Thân Kim, vạch dương, tĩnh, mang Thế.
- Hào hai: Chu Tước, Phụ mẫu Bính Ngọ Hỏa, vạch âm, động, biến thành Quan quỷ Giáp Dần Mộc.
- Hào một: Thanh Long, Huynh đệ Bính Thìn Thổ, vạch âm, động, biến thành Thê tài Giáp Tý Thủy.
Tử tôn mang Thế, lâm Câu Trần, lại bị tháng Dần xung phá. Tử tôn là bầu vú, Câu Trần là tăng sinh, nhưng chỉ chừng ấy tin thì chưa đủ, vì hào ba đứng còn thấp, chưa phải vị trí của ngực. Nguyên thần ở hào bốn lại hóa hồi đầu hợp, tức là tham hợp quên sinh, không còn lo sinh cho Thế. Thêm vào đó quẻ thuộc cung Cấn, cung của bầu vú. Khi các nét ấy ghép lại, tin tăng sinh tuyến vú mới thật rõ ràng.
Thực tế bà cụ bị tăng sinh tuyến vú, ngoài ra còn ù tai, nghe không rõ. Dù người hỏi hỏi thọ mệnh, bệnh ở thân vẫn lộ ra qua quẻ.
