Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Trạch Hỏa Cách: giữa đầm có lửa, thay cũ đổi mới phải hợp thời, hợp lòng người

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202614 phút đọc0 lượt đọc
Trạch Hỏa Cách: giữa đầm có lửa, thay cũ đổi mới phải hợp thời, hợp lòng người

Con hổ đổi lông không cần bói trước, vì dân đã tin từ lúc chưa đi. Nhưng cũng có người dựng nghiệp xong rồi mà không chịu dừng, đi nữa thì thân bị đày, danh bị hủy... Đổi mới đến mức nào là vừa, và nhờ chữ nào mà việc lớn mới thành?


Cách là đổi mới: giữa đầm có lửa

Quẻ số bốn mươi chín là Trạch Hỏa Cách, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng hai. Cách nghĩa là cải, là thay đổi mạnh mẽ, thay cũ đổi mới. Trên là Đoài, là đầm, là nước; dưới là Ly, là lửa. Giữa đầm có lửa, nước và lửa tranh nhau như cũ tranh với mới, nên gọi là Cách.

Trạch trung hữu hỏa, Cách. Quân tử dĩ trị lịch minh thời.

Lời Tượng nói giữa đầm có lửa là quẻ Cách. Người quân tử nhìn đó mà sửa trị lịch pháp để làm sáng tỏ sự thay đổi của bốn mùa.

Người sinh vào tháng hai gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng việc đời vốn vất vả, tuy lo cũng chẳng ngại gì; đổi thay cũ mới phải sao cho hợp lý, tùy nghi mà làm. Lợi tìm về phía Đông Nam, còn phương Tây Bắc thì đừng nhắm mà đi.

Nước tắt lửa, lửa cạn nước: phải lâu ngày người ta mới tin

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói thay đổi thì phải lâu ngày người ta mới tin được; phải hanh thông, hợp chính đạo thì người ta mới phục. Được vậy thì không phải ăn năn. Theo hình tượng quẻ, đầm là Đoài ở trên, lửa là Ly ở dưới; lửa đốt thì nước cạn, nước xối vào thì lửa tắt; hai thứ đó tranh nhau thì có sự thay đổi, cho nên gọi là quẻ Cách.

Lại có thể giảng: Đoài là con gái út, Ly là con gái giữa, họ có xu hướng khác nhau, con gái út nghĩ tới cha mẹ, con gái giữa nghĩ tới chồng, nên có sự thay đổi, không thể như vậy mà ở chung với nhau được. Thay cũ đổi mới là một việc khó, ngược với thói quen thủ cựu của con người, cho nên mới đầu người ta không tin, cho là đa sự. Muốn cho người ta tin thì phải một thời gian lâu để người ta thấy kết quả. Mà muốn có kết quả, sự cải cách phải hợp thời, hợp chính đạo, phải sáng suốt, soi xét rạch ròi và có tính hòa duyệt, thỏa thuận với lòng người thì mới đắc nhân tâm mà người ta không phản kháng. Sáng suốt là đức của quẻ nội Ly, hòa duyệt là đức của quẻ ngoại Đoài. Có đủ những điều kiện đó: hợp thời, hợp chính đạo tức là thích đáng, chính đáng, sáng suốt và hòa duyệt thì không phải ăn năn.

Vua Thang diệt Kiệt, vua Vũ diệt Trụ, hai cuộc cách mạng đó đều thuận với đạo Trời, tức chính đạo, và ứng với lòng người, tức hợp thời, hợp nguyện vọng nhân dân, cho nên thành công. Trời đất phải thay đổi mới có bốn mùa, mà vạn vật mới sinh sinh hóa hóa. Việc đời lâu lâu cũng phải cải cách để trừ những tệ nạn cũ mà thích hợp với hoàn cảnh mới.

Phan Bội Châu phụ chú: lời Thoán các quẻ ít thấy chữ ăn năn, duy đến quẻ Cách mới thấy chữ ăn năn, tức hối vong. Bởi vì trong thiên hạ không gì dễ hơn việc cách, cũng không gì khó hơn việc cách. Cách mà đáng thì vẫn không sợ gì; lỡ ra cách mà không đáng thì chẳng những hiện tại đã nhiều nỗi khó khăn, lại gây mầm họa cho tương lai, thêm cản trở con đường tiến bộ, thật ăn năn không biết chừng nào. Huống gì sự thế đã đến lúc thất bại, dẫu ăn năn cũng có ích gì. Vậy nên lời quẻ hết sức trịnh trọng nói về quẻ Cách, mà kết thúc bằng hai chữ ăn năn.

Hào sơ cửu: bó chặt bằng da bò vàng, chưa phải lúc đổi

Hào dương. Dùng sự bền chặt của da con bò màu vàng. Chưa phải thời, còn phải chờ, nên giữ cái cũ và chờ thời. Mọi việc chưa gặp thời vận, chớ vội thay đổi mà gặp tội.

Củng dụng hoàng ngưu chi cách.

Hà Lạc nói không có nhiệm vụ làm đổi mới cuộc sống thì không cải cách.

Nguyễn Hiến Lê giảng: người nào muốn làm cải cách lớn thì phải có thời, tức hợp thời, có địa vị, có tài. Hào một này mới ở vào buổi đầu của thời Cách, còn lỡ dở, thế là chưa có thời, địa vị lại thấp, tuy dương cương nhưng bất trung, thế là tài đức còn kém, trên không có người ứng viện vì hào bốn cũng là dương; làm việc cải cách tất hỏng. Chỉ nên giữ vững, tức bó chặt bằng đạo trung, đạo trung là màu vàng; thuận là đức của loài bò, thì mới khỏi bị lỗi.

Người mệnh hợp cách tuy có tài nhưng sự nghiệp bị cản trở nhiều, an thường thủ phận, đợi thời. Người mệnh không hợp cách thì phận nhỏ mọn, hay chắp nhặt, tuy không tai họa nhưng cũng thô thiển, dối trá, xấu hổ.

Về vận hạn: quan chức nên giữ chỗ; giới sĩ giữ phận, chưa nên cầu tiến vội; người thường nên cần thủ, đừng làm bừa. Câu thơ của hào nói kiên tâm giữ bản phận mình, tính điều lợi nhỏ, đừng hành động vội.

Hào lục nhị: đến ngày chín muồi mới đổi, tiến lên thì tốt

Hào âm, hào tốt. Hết ngày, tức thời cũ đã chín muồi, bèn liệu biến cách đi, tiến lên thì tốt, không lỗi gì. Hào hai âm vừa trung vừa chính, lợi cho cải cách bắt đầu, không lợi cho bảo thủ.

Dĩ nhật, nãi cách chi, chinh cát, vô cữu.

Hà Lạc nói cứ bình tĩnh xem thời thì biến đổi mới đúng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này nhu thuận, đắc trung đắc chính, ở giữa quẻ nội Ly là sáng suốt, ở trên có hào năm dương cương trung chính, vị cao, ứng viện cho, đủ tư cách, hoàn cảnh thuận tiện để cải cách, vì vị hai này là lúc cơ hội cải cách đã tới. Cho nên cứ việc mà đi, miễn là chuẩn bị cho kỹ để người trên kẻ dưới đều tin mình.

Phan Bội Châu phụ chú: hào hai âm với hào năm dương là hai hào rất tốt ở quẻ Cách, mà lại đồng đức ứng với nhau, đức xứng theo vị, vị xứng theo tài, tài lại đúng theo thời. Nhưng lời hào còn có câu chuẩn bị lâu ngày rồi liệu cải cách đi, tỏ ra một cách rất cẩn trọng. Vậy mới biết cách là một việc rất cần yếu trong xã hội, lại là một việc rất gian nan. Khi chưa nên cách mà chưa cách như hào sơ dương, chính là đang buổi ngấm ngầm nuôi sức mà chờ ngày cất cánh. Khi đáng cách mà cách, tất phải như hào hai âm, đủ ngón kinh quyền mới khỏi thất bại. Huống gì hào sơ dương thời thế chưa thành thục, mà tài đức với vị còn thua hào năm với hào hai xa. Than ôi, cánh mỏng mà muốn bay cao, chân ngắn mà muốn bơi bể, chẳng nguy hiểm lắm hay sao. Nên thánh nhân không dám khinh dị nói cách mệnh.

Người mệnh hợp cách biến cải đúng thời cơ, hợp lòng dân, sáng tạo, thiết chế, sửa sang một thời mà ảnh hưởng đến đời sau. Người mệnh không hợp cách cũng trung hậu, xử sự đúng phép, biết cải cách những tục cũ để xây dựng quy mô mới tốt đẹp.

Về vận hạn: quan chức và giới sĩ thay đổi, thành danh; người thường có nhiều việc vui mừng. Câu thơ của hào nói gặp thời đừng ngại biến canh, tiến trình mở rộng, cát hanh có thừa.

Hào cửu tam: tiến hành thì xấu, bàn ba lần mới đáng tin

Hào dương, hào bình. Tốt nếu biết cân nhắc, suy tính kỹ trước khi làm; xấu nếu thiếu thận trọng, làm bừa. Thời long đong vất vả, ốm đau, bệnh hoạn. Tiến hành thì xấu, dù chính cũng nguy, vì hào ba táo bạo; phải sắp đặt việc biến cách đến ba lần thì mới chắc chắn đáng tin.

Chinh hung, trinh lệ; cách ngôn tam tựu, hữu phu.

Hà Lạc nói cải cách thường hay nóng nảy; phải thẩm tra, xem xét thật kỹ lưỡng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, bất trung, có tính nóng nảy, muốn làm liều, hăng hái tiến tới, hỏng việc. Phải giữ vững đạo chính, thận trọng, lo lắng; phải sắp đặt, tính toán kế hoạch đến ba lần, chắc không có gì khuyết điểm thì kết quả mới chắc chắn.

Người mệnh hợp cách thong dong xem thời, liệu mà biến cách, bỏ những tệ hại cũ, đổi mới, khiến quân chúng hợp sức lại, được đời sau ngưỡng mộ. Người mệnh không hợp cách khinh suất, hành động càn, thành ít bại nhiều, nan trắc, gian truân, dễ bị tan tác.

Về vận hạn: quan chức khinh động, mất chính trị, bị giáng truất hạ; giới sĩ phải thi lại đến ba lần; người thường phân tán khó yên, xấu thì yểu chiết. Câu thơ của hào nói cách rồi bỏ mất thì hoài, muôn điều phải tính đường dài viễn chinh.

Hào cửu tứ: hết ăn năn, có lòng tin thì sửa đổi mệnh cũ là tốt

Hào dương, hào tốt. Hết ăn năn rồi, có đức chí thành, sửa đổi những mệnh lệnh, phương pháp cũ thì tốt. Hào này dương ở vị âm, cương nhu có đủ, có thể cải đổi cái cũ.

Hối vong, hữu phu, cải mệnh, cát.

Hà Lạc nói có dân đồng tâm hiệp lực thì cách mệnh, đổi mới được.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương ở vị âm, đáng lẽ có điều ăn hận, nhưng ở vào thời cải cách không nên cương quá, cho nên tính cương mà vị nhu, vừa cương vừa nhu là tốt, không phải ân hận. Nếu có đủ lòng chí thành khiến người trên kẻ dưới đều tin mình thì cứ tiến hành việc cách mệnh. Tốt.

Người mệnh hợp cách mưu cao, chí lớn, làm được cuộc cách mệnh hợp lý, hợp tình; chữ mệnh còn là dấu hiệu thọ mệnh. Người mệnh không hợp cách cũng là người trung hậu, làm việc có kế hoạch, rời tổ lập nghiệp ở xa; kiên trì giữ chí, trước khó sau dễ.

Về vận hạn: quan chức thăng chuyển; giới sĩ được tiến cử; người thường được tăng tiến đẹp đẽ, nhiều sự đổi mới. Câu thơ của hào nói kịp thời cách cổ đỉnh tân, gió đông tin đến, sắc xuân leo lầu.

Hào cửu ngũ: bậc đại nhân như hổ thay lông, chưa bói đã có lòng tin

Hào dương, hào tốt. Hào này là ngôi cửu ngũ, chỉ bậc chí tôn. Nhờ bậc đại nhân, tức nhà cách mệnh chân chính lãnh đạo, mà như cọp thay lông đổi vẻ, dân đổi mới; chưa cần xem gì, điềm trời hay bói toán, cũng đã sẵn có lòng tin tưởng.

Đại nhân hổ biến, vị chiêm hữu phu.

Hà Lạc nói cuộc cách mệnh đúng, hợp lòng dân.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này có đủ cả thời, vì công cuộc cải cách đã được tám chín phần mười rồi; có đủ vị, vì ở ngôi chí tôn; đủ tài đức, vì dương cương, trung chính, đúng là một đại nhân; cho nên thành công mỹ mãn, làm cho xã hội thay đổi, tốt đẹp, mới mẻ lên như con hổ thay lông, dân chúng sẵn lòng tin như vậy từ khi chưa bói.

Phan Bội Châu phụ chú: chưa cần bói ở hào này giống như vua Thành Thang khi chưa đánh Hạ đuổi Kiệt mà quân của vua Thang đi đến đâu thì nhà nhà reo mừng, bảo với nhau rằng chờ vua ta, vua tới thì ta sống lại. Lại như vua Lê Thái Tổ nước ta, khi chưa về tới Thăng Long mà quân đi tới đâu, từ Tân Bình đến Nghệ Thanh, tất thảy trống cờ đón rước. Cách mạng mà được như thế, còn chờ gì phải bói mới biết là tin.

Người mệnh hợp cách tài đức xuất chúng, làm được cuộc cách mệnh lớn để đời sau noi theo. Người mệnh không hợp cách cũng cao giá trị, thấy việc hồ đồ thì không giữ chủ trương theo.

Về vận hạn: quan chức vinh thăng; giới sĩ được tiến cử lên cao; người thường biến thông có lợi, duy kẻ sĩ hèn mọn và nữ mạng không hợp. Câu thơ của hào nói cải cách phải hợp lòng dân, làm đâu được đấy, khỏi cần bói quy.

Hào thượng lục: báo đổi vằn, tiểu nhân đổi mặt, đi nữa thì xấu

Hào âm, hào bình. Người quân tử đổi như con báo thay vằn, kẻ tiểu nhân đổi bề mặt; đi nữa thì xấu, cứ giữ chính bền thì tốt. Hào cuối cùng có cái cách, nên củng cố kết quả, không nên cải cách quá mức sẽ xấu.

Quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện, chinh hung, cư trinh cát.

Hà Lạc nói cách mệnh đã thành công, giữ chính đạo.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở cuối cùng thời Cách, công việc cải cách đã xong. Kết quả là hạng người từ bậc trung trở lên, sáng suốt tức quân tử, thực tâm tự thay cũ mà theo mới; còn người tư cách thấp kém tức tiểu nhân chỉ thay đổi bề ngoài thôi. Như vậy là kết quả tốt đẹp rồi, đừng cải cách hoài nữa mà sinh hậu họa, nên giữ chính đạo.

Phan Bội Châu chê Nã-phá-luân khi lập nên quân chủ của Pháp, khai quốc hội, lập hiến pháp rồi mà không chịu ngừng lại, còn xưng đế, rồi muốn chinh phục châu Âu nữa, kết quả thân bị đày, danh bị hủy. Ông cũng chê Viên Thế Khải đánh đổ Mãn Thanh, dựng Trung Hoa dân quốc là cách đã thành rồi mà còn ham muốn cao, dựng triều đình mới, kết quả thân danh đều mất. Nã-phá-luân và Viên ứng với câu đi nữa thì xấu. Lại khen Hoa Thịnh Đốn, tám năm huyết chiến, đánh đổ quân Anh, dựng chính thể hợp chủng dân chủ, nhường ngôi Tổng thống cho người khác, làm người dân thường, được người Mỹ tôn vinh là quốc phụ, đúng là giữ chính bền thì tốt.

Sáu hào quẻ này diễn đúng những giai đoạn từ bước đầu khó khăn đến lúc cải cách thành công. Phải có đủ những điều kiện: hợp thời, hợp đạo, có địa vị, có tài đức, sáng suốt, thận trọng, tức tính toán sắp đặt kế hoạch kỹ lưỡng ba lần, có lòng chí thành, tính hòa duyệt, được nhiều người tin thì làm công việc cải cách lớn mới được. Cần nhất là được lòng tin, chí công vô tư.

Phan Bội Châu phụ chú, nói rõ hơn nữa về chữ tin: cả trong lời quẻ Cách và các lời hào đều có chữ tin. Lời quẻ thì nói bền với lòng tin; trong lời sáu hào thì ba hào ba, bốn, năm đều có chữ có lòng tin. Chỉ có một chữ tin mà hồi đi nói lại định ninh thế. Xưa nay ở thời Cách, làm việc cách mà xã hội còn đương phân tán, lòng người còn nghi ngại, chưa lấy được lòng tin của đại đa số nhân dân mà vội nói làm cách mệnh, lịch sử cách mệnh chưa thấy lực lượng nào như thế mà làm nên cả. Chẳng nói đâu xa, gần đây có ông Muyts-ta-pha Kê-man ở Thổ Nhĩ Kỳ, ông Lê-nin ở Nga, sự nghiệp to lớn biết chừng nào, mà nhân tâm hai nước ấy tín phục hai ông biết chừng nào. Mới biết rằng đầu đuôi quẻ Cách mà chỉ nhắc đi nhắc lại có một chữ tin, thật là khuôn vàng thước ngọc cho nhà làm cách mệnh vậy. Than ôi, chân lý như vậy, công dụng kỳ diệu như vậy, Dịch học đâu phải là sách nói không. Ai sinh ở đời cách mệnh, làm việc cách mệnh, nên hấp thụ cho hết tinh thần quẻ Cách.

Người mệnh hợp cách trên tôn pháp luật, dưới tu tỉnh đạo đức, cải tiến văn hóa cho tốt đẹp. Người mệnh không hợp cách cậy thông minh, phạm pháp, làm xằng, mang họa.

Về vận hạn: quan chức nên thoái nhàn, hoặc tham gia văn hóa có tiếng; giới sĩ tiến lên; người thường trọng pháp luật, nên lo về việc miễn cưỡng cải cách, đeo tiếng thị phi. Câu thơ của hào nói mỗi phen thành là mỗi lần đổi thay.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc