Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Lôi Phong Hằng: sấm gió giúp nhau, bền lâu mà vẫn biết đổi thay

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Lôi Phong Hằng: sấm gió giúp nhau, bền lâu mà vẫn biết đổi thay

Trên cao sấm động, bên dưới gió theo sau, hai sức cùng giúp nhau mà chẳng sức nào lấn át. Người ta vẫn mong thứ gì cũng bền mãi, nhưng cái muốn bền nhất lại dễ gãy nhất khi không chịu đổi thay... Vậy giữ một điều cho lâu mà vẫn biết đổi, phải làm thế nào?


Hằng là bền lâu, nhưng bền không có nghĩa là đứng im

Quẻ số ba mươi hai là Lôi Phong Hằng, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Giêng. Hằng có nghĩa là lâu dài, bền vững, thường luôn, đương nhiên cứ thế. Trên là Chấn, là sấm; dưới là Tốn, là gió.

Lời Tượng nói sấm gió là quẻ Hằng. Người quân tử nhìn quẻ này mà giữ vững chỗ đứng của mình, không đổi phương hướng.

Về con số, người nào sinh vào những tuổi thuộc Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất, Tân Sửu, Tân Dậu, Tân Hợi mà gặp quẻ này thì rất tốt. Sinh vào tháng Giêng là cách công danh phú quý; sinh từ tháng chín đến tháng mười hai thì phúc kém hơn.

Sấm đi trước, gió theo sau

Nguyễn Hiến Lê giảng: cương là Chấn ở trên, nhu là Tốn ở dưới. Sấm và gió giúp sức nhau, Chấn động trước, Tốn theo sau, thế là thuận đạo. Lại thêm ba hào âm đều ứng với ba hào dương, cũng là nghĩa thuận nữa. Cả hai bên đều giữ được đạo chính, nên mới lâu dài được.

Phan Bội Châu chú thêm một ý rất đáng suy nghĩ: chữ Dịch, nghĩa là biến đổi, và chữ Hằng, nghĩa là bền lâu, có nghĩa tương đối với nhau. Nếu tuyệt đối biến đổi thì không làm sao ra bền lâu; nếu tuyệt đối bền lâu thì không làm sao ra biến đổi được. Vũ trụ xưa nay không có thứ gì tuyệt đối. Nếu chỉ có sáng tuyệt đối hay tối tuyệt đối thì không thành hình tượng của không gian. Mùa hạ nóng thì tất có mùa đông lạnh; nếu chỉ nóng mãi hay lạnh mãi thì không thành được một năm trong thời gian. Nhỏ từ thân một người, khi ngủ có khi thức, khi sống có khi chết; lớn đến xã hội thế giới, loạn lâu ngày phải trị, thịnh lâu ngày phải suy, cũng chỉ là những mặt tương đối thay đổi cho nhau, không thấy một thứ gì là tuyệt đối.

Vì vậy trong đạo Dịch, có Hằng thì phải có Dịch, mà có Dịch mới làm nên Hằng. Thánh nhân sợ người ta câu nệ ở chữ Hằng mà quên mất cái diệu lý ở chữ Dịch. Dịch với Hằng là cùng nhau làm nên nhau, chứ không phải là trái ngược nhau.

Phan Bội Châu giải thích lời Tượng: nói mọi vật phải theo thời, lúc nên ra thì ra, lúc nên ẩn thì ẩn, lại nói quân tử giữ vững chỗ đứng không đổi phương hướng, như vậy chẳng mâu thuẫn hay sao? Không phải. Đó chỉ là một gốc. Theo thời là nói về cách ứng xử; không đổi phương hướng là nói về nguyên tắc. Như tấm gương sáng treo lên, cái bản thể trong sáng không bao giờ thay đổi, chẳng phải là không đổi phương hay sao? Khi có vật gì soi tới, mặt gương hiện ra hình tương ứng, tròn thì hiện tròn, vuông thì hiện vuông, chẳng phải đó là nghĩa chữ Thời hay sao? Người học Dịch cần nhất là biết biến hóa.

Về dự báo, quẻ Hằng chỉ thời vận bền vững, ổn định, lâu dài. Đây là thời cơ thuận lợi để thi thố tài năng, mưu cầu sự nghiệp, dễ thành công nếu không đặt quá nhiều kỳ vọng. Tài vận khá, kinh doanh phát đạt; tìm được việc vừa ý; thi cử đạt kết quả đúng với thực lực; xuất hành thuận lợi; bệnh tật dễ khỏi; kiện tụng lợi ở chỗ hòa giải; tình yêu thuận lợi, hôn nhân được lâu bền.

Hào sơ lục: mới quen đã đòi thân thiết lâu dài

Hào bình. Mong được thân mật lâu dài quá sớm, cứ quyết như vậy mà không chịu bỏ thì xấu, làm việc gì cũng không thuận lợi. Toán Hà Lạc nói đó là cố chấp, không liệu thời thế, chẳng nên cứ giữ lối bền chặt như thế.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ứng với hào bốn, nhưng địa vị mình quá thấp mà địa vị hào bốn quá cao; hào bốn lại là dương cương, chỉ trông lên chứ không ngó xuống. Giữa còn có hào hai và hào ba ngăn cách. Vậy mà không biết phận, cứ lao sâu vào, mong được thân mật keo sơn lâu dài với người trên, thế là ngu. Cứ kiên cố cách ấy thì xấu.

Phan Bội Châu giảng lời Tượng: xấu vì cầu quá sâu mà mong quá bền; lúc mới quen sơ mà đã đòi hỏi quá thâm thì thất bại. Đời Hán có Giả Nghị mới bước chân lên triều mà đã toan gạt các công thần như Giáng Hầu, Quán Anh; đời Đường có Lưu Bôn mới đỗ tiến sĩ mà đã vội xin vua đánh đổ các phiên trấn. Đều là đúng với lời Tượng ấy.

Người mệnh hợp cách thì biết liệu xem tình giao thiệp thân hay sơ thế nào rồi mới cầu, đo thời thế nên làm hay không rồi mới làm, nhờ vậy đạt chí, toại ý, gặp được quý nhân; nhưng người theo đuổi cái vĩnh cửu thì khó thành đạt, biết đổi mới mới có thể thành công. Người mệnh không hợp cách thì chẳng biết phận mình, chẳng lường nông sâu, hễ động làm là trở ngại, trì trệ rồi thất bại; là người không hiểu thời thế, không biết lượng sức mình nên vất vả.

Về vận hạn: giới quan không được lòng cấp trên, viễn vông xa thực tế, khó thành sự nghiệp; kẻ sĩ khó gặp tri kỷ, không toại nguyện, giao tiếp khó khăn; người thường không hiểu nhân tình, cứ nhơn nhơn ngoài đường, tĩnh thì đỡ xấu. Đường thế lợi cách muôn tầm, vào sâu thêm hại, về nằm thì yên.

Hào cửu nhị: giữ đạo trung thì mất hết điều hối tiếc

Hào dương, hào tốt. Hối tiếc tiêu hết. Toán Hà Lạc nói giữ cho trung thì ít lỗi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương mà ở vị âm, đáng lẽ có điều hối hận; nhưng vì đắc trung, lại ứng với hào năm cũng đắc trung, thế là giữ được đạo trung nên không có gì phải hối tiếc.

Phan Bội Châu giảng: Dịch lý rất chú trọng chữ Trung, mà đạo Hằng lại càng quý trọng chữ Trung. Bởi Hằng là thường lâu, nếu bất trung thì không thể thường lâu được. Việc gì cũng vậy, thái quá hay bất cập đều không lâu dài được; chỉ có đắc trung mới bền.

Người mệnh hợp cách thấy điều thiện thì làm, có lỗi thì sửa, hưởng phú quý phúc nhà; là kẻ sĩ có tài đức, giữ được đạo trung chính nên phúc lộc lâu bền. Người mệnh không hợp cách cũng bình tĩnh, chẳng xấu, già không bệnh tật, sống lâu, tiếng trong sạch; là người ngay thẳng, khỏe mạnh.

Về vận hạn: giới quan cẩn thận, không sơ sài lỏng lẻo thì được tiếng tốt, giữ được cơ nghiệp, địa vị và được kính trọng; kẻ sĩ tôn sùng đạo đức tính cách; người thường cố thủ thì không bị hao tổn. Suốt đời giữ đạo trung ngay, còn gì hối tiếc, hàng ngày an vui.

Hào cửu tam: không giữ được cái đức bền, mang xấu hổ vào thân

Hào dương, hào xấu. Chẳng giữ được đức bền, có khi phải mang xấu hổ; dù chính đáng cũng đáng tiếc và thẹn. Toán Hà Lạc nói không giữ đức Hằng thì làm điều không thiện.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào dương ở vị dương là đắc chính, nếu thường giữ được đức chính ấy thì tốt. Nhưng vì quá cương mà bất đắc trung, lại theo đòi với hào trên cùng là âm nhu, thế là bỏ cái đức chính của mình để kết bạn với hào trên cùng, chưa biết chừng bị xấu hổ. Vậy hào ba tuy chính, chỉ vì không thường giữ được đức đó nên tuy chính mà vẫn đáng tiếc. Lời Tượng nói: người đã không thường giữ đức thì còn chỗ nào dung thân được nữa.

Người mệnh hợp cách mà vẫn dễ sơ hở để người chê cười; là người hay thay đổi chính kiến, dễ mắc sai lầm, bị chê cười, khó thăng tiến. Người mệnh không hợp cách thì hỏng nết, mất tiếng, khó dung thứ; là người xấu tính, dễ thay lòng đổi dạ, bị chê trách, không được tin dùng.

Về vận hạn: giới quan phòng bị giáng chức, chê cười, dễ bị kỷ luật; kẻ sĩ dễ làm liều, bị tai tiếng, bị nhục, hoặc không giữ bền được đức của mình mà thừa chi tu, tranh lận; người thường phòng kiện tụng, quấy rầy, nhục nhã. Sương gieo, cành xấu hoa gây, chẳng nên chịu tiếng bỏ trây đức hằng.

Hào cửu tứ: đi săn ở nơi không có chim muông

Hào dương, hào xấu. Đi săn mà không được cầm thú, vì hào không trung chính. Toán Hà Lạc nói: không phải chỗ mình thì không nên ở lâu; cứ ở mãi, giữ chỗ thì chẳng khác nào đi săn không được chim.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào dương mà ở vị âm là không phải chỗ của mình, vậy mà cứ ở lâu chỗ đó, vì quẻ này nói về sự lâu bền, thì chẳng nên việc gì, chỉ mất công thôi, như đi săn mà không bắt được cầm thú.

Phan Bội Châu chú thêm: hào hai dương và hào bốn dương cùng ứng xử không đúng với vị trí của bản thân mình, nhưng hào hai đắc trung nên được tốt, hào bốn không trung nên xấu. Mới biết có trung thì mới bền được.

Người mệnh hợp cách vẫn có thể dùng khéo léo để được lòng người trên, ham hưởng lộc vị, nhưng công danh sớm lui thì hơn; là người ham địa vị quyền lợi, muốn kéo dài hưởng thụ mà không làm nên công trạng gì. Người mệnh không hợp cách thì việc làm không thực sự, sinh nhai kém, hoặc làm nghề săn bắn; là kẻ cơ nhỡ, kiếm sống khó khăn, việc không ra việc.

Về vận hạn: giới quan thoái bộ, khó tiến, ít phúc lộc; kẻ sĩ khó thành đạt; người thường mưu tính tốn sức như người đi săn đến nơi không có chim muông. Chí không kiên, việc vụng về, cánh chim bạc gió, trăng kề giếng sâu.

Hào lục ngũ: giữ lòng thuận một mực, hợp với người này mà không hợp với người kia

Hào âm, hào bình. Giữ được thường, lấy đức của mình, bền mà chính. Đàn bà thì tốt, đàn ông thì xấu, vì là người không biết theo thời mà hành động.

Hằng kỳ đức, trinh, phụ nhân cát, phu tử hung.

Toán Hà Lạc nói: lấy đức nhu thuận mà giữ đạo Hằng, nhưng hễ làm đạo hằng quá đà thì không cho là lành, là thiện vậy.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào năm âm nhu, đắc trung, ứng với hào hai dương cương cũng đắc trung. Nếu cứ thuận tòng từ trước đến sau thì là bền mà chính đáng. Nhưng đó chỉ là đạo của đàn bà nhu thuận như hào năm âm này thôi; không hợp với đàn ông, vì theo quan niệm thời xưa, chồng xướng vợ theo. Lời Tượng nói: đàn ông phải chế ra nghĩa, tìm ra việc gì đáng làm thì làm; cứ một mực theo vợ thì xấu.

Phan Bội Châu bình: hai chữ chế nghĩa rất có ý vị. Nếu là người trí thức non, nghị lực kém, không chế được nghĩa thì thuận tòng đến cùng cũng là tốt rồi. Nhưng đã tự coi mình như bậc trượng phu thì trí thức phải cao, biến thông phải linh hoạt, tùy thời mà chế ra nghĩa: nghĩa nên dân chủ thì ta thờ dân, nghĩa nên xã hội thì ta thờ xã hội; điều gì đúng với nghĩa thì ta làm theo. Khổng Tử, Mạnh Tử đều có lời khuyên như thế. Nhưng hạng người chế ra được nghĩa phải là người trí thức cao, học vấn giàu, lịch duyệt sâu; nếu không phải bậc thánh nhân thì chưa chắc đã chế được nghĩa.

Người mệnh hợp cách có đức, hoặc được vợ hiền giúp sức; là người tài đức, biết đổi mới cho thích ứng với thời đại, tạo được sự nghiệp vẻ vang. Người mệnh không hợp cách thì quyền vào tay người khác, hoặc gặp vợ hung hãn, hại gia đạo; là kẻ nhu nhược không có thực quyền, bị vợ lăng loàn không chế được, bỏ lỡ thời cơ, làm hỏng việc, hoặc là kẻ a dua bị mọi người chê cười, khinh rẻ.

Về vận hạn: giới quan a dua quyền thế thì bị chê cười; kẻ sĩ tiến liều bị nhục; người thường không giữ được lòng thiện, bị hủy báng, bài xích. Nếu là phận gái thì ắt là tiết trinh, ướm thân cái bước tiền trình, âm lùi mong được đêm lành tạnh quang.

Hào thượng lục: sấm động mãi thì không còn gì bền

Hào âm, hào bình. Làm chấn động đạo Hằng thì xấu.

Chấn hằng, hung.

Toán Hà Lạc nói: cứ động hoài, lên cao mà không biết cố thủ, thế là không đúng đạo Hằng, không chịu yên thì xấu. Giữ được đạo bền bình thường là tốt; không giữ được bình thường lại làm chấn động quá mức cái bền vững là xấu.

Nguyễn Hiến Lê giảng: ở trên cùng quẻ Hằng và quẻ ngoại Chấn, nên nói là ham động quá. Lại là âm nhu, không bền chí, ở yên không được, sẽ thất bại. Quẻ này quan trọng ở hào năm, một lời khuyên là theo lý mà làm; đừng hành động càn.

Người mệnh hợp cách làm đúng lý thì không hỏng việc, hợp nghĩa thì không quá chức phận; là người biết đạo bền, đã đến cùng thì biến, không gây nên kinh động, tạo dựng được sự nghiệp. Người mệnh không hợp cách thì thích làm to, lập công mà trái phép lộng hành, chỉ thêm sụp đổ, thất bại; là người hiếu động, hay gây ồn ào bất ổn, dễ bị đổ vỡ, hay lộng hành tạo nên thất bại, hoặc thích khuếch đại công lao to hơn sự thật, gây chấn động, bất an.

Về vận hạn: giới quan hiếu động, cầu danh lợi nhỏ thì được, lớn thì uổng công; mệnh nữ không lợi cho chồng con. Máy động nhiều không ổn, đổi thay được thì không hung.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc