Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Khi nam khắc vợ: dấu hiệu bất hòa và những cuộc ly hôn ứng nghiệm

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Khi nam khắc vợ: dấu hiệu bất hòa và những cuộc ly hôn ứng nghiệm

Có những người đàn ông cưới ai cũng không giữ nổi, và có những cặp mà trước ngày cưới trời đã định sẵn sự bất hòa. Dấu hiệu ấy nằm quanh sao vợ, sao chồng chứ không nằm ở chuyện hai người có yêu nhau hay không. Một diễn viên nổi tiếng từng bước vào phòng xem số với câu mở đầu rằng mình không tin tướng số...


Có những người đàn ông cưới ai cũng không giữ nổi, và có những cặp mà trước ngày cưới trời đã định sẵn sự bất hòa. Trong Tứ trụ, những dấu hiệu ấy không nằm ở chuyện hai người có yêu nhau hay không, mà ở cách kình dương, tỉ kiếp, thương quan, kho mộ và các chi xung hình sắp đặt quanh sao vợ, sao chồng.

Dấu hiệu mệnh nam khắc vợ, hao tài

Tứ trụ có kình dương gặp tuế vận thì của cải hao tán, khắc vợ, hại con. Trong cục tài nhiều thì khắc vợ nặng, không có tài thì khắc nhẹ hơn. Người trong Tứ trụ vốn không có kình dương, đi vận gặp kình dương thì hao tài và khắc vợ con. Thân suy, tài vượng thì phá tài và tổn hại vợ. Nam gặp ngang vai, kiếp tài thì cũng phá tài, làm thương tổn vợ. Tài gặp mộ tuyệt thì vợ có bệnh hoặc tính nết không hiền, hoặc vợ đến tuổi cao vẫn còn tái giá. Tài gặp đào hoa, mộc dục thì vợ dễ bị người khác lôi cuốn.

Trong Tứ trụ có kiếp tài, kình dương thì khắc cha, làm tổn thương vợ, hao tán của cải. Thân vượng mà không có chỗ dựa thì tổn thương vợ. Thìn, tuất, sửu, mùi nhiều thì khắc vợ. Tài, quan cùng rơi vào tuần không hay vong thì tuổi trung niên mất con, khắc vợ, phải đi nơi khác kiếm ăn. Thê gặp thê thì hai lần hôn nhân. Sao thê mất lệnh thì ly hôn giữa chừng. Tứ trụ không có tài là người theo tăng đạo, khó có vợ có con. Trụ ngày không có tài thì xa lìa vợ. Hỏa mạnh, thổ khô thì thân cô đơn, vợ khỏe thì mình ốm.

Thân đóng ở ngang vai mà thành cục thì mấy lần làm chú rể. Cung thê hợp thành cục để khắc mình thì có vợ nhưng khó giữ. Cung thê bị hỉ thần xung thì tuy vợ đẹp nhưng khó bách niên giai lão. Lệnh tháng có tài đóng tuyệt địa thì vợ nội trợ kém. Gặp cả kình dương lẫn kiếp tài thì phải lấy vợ lần nữa. Trụ ngày và trụ giờ đều có thìn tuất xung nhau thì vừa có vợ lẽ vừa nằm không. Kình dương đóng ở trụ ngày thì vợ không hiền và hao tài. Tài yếu mà gặp kiếp thì ba vợ vẫn vất vả. Trụ ngày đóng thực thần lại gặp kiêu thì vợ thấp, người gầy ốm. Trụ ngày phạm hoa cái thì khắc vợ. Vong thần, thất sát thì khắc con, hình phạt vợ. Giáp, Ất, Bính, Đinh đứng liền nhau thì không lợi cho vợ. Tài yếu, thân vượng, tỉ kiếp nhiều thì khắc vợ liên miên.

Tài phục dưới chi thì có vợ lẽ hoặc tì thiếp. Thiên tài ở trụ giờ gặp tỉ kiếp thì vừa phá tổ nghiệp vừa làm tổn thương vợ. Tài tinh đã bị tỉ kiếp mà tuế vận còn gặp tỉ kiếp, thì năm ấy nếu không tổn tài, phá tài cũng sẽ bị kiện tụng. Thất sát, kình dương ở trụ ngày, trụ giờ mà gặp kiêu thần thì giữa đường gặp tổn thất. Tài ở tử, tuyệt, mộ địa thì cả đời phiêu bạt. Trạch mã đóng ở trụ ngày thì vợ nhiều bệnh hoặc lười biếng. Trụ năm và trụ ngày cùng một ngôi thì lấy vợ cùng tuổi mới đỡ khắc. Trụ ngày rơi vào hình địa thì vợ nhiều bệnh. Trụ ngày đóng mộc dục thì vợ đẹp nhưng khó tránh cãi vã.

Tài và ấn đều bị tổn thương thì khắc vợ, hại mẹ. Tài đóng ở cung khác thì lấy nghĩa nữ làm vợ. Thương và kiêu đều có thì con yếu, vợ ngu. Tài tuyệt ở cung tù thì muộn vợ, muộn con. Tài thịnh lại gặp nhiều tỉ kiếp thì đề phòng bị cướp vợ em. Trụ ngày gặp thất sát thì vợ hung bạo, sát chồng; can ngày vượng mà chi ngày là kình dương thì khắc vợ hoặc vì vợ mà phá sản. Can ngày yếu, tài tinh nhiều thì vợ không tuân phục chồng. Ngang vai hợp với chính tài thì vợ đoan trang nghiêm túc. Tài tinh gặp tỉ kiếp mà không được cứu thì dễ gặp tai ương, thậm chí vợ chết. Chi ngày là thất sát, lại có thiên ấn thì vợ nhiều mà đỡ ít. Chính tài và thiên tài đều vượng thì vợ cả, vợ lẽ bất hòa. Tỉ kiếp và nguyệt kiến vượng thì tuổi trẻ đã mất vợ. Tỉ kiếp, kình dương gặp hình thì thường chết nơi trần ai. Tứ trụ gặp cả suy và tử thì đến già vẫn sống cô đơn.

Nam nữ hợp nhau và chuyện hai người đối đầu

Hai người cùng bước vào một mái nhà mang theo hai lá số, và có những lá số không đứng yên cạnh nhau được.

Can chi của ngày giống nhau thì hao tổn tài, không lợi cho vợ chồng. Chi ngày gặp hình hoặc bị xung khắc thì nam không lợi cho vợ, nữ không lợi cho chồng. Trụ ngày bị thương quan thì vợ chồng không hòa, mình hay bị đối phương chửi. Nam gặp thương quan thì kết hôn hai lần; nữ gặp thương quan thì tái giá. Ngày có âm dương lệch nhau thì bất lợi cho hôn nhân, nam nữ gặp phải thì tất tái hôn; đó là các ngày Bính tí, Kỷ sửu, Mậu dần, Tân mão, Nhâm thìn, Quý tị, Bính ngọ, Đinh mùi, Mậu thân, Tân dậu, Nhâm tuất, Quý hợi.

Nam gặp tỉ kiếp tất tranh vợ, nữ gặp tỉ kiếp tất tranh chồng. Quan sát nhiều mà không gặp tài thì vợ nội trợ tốt nhưng không hòa thuận. Hai Mậu hợp với một Quý trong Tứ trụ thì phải lấy vợ hoặc chồng lần thứ hai. Tứ trụ thuần dương thì nam mất vợ, thuần âm thì nữ mất chồng. Ngày giờ đối xung thì vợ chồng bất hòa và không lợi cho con. Nam gặp kình dương thì lấy vợ hai lần; nữ gặp kình dương thì tất tái giá. Cung thê bị khắc thì không lấy chồng sớm, cung phu có khắc thì lấy vợ muộn. Mã phục dưới ngang vai thì vợ chồng lấy nhau không giá thú. Thất sát đóng trụ ngày thì vợ chồng bất hòa, không chia tay thì gặp điều xấu.

Trụ năm của vợ hay chồng gặp thiên khắc địa xung thì dễ có nỗi buồn sinh tử biệt ly. Nhật phá, nguyệt xung thì không lợi cho ly hôn. Nam hoặc nữ gặp ngang vai nhiều thì hôn nhân muộn, nhưng nếu thân ở vượng địa thì lại tảo hôn. Quan sát hỗn tạp, thương quan nhiều, nam gặp thì ham tửu sắc, nữ gặp thì theo trai. Chính tài, thiên tài nhiều thì háo sắc, chơi bời, vợ chồng bất hòa. Nam nhiều ấn thì khắc vợ, nữ nhiều ấn thì dâm loạn. Phu tinh và thê tinh hợp nhau thì cuối cùng có sự ly biệt. Hai ngày Giáp thìn và Giáp tuất: nam gặp thì khắc vợ, nữ gặp thì khắc chồng. Nam hợp là tốt, nữ hợp thì chủ về dâm.

Gặp vận thương quan thì nam khắc vợ, nữ khắc chồng; nếu còn gặp tuế quân bị khắc thì phải đề phòng cả hai bị tổn thương. Cô loan nhập mệnh thì chồng khắc vợ hoặc vợ khắc chồng. Tháng sinh gặp hàm trì thì vợ chồng đều có ngoại tình.

Bảy lá số ly hôn ứng đúng năm

Một năm cụ thể được nói ra trước, rồi người nghe lặng đi vì chuyện ấy đã xảy ra thật.

Lá số thứ nhất là của một diễn viên nổi tiếng ở Trung Quốc, vốn không tin tướng số: năm Bính tí, chi tháng mùi, ngày Tân dậu, giờ Mậu tuất. Tháng 12 năm 1985 ông đến thử. Vừa gặp, ông nói thẳng không tin và xin người xem đừng giận. Sau khi sắp lá số, người xem khẳng định hôn nhân của ông không thuận, năm 1982 nếu vợ không chết thì cũng đã ly hôn. Ông nói với mọi người có mặt rằng đúng: năm 1982 hai người đã ly hôn. Lý do là can chi trụ ngày giống nhau nên khắc vợ; Tân dậu là ngày âm dương lệch nhau, nam gặp thì lấy vợ hai lần; dậu và tuất của ngày giờ tương hại nhau nên bất lợi cho hôn nhân. Năm 1982, ông 46 tuổi, đại vận Canh tí là vận kiếp tài, lưu niên Nhâm tuất là năm thương quan, nhật nguyên lại hại với thái tuế, nên là năm bại vận khắc vợ.

Lá số thứ hai là của người bạn một ông Hoa: năm Đinh sửu, tháng Ất tị, ngày Giáp thìn, giờ Nhâm thân. Tháng 3 năm 1986, ông Hoa kể người bạn thông minh tháo vát nhưng hôn nhân trắc trở, trong mười năm tuổi trẻ ly hôn hai lần, hỏi có phải mệnh khắc vợ không. Người xem đáp rằng không chỉ khắc vợ mà mười năm ấy còn đang đi vận khắc vợ. Mấy ngày sau, nhận được giờ sinh thì quả có câu nam gặp thương quan tất lấy vợ lần hai; tứ trụ gặp tỉ kiếp và ngày Giáp thìn đúng là dấu khắc vợ. Vận Nhâm dần, Giáp gặp dần mão ắt khắc vợ; Nhâm lại sinh Giáp nên ngang vai càng vượng, kiếp thê càng hung. Hai lưu niên Tân sửu và Giáp thìn cũng là năm khắc vợ nên ly hôn hai lần.

Lá số thứ ba là của ông Ngô, người được gọi là công tử đào hoa: năm Ất dậu, tháng Nhâm ngọ, ngày Canh tuất, giờ Mậu dần. Ông đã theo năm cô, ly hôn ba lần, lần thứ tư lại ly hôn. Năm 1986, người xem lấy giờ sinh để rút kinh nghiệm, thấy có kình dương khắc vợ, cung thê và thê tinh hóa thành hỏa cục khắc thân, tức cung thê hợp cục để khắc thân, khó giữ được vợ.

Lá số thứ tư: năm Ất mùi, tháng Bính tuất, ngày Nhâm tí, giờ Kỷ dậu. Người này ly hôn năm 1986, vì trong lá số có nhật đóng kình dương, thương quan và thê gặp mộ địa, đều là dấu hiệu khắc vợ.

Lá số thứ năm: năm Kỷ mão, tháng Bính tí, ngày Bính ngọ, giờ Tân mão. Có thương quan, ngang vai, kình dương, tháng ngày xung nhau, đều là dấu khắc vợ, nên người xem đoán anh ta ly hôn năm 1974. Quả đúng như thế. Năm 1974 là Giáp dần, trong lá số mộc hỏa tương sinh, mộc của Giáp dần lại tiếp sức cho thế của hỏa, thê tinh bị khắc, nếu không ly hôn thì dễ bị chết.

Lá số thứ sáu: năm Ất dậu, tháng Mậu dần, ngày Mậu thân, giờ Kỷ mùi. Tháng 3 năm 1987 một người ở xã Tây An nhờ xem. Tỉ kiếp nhiều, trụ ngày âm dương lệch nhau, trụ tháng và trụ ngày hình xung nhau, nên khắc vợ rất nặng. Người xem đoán năm Mậu ngọ (1978) ly hôn, năm Mậu thìn (1988) lại ly hôn nữa. Sự việc xảy ra đúng như thế, cả hai lần.

Lá số thứ bảy: năm Kỷ mão, tháng Đinh mão, ngày Nhâm tuất, chi giờ là tị. Tháng 6 năm 1988, một người bạn đồng nghiệp đưa lá số nhờ xem. Người xem nói thương quan trùng lặp mà lại vượng nên năm Đinh mão (1987) có họa ly hôn, và bản thân người này suốt đời vất vả, trước mắt đang rất khó khăn. Anh nắm tay nói: đúng quá, đây chính là lá số của tôi; chỉ quen xem tướng, về Tứ trụ biết ít. Anh hỏi: mão hợp với tuất đáng lẽ là tốt, năm Đinh mão tuất hợp thái tuế, sao lại ly hôn? Người xem đáp: hai mão trong lá số hợp với một tuất, lại gặp năm mão thành ba mão hợp một tuất, là tượng tranh hợp, nên vợ bị người khác quyến rũ đưa đi. Mão là mộc, tuất là thổ, trong hợp có khắc; ba mộc khắc một thổ nên ứng việc ly hôn.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc