Bài tổng quan
Khí thế nghiêng hẳn một phía thì chọn vận thuận theo thế
Bốn trụ cùng một Mậu Ngọ, lửa và đất dày đến mức không còn chỗ cho nước. Một chén nước bưng tới cứu cũng chỉ như đổ vào xe củi đang cháy, vậy mà ngay trong cảnh ấy vẫn có vận đỡ được cả lá số...
Mục lục · 8 phần
- 01Bốn trụ Mậu Ngọ và Bính Ngọ chồng lửa: thế lửa đất dồn hết về một phía
- 02Kim thủy sinh nhau ở Tân Dậu: thuận theo tính của thế khí mà đi
- 03Hợp Lộc: hai lá số mang chung một tên mà không chung một lẽ
- 04Tòng Tài và Tòng Sát: nhật chủ mất gốc thì đi theo kẻ mạnh
- 05Canh kim ba Thân Thìn và Tân kim ba Sửu: thế kim thủy, thế kim thổ
- 06Dần hình Tị và Tý diêu Tị: cái tên lạ che mất lẽ ngũ hành
- 07Khi thế vượng đã định, ngũ hành vẫn có chính lý của nó
- 08Đinh Nhâm hợp hóa mộc ở tháng xuân: khi hai can hóa thành một khí
Bốn trụ Mậu Ngọ và Bính Ngọ chồng lửa: thế lửa đất dồn hết về một phía
Có những lá số mà khi nhìn vào, ngũ hành không còn chia đều cho các bên nữa. Cả bốn trụ cùng là Mậu Ngọ: Mậu thổ ở trên, Ngọ hỏa ở dưới, lặp lại bốn lần. Trong mỗi chữ Ngọ có Đinh và Kỷ, tính ra là Ấn và Kiếp, nhật chủ ngồi ở đất Đế vượng. Đại vận đi theo thứ tự Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý.
Mậu và Ngọ cùng thành tượng, khí thế nghiêng hẳn về hỏa thổ nên đây là cách Tòng vượng. Vận kim là đẹp nhất vì kim tiết được cái tú khí của thổ. Nhưng lửa nóng đất khô thì rốt cuộc vẫn sợ khô cháy, cho nên cần thủy thổ đứng ra hộ vệ: vận Canh Thìn, Tân Sửu đều tốt. Còn nếu gặp thủy vận thì chẳng khác nào bưng một chén nước từ xa chạy tới cứu một chiếc xe đang chất đầy củi lửa, tai nạn đến ngay lập tức. Cách này rất kỵ chuyện lấp đầy chỗ trống, và cái chén nước kia chính là ý ấy. Vận mộc thì tính vốn chống lại thổ, lại thêm lửa cho hỏa nên cũng không hợp.
Lá số thứ hai cũng nghiêng về lửa nhưng từ một hướng khác: năm Giáp Dần, tháng Canh Ngọ, ngày Bính Ngọ, giờ Giáp Ngọ. Trụ năm là Kiêu, trụ tháng là Thiên Tài, trụ giờ lại là Kiêu. Chi Dần tàng Giáp, Bính, Mậu, ứng với Kiêu, Tỉ, Thực, nhật chủ ở thế Trường sinh. Ba chữ Ngọ còn lại đều tàng Đinh và Kỷ, tức Kiếp và Thương, đều ở đất Đế vượng. Đại vận là Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý.
Canh kim ở tháng không có gốc rễ nên coi như bỏ không luận. Cả lá số thuộc về mộc hỏa, thành cách Viêm thượng, điều cần nhất là vận thổ để tiết bớt khí hỏa. Cách xem này giống với cách Nhân Thọ. Đời thường gọi chung hai lá số trên là cách Đảo xung.
Kim thủy sinh nhau ở Tân Dậu: thuận theo tính của thế khí mà đi
Hai chữ Tân Dậu đặt cạnh nhau chưa chắc đã là kim cứng; phải xem phía sau nó có gì đỡ.
Năm Mậu Thìn, tháng Tân Dậu, ngày Tân Dậu, giờ Mậu Tý. Trụ năm và trụ giờ đều là Ấn, trụ tháng là Tỉ. Thìn tàng Mậu, Quý, Ất, thành Ấn, Thực, Thiên Tài, đứng ở đất Mộ. Hai chữ Dậu tàng Tân, là Tỉ, đều ngồi nơi Lộc. Tý tàng một Quý, là Thực, ở thế Trường sinh. Đại vận lần lượt Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão.
Lá số thiên về kim thủy và gốc không hề thấy Quan tinh. Khí thế đã nghiêng như vậy thì phải thuận theo tính nó: vận thổ, kim, thủy là tốt, vận hỏa là điều nên tránh. Mộc đi kèm với thủy ở phía trên thì còn vào được, nhưng mộc mang theo hỏa thì không nên thấy. Đời thường gọi đây là cách Triều Dương.
Hợp Lộc: hai lá số mang chung một tên mà không chung một lẽ
Cùng được gọi là Hợp Lộc, một lá số hóa ra là thổ kim thuần khí, lá số kia lại là Ấn hóa Sát rất ngay ngắn.
Lá số thứ nhất: năm Kỷ Mùi, tháng Mậu Thìn, ngày Mậu Thìn, giờ Canh Thân. Mùi tàng Kỷ, Đinh, Ất thành Kiếp, Ấn, Quan, ở đất Suy. Hai chữ Thìn đều tàng Mậu, Ất, Quý, tức Tỉ, Quan, Tài, nhật chủ đứng ở Quan đái. Thân tàng Canh, Mậu, Nhâm, thành Thực, Tỉ, Thiên Tài, ngồi ở đất Bệnh. Đại vận Đinh Mão, Bính Dần, Ất Sửu, Giáp Tý, Quý Hợi, Nhâm Tuất.
Đây thực chất là cách Thực thần của thổ kim. Tỉ Kiếp quá nặng, khí thế nghiêng hẳn về thổ và kim, nên vận kim tiết tú khí của thổ là đẹp nhất, vận thủy cũng hay. Vận mộc hỏa thì kỵ, gọi là "thổ thịnh mộc gãy". Đời thường lấy Canh hợp Ất làm Quan tinh rồi gọi là cách Hợp Lộc, nhưng Quan ấy không cần thấy rõ, chỉ cần Tài đứng ra sinh. Cách lấy vận thì vẫn như nhau.
Lá số thứ hai: năm Kỷ Dậu, tháng Tân Mùi, ngày Quý Mùi, giờ Canh Thân. Trụ năm là Thất Sát, trụ tháng là Kiêu, trụ giờ là Ấn. Dậu tàng Tân, ở thế Bệnh. Hai chữ Mùi đều tàng Kỷ, Đinh, Ất, thành Sát, Thiên Tài, Thực, nhật chủ ở đất Mộ. Thân tàng Canh, Mậu, Nhâm, ứng Ấn, Quan, Kiếp, ở thế Tử. Đại vận Canh Ngọ, Kỷ Tỵ, Mậu Thìn, Đinh Mão, Bính Dần, Ất Sửu.
Đời thường cũng gọi lá số này là Hợp Lộc, lấy Thân hợp Tị, trong Tị có Mậu thổ làm Quan tinh. Nhưng nhìn kỹ, nguyệt lệnh là Thiên Quan, thấu ra ở can năm, còn can giờ là Canh Ấn hóa Sát để làm dụng thần. Cách cục chính, thanh, có gì không tốt? Nếu cố lấy Mậu trong Tị làm Quan tinh thì lá số lại biến thành Quan Sát hỗn tạp, thành ra tự làm hỏng cái thanh của mình.
Tòng Tài và Tòng Sát: nhật chủ mất gốc thì đi theo kẻ mạnh
Một cây Ất mộc không rễ, một Bính hỏa ngồi đất Bệnh: cả hai chỉ còn cách nương vào phe đang thắng.
Cách Tòng Tài: năm Canh Thân, tháng Ất Dậu, ngày Bính Thân, giờ Kỷ Sửu. Trụ năm là Thiên Tài, trụ tháng là Ấn, trụ giờ là Thương. Thân tàng Canh, Mậu, Nhâm thành Thiên Tài, Thực, Sát, nhật chủ ở đất Bệnh. Dậu tàng Tân, là Tài, ở thế Tử. Chữ Thân thứ hai cũng giống như trên. Sửu tàng Kỷ, Quý, Tân, thành Thương, Quan, Tài, ở thế Dưỡng. Đại vận Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão.
Ất tòng theo Canh mà hóa, nên không lấy Ấn để luận. Bính hỏa ngồi đất Bệnh, bốn trụ không có chút căn gốc, giờ Kỷ Sửu lại sinh thêm cho kim, khí thế đổ hẳn về phía kim vượng. Đây là khí mệnh Tòng Tài. Vận hợp là thổ, kim, thủy. Đất hỏa ở phương Nam là điều kỵ nhất, mộc cũng bất lợi.
Cách Tòng Sát: năm Ất Dậu, tháng Ất Dậu, ngày Ất Dậu, giờ Giáp Thân. Ba trụ đầu là Tỉ, trụ giờ là Kiếp. Mỗi chữ Dậu tàng một Tân, là Sát, đều ở đất Tuyệt. Thân tàng Canh, Mậu, Nhâm thành Quan, Tài, Ấn, ở thế Thai. Đại vận Giáp Thân, Quý Mùi, Nhâm Ngọ, Tân Tị, Canh Thìn, Kỷ Mão.
Ất mộc không có rễ, khí thế nghiêng về kim, đó là khí mệnh Tòng Sát. Vận kim là tốt nhất, thổ và thủy cũng cát. Vận mộc là lúc Ất mộc gặp lại căn gốc nên bị kỵ, vận hỏa thì ngược với cái thế vượng của lá số, là kỵ nặng nhất. Cách vận này giống hệt cách Tòng Tài ở trên.
Canh kim ba Thân Thìn và Tân kim ba Sửu: thế kim thủy, thế kim thổ
Có lá số kim đã vượng lại gặp thủy cục đón sẵn, có lá số kim và thổ hợp lại thành khối mà mộc giờ sinh chỉ là cái bóng.
Năm Mậu Tý, tháng Canh Thân, ngày Canh Thân, giờ Canh Thìn. Tý tàng một Quý, là Thương, ở thế Tử. Hai chữ Thân tàng Canh, Mậu, Nhâm, ứng với Tỉ, Kiêu, Thực, nhật chủ đóng ở Lộc. Thìn tàng Mậu, Quý, Ất, thành Kiêu, Thương, Tài, ở thế Dưỡng. Đại vận Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi, Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần.
Đời thường gọi là cách Tỉnh Lan Xoa. Canh kim đang vượng, tiết ra thành tú khí, các chi Thân, Tý, Thìn lại hợp thành thủy cục. Thế khí nghiêng về kim thủy, đang thuận thì nên giữ cho thuận mà lấy vận: thổ, kim, thủy đều tốt, mộc cũng được. Hành hỏa vận là đi ngược cái thế vượng nên không hay.
Lá số khác: năm Tân Sửu, tháng Tân Sửu, ngày Tân Sửu, giờ Canh Dần. Mỗi chữ Sửu tàng Kỷ, Quý, Tân, thành Kiêu, Thực, Tỉ, đều ở thế Dưỡng. Chữ Dần giờ tàng Giáp, Bính, Mậu, thành Tài, Quan, Ấn, ở thế Thai. Đại vận Canh Tý, Kỷ Hợi, Mậu Tuất, Đinh Dậu, Bính Thân, Ất Mùi.
Đời thường gọi là Sửu diêu Tỵ. Thổ kim kết thành cục, sinh vào tháng mười hai, mộc giờ Dần không có khí nên chẳng thể làm dụng. Thế tượng thiên hẳn về thổ kim, cần vận thổ, kim, thủy; mộc hỏa nghịch với thế vượng nên không tốt. Cách đi vận ấy giống với cách Tý diêu Tỵ.
Dần hình Tị và Tý diêu Tị: cái tên lạ che mất lẽ ngũ hành
Hai bài phú xưa dựng lên những cái tên lạ để giải thích, trong khi lá số chỉ đang kể một chuyện giản dị về sức nặng của mộc và của Tài.
Lá số năm Ất Mùi, tháng Quý Mão, ngày Quý Mão, giờ Giáp Dần. Mùi tàng Kỷ, Đinh, Ất, ứng Sát, Thiên Tài, Thực, ở đất Mộ. Hai chữ Mão tàng một Ất, là Thực, đều ở thế Trường sinh. Dần tàng Giáp, Bính, Mậu, thành Thương, Tài, Quan, ở thế Dưỡng. Đại vận Nhâm Dần, Tân Sửu, Canh Tý, Kỷ Hợi, Mậu Tuất, Đinh Dậu.
Bài ca "Hỉ Kỵ" viết: ngày Quý tiến gặp ngôi Dần, năm tháng sợ chữ Mậu ở hai phương. Ý là lấy Dần hình ra Mậu trong Tị mà thành cách. Thực ra đây chính là cách Tòng Nhi. Khí thế thiên về mộc nên đi vận mộc hỏa là tốt nhất. Tòng cách vốn kỵ gặp Tỉ Kiếp, nhưng Tòng Nhi có Thực Thương dẫn hóa nên không kỵ Tỉ Kiếp, đó là chỗ khác biệt. Quan Sát là điều đại kỵ, vận Ấn cũng vậy.
Lá số cuối cùng: năm Giáp Thân, tháng Giáp Tuất, ngày Giáp Tý, giờ Giáp Tý. Trụ năm, tháng, giờ đều là Tỉ. Thân tàng Canh, Mậu, Nhâm thành Sát, Thiên Tài, Kiêu, ở đất Tuyệt. Tuất tàng Mậu, Tân, Đinh, thành Thiên Tài, Quan, Thương, ở thế Dưỡng. Hai chữ Tý tàng Quý, là Ấn, đều ở thế Mộc dục. Đại vận Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tị.
Bài ca "Hỉ Kỵ" nói: ngày Giáp Tý lại gặp giờ Tý, sợ Canh, Tân, Thân, Dậu, Sửu, Ngọ, lấy Tý diêu hợp với Tị làm cách. Thực ra nguyệt lệnh là Thiên Tài, cứ dụng Tài để phá Ấn là đủ, cần gì đặt ra một cách riêng. Trong Tuất có Đinh hỏa, sinh dậy Tài tinh, gặp vận thấu thanh là tốt.
Khi thế vượng đã định, ngũ hành vẫn có chính lý của nó
Gọi tên một lá số cho kêu thì dễ; giữ cho đúng lẽ sinh khắc mới là phần khó.
Người bình chú nhận xét rằng các tạp cách phần nhiều là thế khí nghiêng hẳn về bên vượng, vượt ra ngoài lẽ ngũ hành thông thường. Người xưa luận mệnh hay bám lấy thuyết Tài Quan, thấy trụ không có Tài vẫn cố lấy, rồi mượn Diêu hợp, Đảo xung và những cách viện dẫn gượng gạo để gán cho khớp Tài Quan, như vậy khó tránh chuyện đáng cười. Mệnh lý không ra khỏi ngũ hành. Khí thế tuy thiên về vượng, nhưng trong chỗ thiên vượng ấy vẫn có chính lý để lấy vận. Nói chung đại vận cần thuận theo thế khí; dù can chi nào hỉ nào kỵ, vẫn phải xem kỹ cách tứ trụ phối hợp rồi mới thuận thế mà chọn vận, việc này có quy định rõ ràng.
Từ ý đó, người bình chú dẫn thêm vài lá số cho đủ năm cách thuần khí.
Cách Khúc trực Nhân thọ: năm Quý Hợi, tháng Ất Mão, ngày Ất Mùi, giờ Nhâm Ngọ. Hợi tàng Nhâm, Giáp là Ấn và Kiếp, ở thế Tử. Mão tàng một Ất là Tỉ, nhật chủ ở Lộc. Mùi tàng Kỷ, Đinh, Ất là Thiên Tài, Thực, Tỉ, ở thế Dưỡng. Ngọ tàng Đinh, Kỷ là Thực và Thiên Tài, ở thế Trường sinh. Đại vận Giáp Dần, Quý Sửu, Nhâm Tý, Tân Hợi, Canh Tuất, Kỷ Dậu. Nhật chủ là Giáp hoặc Ất, chi đủ Hợi Mão Mùi, hoặc Dần Mão Thìn, đó là Khúc trực Nhân thọ. Khí thế thiên vượng về mộc, cần đi vận thủy, mộc, hỏa; vận Quan Sát tối kỵ, vận Tài cũng không hay.
Bốn cách còn lại cũng cùng một lẽ. Nhật chủ là Bính hoặc Đinh, chi đủ Dần Ngọ Tuất hoặc Tị Ngọ Mùi, gọi là Viêm thượng. Nhật chủ là Mậu hoặc Kỷ, chi đủ Thìn Tuất Sửu Mùi, gọi là Giá sắc. Nhật chủ là Canh hoặc Tân, chi đủ Tỵ Dậu Sửu hoặc Thân Dậu Tuất, gọi là Tòng cách. Nhật chủ là Nhâm hoặc Quý, chi đủ Thân Tý Thìn hoặc Hợi Tý Sửu, gọi là Nhuận hạ.
Đinh Nhâm hợp hóa mộc ở tháng xuân: khi hai can hóa thành một khí
Hai can hợp nhau thì có khi hóa mất bản tính cũ, nhưng phải được tháng và được thời mới hóa nổi.
Năm Giáp Tuất, tháng Đinh Mão, ngày Nhâm Dần, giờ Giáp Thìn. Trụ năm và trụ giờ là Thực, trụ tháng là Tài. Tuất tàng Mậu, Tân, Đinh, thành Sát, Ấn, Thiên Tài, ở thế Quan đái. Mão tàng một Ất, là Thương, ở thế Tử. Dần tàng Giáp, Bính, Mậu, thành Thực, Thiên Tài, Sát, ở đất Bệnh. Thìn tàng Mậu, Quý, Ất, thành Sát, Kiếp, Thương, ở đất Mộ. Đại vận Mậu Thìn, Kỷ Tị, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu.
Đinh và Nhâm hợp hóa mộc, sinh vào tháng xuân, giờ gặp Giáp Thìn nên nguyên thần mộc thấu ra ngoài, đúng là cách Hóa mộc. Khí thế nghiêng về mộc. Hóa thần ưa nơi đất vượng, nhất là Dần Mão Thìn là đất Tỉ Kiếp, kỵ nhất là Quan Sát. Đất của nhật chủ gốc quay trở lại như cũ cũng kỵ. Chỗ đáng phân biệt là: Đinh Nhâm hóa mộc, nhật nguyên vốn là Nhâm thủy, vận Hợi Tý Sửu là đất Ấn, sinh dậy cho hóa thần nên cũng tốt. Còn nếu là Giáp hóa thổ mà lại đi vận Dần Mão Thìn thì khắc ngay hóa thần của mình, là điều đại kỵ.
Cách Hóa khí gồm năm bộ: Giáp Kỷ hóa thổ, Ất Canh hóa kim, Bính Tân hóa thủy, Đinh Nhâm hóa mộc, Mậu Quý hóa hỏa. Ý nghĩa cả năm đều giống nhau.
Nguồn: Thẩm Hiếu Chiêm, Từ Nhạc Ngô bình chú, Tử Bình Chân Thuyên Bình Chú.
