Bài tổng quan
Hỏa Thủy Vị Tế: con cáo ướt đuôi giữa dòng và niềm hy vọng chưa tắt
Con cáo con đứng bên bờ sông, vừa nhúng chân xuống đã ướt cả cái đuôi dài, chuyến qua sông đành hoãn lại. Vậy mà quẻ chưa xong này vẫn được ghi là hanh thông. Điều gì khiến cái chưa xong lại rộng đường hơn cái đã xong...
Mục lục · 10 phần
- 01Vị Tế là chưa xong: lửa đặt trên nước, mất thăng bằng nhưng vẫn còn hy vọng
- 02Con cáo con vừa sắp qua sông đã ướt đuôi: nóng nảy thì không làm nên việc
- 03Hanh của Vị Tế còn rộng hơn hanh của Ký Tế: tương lai chưa ai biết hết
- 04Dự báo cho quẻ Vị Tế: thời vận chưa thuận, phải kiên nhẫn chờ
- 05Hào sơ lục: con cáo ướt đuôi giữa dòng, không đủ sức để qua
- 06Hào cửu nhị: kéo lết bánh xe, giữ chính mà đi từ từ
- 07Hào lục tam: chưa thành mà tiến thì xấu, nhưng qua sông lớn lại có ích
- 08Hào cửu tứ: giữ chính khỏi ăn năn, dồn sức đánh Quỷ Phương ba năm rồi được thưởng
- 09Hào lục ngũ: sáng suốt của người quân tử, có lòng tin thật là tốt
- 10Hào thượng cửu: uống rượu thong dong chờ thời, nhưng ướt cả đầu thì mất lẽ phải
Vị Tế là chưa xong: lửa đặt trên nước, mất thăng bằng nhưng vẫn còn hy vọng
Quẻ số sáu mươi bốn là Hỏa Thủy Vị Tế, thuộc hàng quẻ xấu, ứng với tháng bảy. Vị Tế nghĩa là chưa thành, chưa xong: mất thăng bằng, chưa thành đạt, nhưng chớ bi quan vì vẫn có hy vọng. Quẻ trên là Ly, là lửa; quẻ dưới là Khảm, là nước.
Hỏa tại thủy thượng, Vị Tế. Quân tử dĩ thận biện vật cư phương.
Lời Tượng nói lửa ở trên nước là quẻ Vị Tế, tức chưa thành đạt. Người quân tử nhìn đó mà cẩn thận phân biệt mọi vật để đặt cho đúng phương, đúng chỗ.
Người sinh vào tháng bảy gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng đuôi ướt cứ loanh quanh; nếu được người cao nhân giúp thì còn gì phải sợ, phải khinh.
Con cáo con vừa sắp qua sông đã ướt đuôi: nóng nảy thì không làm nên việc
Nguyễn Hiến Lê giảng lời Thoán: chưa xong, chưa cùng, được hanh thông. Con cáo nhỏ sửa soạn vượt qua sông mà đã ướt cái đuôi, không qua được, chẳng có gì lợi cả.
Quẻ này trái hẳn quẻ trước: lửa ở trên nước, nước và lửa không giao nhau nên không giúp được nhau; cả sáu hào đều trái ngôi, dương ở vị âm mà âm ở vị dương. Cho nên gọi là Vị Tế, chưa xong; Vị Tế chứ không phải Bất Tế, nghĩa là chưa qua sông được chứ không phải không qua sông được, sẽ có thời qua được, lúc đó sẽ hanh thông. Thời đó là thời của hào năm, có đức nhu, trung, biết thận trọng, lại ở giữa quẻ Ly là thời văn minh. Vả lại tuy sáu hào đều trái ngôi nhưng ứng viện nhau, cương nhu giúp nhau mà nên việc, thêm một lẽ nữa để hanh thông.
Lời Thoán khuyên đừng như con cáo con nóng nảy, hấp tấp, mới sửa soạn qua sông mà đã làm ướt đuôi, không qua được nữa, không làm được việc gì lợi, không tiếp tục được đến cùng. Đại tượng truyện khuyên phải xem xét kỹ càng mà đặt người, đặt vật vào đúng chỗ thích đáng thì mới nên việc, đừng đặt lửa trên nước chẳng hạn, như quẻ này.
Hanh của Vị Tế còn rộng hơn hanh của Ký Tế: tương lai chưa ai biết hết
Phan Bội Châu phụ chú: lời quẻ Ký Tế nói rằng làm cho xong những việc nhỏ thì hanh, là nói bằng việc đã qua. Lời quẻ Vị Tế nói hanh, là dự đoán phúc tương lai. Việc đã qua thì hanh có hạn, phúc tương lai thì hanh vô cùng.
Hanh ở Ký Tế ví như đứa con đã trưởng thành, mạnh hay yếu, trí hay ngu đều đã ấn định. Hanh ở Vị Tế ví như đứa con còn thơ bé, tương lai còn chưa biết chừng. Dịch sở dĩ kết thúc bằng Vị Tế chính như xuân mà chưa đến lúc hoa nở, đêm mà chưa đến lúc trăng tròn: hy vọng về tiến độ hãy còn nhiều lắm. Ai dám bảo Vị Tế mà hẳn là bất tế đâu. Vậy nên lời quẻ nói Vị Tế hanh, còn hơn là Ký Tế hanh tiểu, tức cho xong việc nhỏ thì hanh.
Dự báo cho quẻ Vị Tế: thời vận chưa thuận, phải kiên nhẫn chờ
Quẻ Vị Tế chỉ thời vận không thuận lợi, không có thời cơ tốt, mọi việc khó thành. Phải kiên nhẫn chờ thời, may ra mới có cơ may.
Ứng vào từng việc: công danh sự nghiệp dở dang; tài vận không có, buôn bán kinh doanh kém phát đạt; tìm việc khó khăn; thi cử lận đận; kiện tụng dây dưa, nên hòa giải thì hơn; bệnh tật không nặng nhưng kéo dài; xuất hành không lợi; tình yêu dang dở, khó thành; hôn nhân tốn nhiều thời gian, phải kiên nhẫn mới thành.
Hào sơ lục: con cáo ướt đuôi giữa dòng, không đủ sức để qua
Hào âm, hào xấu. Ướt cái đuôi, xấu thẹn; hào sơ của quẻ Khảm, không lội qua được. Hà Lạc nói không tài, không đức, lại không gặp thời.
Nhu kỳ vĩ, lận.
Hào chỉ người không biết giữ gìn tài lực để tiến hành công việc, như con cáo muốn sang sông mà để ướt đuôi. Đuôi cáo dài và nặng, đã ướt thì không thể bơi được.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, tài kém, ở vào đầu thời Vị Tế, mà lại bước chân vào chỗ hiểm là quẻ Khảm, coi như con cáo sắp qua sông mà đã làm ướt cái đuôi, không biết tính trước nên phải ân hận.
Người mệnh hợp cách dù có tài kinh bang tế thế cũng không gặp thời, nên an phận, không vinh nhục gì. Người mệnh không hợp cách thân nhỏ, vận yếu mà vọng động, nên việc có đầu không đuôi, không biết trị cơ, gian nan.
Về vận hạn: quan chức gặp hiểm trở, không lên được; giới sĩ được chọn hoặc đỗ cuối bảng; người thường kinh doanh chẳng được như ý; phải cẩn thận sông nước. Câu thơ của hào nói con cáo muốn qua sông, ướt đuôi mà uổng công; không qua được thì ngồi đó chờ buổi xuân phong.
Hào cửu nhị: kéo lết bánh xe, giữ chính mà đi từ từ
Hào dương, hào bình. Kéo lết cái bánh xe, đi từ từ, giữ chính là tốt.
Duệ kỳ luân, trinh cát.
Hà Lạc nói nên giữ phận dưới, đừng vội thân với trên. Hào chỉ thời hợp với sự giữ đạo, không lợi cho sự manh động làm liều.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương là có tài, ở vị âm là bất chính; thấy hào năm ở ngôi tôn ứng với mình mà âm nhu nên có ý muốn lấn lướt, như vậy sẽ hỏng việc. Cho nên hào từ khuyên giảm bớt tính cương của mình đi, như kéo lết bánh xe, hãm bớt lại, và giữ đạo trung của mình, vì hào hai đắc trung; hễ trung thì có thể chính được.
Người mệnh hợp cách trung hậu, giữ được đạo trung chính, cẩn thận, trên mến dưới tin. Người mệnh không hợp cách cũng là người có chí, kẻ sĩ cẩn hậu, hòa đồng với mọi người, không ham tài lộc, ăn mặc sung túc.
Về vận hạn: quan chức vất vả vì chức vụ nên được tin yêu; giới sĩ đi lên, cẩn thận khéo mắc lỗi; người thường cứ an thường thì toại ý, nếu vọng động sẽ khốn. Câu thơ của hào nói bánh lăn ngàn dặm tiến, đường phẳng dễ như chơi.
Hào lục tam: chưa thành mà tiến thì xấu, nhưng qua sông lớn lại có ích
Hào âm, hào bình. Chưa thành mà tiến đi thì xấu; qua sông lớn thì có ích.
Vị tế, chinh hung, lợi thiệp đại xuyên.
Hà Lạc nói tài không đủ, phải dựa người thì nên việc. Sông nước gian nan mới kiếm được lợi, không nên trèo núi qua đồng. Việc chưa thể làm mà cứ làm thì thất bại; tốt nhất là phải chuẩn bị như người vượt sông lớn, phải có người giúp sức.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, vô tài, lại bất trung bất chính, không làm nên việc đâu, nếu cứ tiến hành thì xấu. Sao lại bảo qua sông lớn thì lợi? Mâu thuẫn chăng? Vì vậy có người ngờ trước chữ lợi thiếu chữ bất, nghĩa là vượt qua sông lớn thì không lợi mới phải.
Cũng có thể giảng như sau: xét về tài đức của hào ba thì không nên tiến hành, nhưng xét về thời của hào ba, ở cuối quẻ Khảm, là sắp có cơ thoát hiểm; hơn nữa trên có hào sáu dương cương giúp cho, nên sắp có cơ hội vượt qua sông lớn được, lúc đó sẽ có lợi.
Phan Bội Châu phụ chú: nên để ý rằng lời hào cả sáu hào quẻ Ký Tế không hào nào có tên quẻ; đến quẻ Vị Tế thì năm hào không có tên quẻ, duy nhất hào ba này có hai chữ Vị Tế. Đọc lời hào ba nên xem qua lời hào hai dương và hào bốn dương: hai hào ấy đều có chữ giữ chính, tốt; còn hào ba âm thì có chữ tiến đi, xấu. Chữ tiến đi, xấu gắn liền với chữ chưa thành.
Ý của thánh nhân là ở vào thời Vị Tế, chỉ nên ở lại, giữ chính thì tốt như hào hai, hào bốn. Huống chi hào ba âm tài quá kém, ở vào thời Vị Tế mà tài như thế, đi tất phải xấu. Nhưng thánh nhân lại sợ ta thấy chữ đi, xấu mà nghĩ rằng thời Vị Tế tuyệt đối không tốt, nên thêm câu qua sông lớn thì có lợi, để ta biết rằng một khi thời đã đến, hào ba âm vẫn có thể đi tốt; chỉ vì tài của hào ba âm nên bây giờ mới đi xấu mà thôi. Chỉ thấy câu tiến đi xấu mà đổ tội tại thời Vị Tế, rồi xem câu qua sông lớn có lợi thì mới hiểu được ý. Ở thời này người quân tử phải cân nhắc tiến hay lùi theo từng hào, từng thời.
Người mệnh hợp cách tài vụng, một mình không đủ làm, phải dựa vào người để múa may, cổ vũ mới hay được. Người mệnh không hợp cách âm hiểm, kẻ được trước mắt sau, hoặc người thủy chung bất nhất, cùng chung hoạn nạn nhưng không cùng chung hướng thành công, khó thành sự nghiệp, một bước cũng khó tiến.
Về vận hạn: quan chức nhờ người mà nên mỹ mãn; giới sĩ có lo bị kẻ đùn đẩy, chưa thành danh còn long đong vất vả; người thường thích tiến nhưng chí thêm thẹn mặt, phải bôn ba nơi sông nước kiếm ăn. Câu thơ của hào nói cánh buồm nghìn dặm nhẹ, ba đào lặng chẳng kinh, thuyền đi không trở ngại.
Hào cửu tứ: giữ chính khỏi ăn năn, dồn sức đánh Quỷ Phương ba năm rồi được thưởng
Hào dương, hào tốt. Giữ chính thì tốt và khỏi ăn năn; phải dùng sức chấn động để đi đánh nước Quỷ Phương ba năm, sẽ được thưởng nơi nước lớn.
Trinh cát, hối vong; chấn dụng phạt Quỷ Phương, tam niên hữu thưởng vu đại quốc.
Hà Lạc nói cố gắng theo đạo chính, thành công trong gian nan. Phấn chấn tinh thần, cổ vũ dũng khí mà đánh nước Quỷ Phương, lâu ba năm nhưng rồi được nước lớn thưởng cho.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này có tài dương cương, ở vào thời thoát khỏi hiểm của quẻ nội Khảm, tiến lên cõi sáng sủa văn minh của quẻ ngoại Ly; trên có hào năm âm là ông vua tin cậy mình, thì đáng lẽ tốt. Chỉ vì hào này bất chính, dương ở vị âm, nên khuyên phải giữ đạo chính. Lại khuyên phải phấn phát tinh thần và kiên nhẫn thì mới làm được việc cho xã hội, như việc đánh nước Quỷ Phương thời vua Cao Tông ở hào ba quẻ Ký Tế, ba năm mới thành công.
Phan Bội Châu phụ chú: xem tất cả sáu mươi bốn quẻ Dịch, sự tốt xấu liên quan đến thời của mỗi quẻ; mỗi quẻ có sáu hào, sự tốt xấu lại liên quan đến thời của mỗi hào. Nhìn chung, được tốt, được xấu, hoặc từ tốt quay lại xấu, hoặc từ xấu chuyển sang tốt, rất quan hệ là hào ba và hào bốn. Hào ba dương quẻ Thái vì quá cương nên thánh nhân phải dạy rằng trong gian nan mà giữ lấy chính đáng. Hào bốn dương quẻ Cách thì cương nhu gặp nhau nên khen rằng có tin. Như hào bốn dương ở quẻ này, đành là có tài dương cương nhưng cũng nhờ gặp thời: ở vào thời Vị Tế, hết Khảm tới Ly, vận Bĩ trước đã qua mà vận Thái sau gần tới, nên làm nổi việc lớn như phạt giặc Quỷ Phương ba năm, uy danh động đến nước ngoài, ân thưởng khắp trong nước. Vì vậy lời tượng ở hào khen rằng thực hành được cái chí. Thật mừng cho người có tài tế thế mà lại gặp thời; xưa nay biết bao nhiêu người có chí mà không hành được, cũng vì không gặp thời như hào bốn dương này.
Người mệnh hợp cách biến chất thiên lệch để trở về trung hòa, khoa danh chậm nhưng ân sủng cũng lớn; là người kiên trì chính đạo, có công danh, phúc lộc đầy. Người mệnh không hợp cách cũng thực hành điều thiện, được người hiền đề cử, nên công thành danh toại, ý chí biến thành hành động.
Về vận hạn: quan chức võ thì đi chinh phạt nơi ngoài, văn thì vị cao tột bực, công lớn vẻ vang, cố gắng lâu bền, phúc lộc đầy; giới sĩ đỗ ưu hạng, thành danh, thành công; người thường hoạch lợi, có quý nhân đề cử, kinh doanh phát đạt. Câu thơ của hào nói cứ thế việc trên đời muôn hay chửa vẹn mười; xa lâu quên chuyện cũ, người hợp, trăng tròn rồi.
Hào lục ngũ: sáng suốt của người quân tử, có lòng tin thật là tốt
Hào âm, hào tốt. Chính, tốt, không ăn năn gì; cái rực rỡ của người quân tử; có tín tưởng thật là tốt.
Trinh, cát vô hối, quân tử chi quang, hữu phu, cát.
Hà Lạc nói bậc nguyên thủ được phụ tá thành đức nghiệp mỹ mãn, người lãnh đạo có đức sáng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm ở vị dương là bất chính, nhưng vì âm nhu đắc trung, mà trung còn tốt hơn chính, lại ở giữa quẻ ngoại Ly nên có đức văn minh rực rỡ. Lại ứng với hào hai đắc trung, dương cương ở dưới, nên hai lần được khen là tốt: lần đầu vì có đức trung, văn minh; lần sau vì có lòng chí thành, hết lòng tin ở hào hai.
Người mệnh hợp cách cầu hiền để giúp việc chính trị, là người có chức vụ, địa vị cao, lại được người hiền tài giúp sức, sự nghiệp đương thời rực rỡ. Người mệnh không hợp cách cũng quang minh chính đại, có địa vị cao, nghiệp lớn giàu thịnh, phúc dày.
Về vận hạn: quan chức thăng vượt bậc; giới sĩ văn chương xán lạn; người thường được quang hiển, vàng lụa tích nhiều, phúc lộc dồi dào. Câu thơ của hào nói lòng thành cầu bậc hiền tài, ra tay giúp nước, gặp người trung lương.
Hào thượng cửu: uống rượu thong dong chờ thời, nhưng ướt cả đầu thì mất lẽ phải
Hào dương, hào bình. Tự tin thong dong chờ thời như khi uống rượu thì không lỗi gì. Nhưng nếu để rượu ướt cả đầu, tức đi quá trớn, thì tự tin ấy là đánh mất lẽ phải rồi.
Hữu phu vu ẩm tửu, vô cữu; nhu kỳ thủ, hữu phu thất thị.
Hà Lạc nói thuận mệnh trời để làm hết việc người.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương ở trên cùng quẻ là cương đến cùng cực, cũng ở cuối quẻ ngoại Ly là sáng đến cùng cực, đều là quá cả. Sắp hết thời Vị Tế rồi, mà hào bốn và hào năm đã làm được nhiều việc, hào sáu này chỉ nên tự tin, lạc thiên an mệnh, vui thì uống rượu chơi mà chờ thời, như vậy không có lỗi. Nếu quá tự tin đến nỗi chìm đắm trong rượu chè, như con cáo ướt cả cái đầu, không biết tiết độ thì mất cái nghĩa, hóa bậy.
Kinh Dịch bắt đầu bằng hai quẻ Càn, Khôn, gốc của vạn vật; ở giữa là hai quẻ Hàm và Hằng, đạo vợ chồng, gốc của xã hội; tận cùng là hai quẻ Ký Tế và Vị Tế, đã xong rồi lại chưa xong. Như vậy là hàm cái nghĩa việc trời đất cũng như việc của loài người không bao giờ xong, cái gì tới chung lại tiếp ngay tới thủy. Đạo Dịch cũng vậy, không bao giờ hết; Dịch cho ta niềm hy vọng ở tương lai. Thật là một triết lý lạc quan.
Phan Bội Châu phụ chú: suốt từ đầu đến đuôi, chỉ một chữ Thời đã tóm hết bộ Dịch. Nhưng chỉ nói chữ Thời thì hoàn toàn thuộc về phần tự nhiên, nên phải thêm chữ Tiết, tiết chế, điều tiết, thay vào chữ Thời, càng thấy được đạo lý thuộc về phần đương nhiên. Vì Thời mà có việc, làm việc thì phải theo Thời, muốn tùy thời mà biến dịch cho đúng với đạo Trung, nên phải có Dịch học. Nhưng cuối cùng bộ Dịch lại đặt quẻ Vị Tế, nên ta càng biết rằng thời không bao giờ cùng, việc không bao giờ xong, mà Dịch cũng không bao giờ hết.
Đông tàn thì xuân đến, đêm hết thì ngày bắt đầu, bế tắc đến cùng thì thông suốt bắt đầu. Ta tùy thời mà xử sự, cần nhất là biết điều tiết. Tiết hạ chí tới mà lo soạn sửa áo dày, tiết đông chí qua mà lo sắm sửa áo mỏng, tiết lụt chưa tới mà lo dự bị thuyền bè, tiết hạn chưa tới mà lo dự bị đồ tát nước; trăm việc ngàn việc đều biết lo điều tiết như thế thì có bao giờ lo thất bại. Nhận kỹ ý nghĩa chữ Vị Tế mới biết thời vận vẫn là vô cùng; nhận biết mấy chữ biết điều tiết lại biết thiên thời cũng cần có nhân sự. Thời là tạo hóa tự nhiên, có kết thúc thì có bắt đầu; Tiết là đạo lý đương nhiên, biết thì mới năng động mà hành động. Khi mở quyển xem cũng như khi đóng quyển nghỉ, đều cần nhận rõ như vậy, chớ không nên đọc quẻ, xem hào mà coi là xong.
Người mệnh hợp cách có tài cứu vớt, đức lớn, đổi loạn thành trị, lập công, để tiếng về sau, phúc lộc lâu bền. Người mệnh không hợp cách chủ quan, phóng túng làm hỏng việc lớn, không tiết chế dục vọng, trái nghĩa, dễ thành khó, làm suy sụp sự nghiệp cha ông.
Về vận hạn: quan chức thăng chuyển, giữ chức trông coi tế lễ, hoặc giám sát ngày nay; giới sĩ tiến thủ, được lựa chọn đứng đầu, thành danh, thành công, nếu không chủ quan, phóng túng; người thường thoát được hiểm, người già có tiệc mừng yên lão; số xấu thì chết đuối. Câu thơ của hào nói lòng trung, mệnh nghĩa giữ yên, ấy là bảo vệ tự nhiên thái hòa; rượu ai quá độ bê tha, mất thời mê mẩn biết là ra sao.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
