Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hỏa Lôi Phệ Hạp: sấm chớp cùng đến, cắn đứt cái chắn giữa miệng

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Hỏa Lôi Phệ Hạp: sấm chớp cùng đến, cắn đứt cái chắn giữa miệng

Giữa hai hàm răng có một vật ngáng ngang nên miệng không khép được. Muốn hợp lại thì phải cắn cho đứt, nhưng cắn nhẹ thì chẳng ăn thua, cắn quá tay thì hóa ra ác... Vậy người cầm cân công lý nên đặt uy và sự sáng suốt ở chỗ nào?


Phệ Hạp là cắn cho khép lại: sấm và chớp cùng đến

Quẻ số hai mươi mốt là Hỏa Lôi Phệ Hạp, thuộc hàng quẻ xấu, tiết khí tháng Chín. Phệ là cắn, hạp là ngậm lại; Phệ Hạp tức là cắn cho hai hàm khép được với nhau, và cũng là chuyện ngục hình. Trên là Ly, là lửa, là điện; dưới là Chấn, là sấm.

Lôi điện, Phệ Hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp.

Lời Tượng nói sấm và chớp đi cùng nhau là quẻ Phệ Hạp. Bậc tiên vương nhìn quẻ này mà làm sáng tỏ hình phạt, đặt ra pháp luật cho rõ ràng.

Cái que ngáng giữa miệng và việc dùng hình ngục

Lời Thoán bảo rằng cắn cho hợp lại thì hanh thông, dùng vào việc hình ngục thì có lợi. Hình của quẻ rất dễ thấy: hào đầu và hào trên cùng là hai vạch liền, như hàm dưới và hàm trên; ở giữa có ba vạch đứt, là cái miệng đang há; xen vào giữa miệng là một vạch liền, như chiếc que cản ngang. Muốn hai hàm răng khép lại thì phải cắn cho đứt cái que ấy, trừ nó đi.

Đem ra đời thường, thứ ngáng ở giữa chính là bọn gian tà, sàm nịnh, bưng bít kẻ trên người dưới khiến hai bên không thông được với nhau. Muốn trừ chúng phải dùng hình ngục. Nhưng hình ngục chỉ có kết quả khi vừa có uy vừa sáng suốt: quẻ nội Chấn là uy, quẻ ngoại Ly là sáng. Xét riêng hào năm, hào làm chủ quẻ, đứng ở ngôi cao, thể âm nhu mà đắc trung, thì thấy ý khuyên rất rõ: dùng hình ngục tuy phải có uy, phải cương, nhưng cũng cần có nhu, có lòng thương. Nếu chỉ có cương thì hóa ra thích giết chóc.

Ở quẻ này, hào một và hào sáu là người không có chức vị, là kẻ chịu hình. Bốn hào ở giữa là những người có chức vị, đứng ra áp dụng hình pháp. Vì vậy mỗi hào mang một cách dụng hình khác nhau, và người đọc nên nhìn sáu hào như sáu vị trí trong một phiên xử.

Hào sơ cửu: bước lên cùm, đứt ngón chân

Hào dương ở vị trí đầu. Hào từ nói bước lên cùm, đứt ngón chân, không lỗi. Ý rằng vì nghĩa lớn mà phải tổn thương việc nhỏ, như người bị cùm chân nên hư mất ngón chân. Gặp vận xấu thì bị kỷ luật, truất giáng, thi hỏng, không tìm được việc làm, không được sử dụng, hoặc ốm đau bệnh tật. Toán Hà Lạc nhận xét: điều ác còn nhỏ mà biết trừng trị ngay thì đỡ lỗi.

Nguyễn Hiến Lê giảng rằng hào này là hạng dân thường mới làm bậy, bị cùm chân, chặt ngón chân cái. Chịu hình nhẹ như vậy, họ sẽ sợ phép nước mà từ nay không làm điều ác nữa, cho nên không có tội lớn.

Người mệnh hợp cách thì lúc đầu ở vị thấp, sau lên cao, cũng là bậc quý nhân. Người mệnh không hợp cách thì tầm thường, nhu nhược, hoặc có tật ở chân.

Về vận hạn: quan chức bị truất giáng; kẻ sĩ không gặp may; người thường phải đề phòng hình phạt và tật bệnh.

Hào lục nhị: cắn da, đứt mũi mà vẫn không lỗi

Hào âm. Hào từ nói cắn da thịt, đứt cả mũi, nhưng không có lỗi. Chỉ người làm việc pháp quan, xử người mà bị mang tiếng; người thường thì dễ gặp tai nạn. Toán Hà Lạc nói trị người thì khó tránh việc làm thương tổn người.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, đắc trung, đắc chính, lại được hào năm ứng, tức là người được bậc nguyên thủ giao quyền hình pháp, nên dễ thu phục kẻ có tội, công việc dễ như cắn miếng thịt mềm. Nhưng hào hai lại cưỡi lên hào một là dương cương, như gặp kẻ ương ngạnh, nên phải ra tay hơi quá, kẻ có tội chịu hình đau quá như bị cắn vào mũi. Đó là lỗi của hắn chứ hào hai vẫn trung chính, không có lỗi.

Người mệnh hợp cách là bậc lớn thì làm việc hình phạt lớn, nhỏ nhất cũng giữ chức có quyền xử người. Người mệnh không hợp cách thì da thịt bị tổn thương, mai danh ẩn tích, nên đi theo đường tu hành.

Về vận hạn: quan chức phạt người dân vô kỷ luật mà chính mình cũng bị phiền nhiễu; kẻ sĩ không gặp may; người thường nhiều việc bôn tẩu vất vả, điều nọ tiếng kia, hoặc sinh bệnh ngầm, tổn thương da thịt. Trong ngoài đều liên hệ với nhau, cửa nhà sinh chuyện ám muội, nên đề phòng cẩn mật mới giữ được yên.

Hào lục tam: cắn miếng thịt có xương, ăn phải độc

Hào âm ở ngôi ba. Hào từ nói cắn miếng thịt ôi, ngộ độc, hối thẹn đôi chút nhưng không có lỗi. Quan chức nhỏ, ít được tín nhiệm; kẻ sĩ kém tài, làm việc dễ thất bại; người thường có thể mang bệnh mãn tính. Toán Hà Lạc nói đức chưa đủ để trị người nên có sự bất phục.

Nguyễn Hiến Lê giảng rằng hào này bất trung bất chính, dùng hình ngục mà không được người phục, có khi còn bị oán, như cắn phải miếng thịt có xương lại bị ngộ độc. Nhưng đang ở thời Phệ Hạp, dùng hình pháp để giữ trật tự cho xã hội, nên việc làm tuy đáng ân hận mà chưa phải lỗi lớn.

Phan Bội Châu chỉ rõ thêm: hào ba cũng đang cắn như các hào khác, vậy vì sao lại ngộ độc? Bởi địa vị của hào này đứng đúng vào chỗ khó khăn, nên bắt tay vào việc dụng hình thường gặp khốn đốn. Lời Tượng bảo là do địa vị chẳng xứng vậy.

Người mệnh hợp cách thì tài nhỏ, chí cương, công danh nhỏ. Người mệnh không hợp cách hễ động làm là có điều hối, có nỗi lo.

Về vận hạn: quan chức nhỏ, hay rắc rối; kẻ sĩ tài thường lại còn bị bôi xấu; người thường việc khó xong, hoặc có tai nạn ở vùng tim bụng, kinh hãi.

Hào cửu tứ: cắn thịt khô có xương, được mũi tên đồng

Hào dương, là hào tốt. Hào từ nói cắn miếng thịt khô có xương, được mũi tên bằng đồng, chịu khó giữ chính thì tốt. Nhiều dịp may thăng tiến, đề bạt; kẻ sĩ thi đậu thành danh; thương gia kinh doanh phát đạt, lộc nhiều. Toán Hà Lạc nói người có quyền dùng hình phạt mà biết khéo dùng.

Nguyễn Hiến Lê giảng rằng hào này dương cương, đứng gần ngôi chí tôn, là người cương trực, có trách nhiệm, lại ở quẻ ngoại Ly nên có tài minh đoán. Vì vậy dù gặp kẻ ngoan cố cũng trị được dễ dàng, như cắn miếng thịt có xương đã phơi khô mà vẫn giữ được đạo cương trực, tượng bằng mũi tên đồng. Nhưng cương quá thì e gặp khó khăn nên lời hào khuyên phải chịu khó nhọc; tuy cương mà vị lại nhu (hào thứ tư ở ngôi chẵn) nên lại khuyên phải vững chí.

Người mệnh hợp cách là bậc đại quý nhân, giữ việc lớn, không sợ điều gì. Người mệnh không hợp cách thì chỉ là kẻ trọc phú.

Về vận hạn: quan chức vinh thăng; kẻ sĩ được tiến cử, thành danh; người thường buôn bán có lời. Trước khó sau dễ, như mũi tên bay thẳng lên tầng mây.

Hào lục ngũ: thịt khô trong tay, vàng ròng giữ chính

Hào âm ở ngôi chí tôn, hào tốt. Hào từ nói cắn miếng thịt khô, được vàng ròng, giữ chính biết lo nguy nên không có lỗi. Đây là thời của luật pháp công bằng: quan chức thanh liêm, công bằng thì được dân tin; kẻ sĩ nhiều thuận lợi để thành danh; người thường kinh doanh đắc lợi, nhiều vận may.

Nguyễn Hiến Lê giảng rằng hào này ở ngôi tôn, vừa nhu vừa cương, đắc trung, sáng suốt vì ở quẻ ngoại Ly, lại có hào bốn tài minh đoán giúp sức, nên thành công như cắn thịt khô, được người phục, được danh dự lớn, tượng trưng bằng vàng. Tuy vậy vẫn phải giữ vững đạo, thận trọng, biết lo sợ thì mới không có lỗi. Có cách giảng khác: vàng là vật quý, tượng cho ngôi tôn quý của hào năm; mà vàng lại là sắc của Đất, của phương Trung ương, như đen là của phương Bắc, đỏ của phương Nam, xanh của phương Đông, trắng của phương Tây. Vàng tượng cho đức trung của hào năm.

Phan Bội Châu bàn thêm: bốn hào giữa quẻ đều là người có quyền dụng hình, nhưng tài và vị của mỗi hào khác nhau nên lời hào cân nhắc khác nhau. Hào năm và hào hai tuy đều là âm, nhưng hai là nhu ở ngôi nhu, còn năm là nhu ở ngôi cương, được pha thêm đức cương, nên tài của năm hơn hai. Vì thế hào năm cắn được thịt khô, hào hai chỉ cắn được da thịt mềm. Hào năm với hào ba cũng cùng thể nhu, nhưng nhu ở hào ba là bất trung, nhu ở hào năm là đắc trung, nên vị năm hơn vị ba, hào năm được vàng, hào ba lại ngộ độc.

Ông nói tiếp: trong bốn hào, hào bốn dương là tốt nhất, vì dương là tài cương, mà hào bốn lại ở vị nhu, nên so với hào năm thì hơn về tài, so với hào ba thì hơn về vị. Tài và vị giúp đỡ nhau, nên chuyện gián cách gì cũng cắn đứt được. Từ đó ông rút ra điều đáng nghĩ: làm người một đời, có vị mà không có tài thì vẫn chẳng tạo nổi thời thế; có tài mà không có vị cũng phải đợi thời cơ; huống chi việc trừ gián, trừ bọn gian tà, là việc rất khó, rất lớn trong đời.

Người mệnh hợp cách thông minh, có tài dẹp loạn. Người mệnh không hợp cách thì giàu có lớn.

Về vận hạn: quan chức dùng pháp luật để trừ gian; kẻ sĩ thành danh; người thường hoạch lợi, bệnh khỏi, nạn giải.

Hào thượng cửu: đeo cùm che mất tai

Hào dương ở trên cùng, hào xấu. Hào từ nói mang cái cùm che mất tai, xấu. Đó là hình ảnh kẻ chủ quan không chịu nghe, như người bị đeo cùm che kín đôi tai. Quan chức dễ bị truất giáng, kỷ luật; kẻ sĩ bị gièm pha, phỉ báng, quấy nhiễu; người tàn tật hoặc kém tai mắt, thọ yểu. Toán Hà Lạc nói ác lớn thì tội nặng.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này cũng nói về kẻ chịu hình như hào một, nhưng xấu hơn, vì dương cương lại ở cuối quẻ, chỉ hạng cực ác, nên bị tội nặng, đeo gông, mất tai. Thế nên mới có lời rằng không tích lũy điều ác thì không đến nỗi diệt thân. Kẻ tiểu nhân cho rằng điều ác nhỏ là vô hại nên cứ làm; các điều ác cứ chất dần, đến lúc tội thành lớn thì không thể tha thứ.

Phan Bội Châu giải thích vì sao hào từ lại nói tội cắt tai: những người phạm tội ác phần nhiều là vì nhĩ quan không linh nhạy, nghe lời phải thì chống cự, nghe lời quấy thì lại theo bừa. Kết quả bị hình đến mức mất cả tai, cũng là đáng kiếp.

Người mệnh hợp cách giàu sang nhưng phải lo nhiều. Người mệnh không hợp cách thì cường bạo, hiểm nguy, luôn vướng tội vạ.

Về vận hạn: quan chức bị gièm pha, truất giáng; kẻ sĩ bị xấu hổ; người thường vướng kiện tụng. Số xấu thì tai mắt kém, khí huyết hư, hoặc tổn vong.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc