Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Lôi Thiên Đại Tráng: sấm vang trên trời, mạnh mà biết dừng trước lẽ phải

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Lôi Thiên Đại Tráng: sấm vang trên trời, mạnh mà biết dừng trước lẽ phải

Sấm nổ giữa trời, dương khí bốn bề dâng lên, ai nấy đều thấy mình mạnh mẽ. Nhưng con dê đực húc vào bờ giậu rồi mắc kẹt, tiến không được, lui không xong... Sức mạnh nào mới thật sự là của người quân tử?


Đại Tráng là mạnh: sấm vang trên trời

Quẻ số ba mươi bốn là Lôi Thiên Đại Tráng, tiết khí tháng hai. Đại Tráng nghĩa là chí khí mạnh mẽ. Trên là Chấn, là sấm; dưới là Càn, là trời.

Lôi tại thiên thượng, Đại Tráng. Quân tử dĩ phi lễ phất lý.

Lời Tượng nói sấm ở trên trời là quẻ Đại Tráng. Người quân tử nhìn quẻ này mà thấy điều gì không hợp lẽ phải thì chẳng làm. Người sinh vào tháng hai gặp quẻ này là hợp cách, công danh phú quý; sinh mùa xuân, mùa hạ thì phúc dày, mùa thu, mùa đông thì phúc mỏng.

Dương lớn mạnh, âm sắp bị đẩy lùi

Nguyễn Hiến Lê giảng: quẻ này có bốn hào dương ở dưới, hai hào âm ở trên, dương đã lớn mạnh mà âm sắp bị diệt hết. Quẻ Càn ở trong, quẻ Chấn ở ngoài, thế là có đức dương cương mà động. Lại có thể hiểu là tiếng sấm vang động trên trời, tiếng rất lớn, vang rất xa.

Học Năng giảng thêm: sấm động trên trời, khí dương đang lên, khí âm đang suy, nên tính chất người gặp quẻ này là lớn mạnh, có sức, có chí, giữ hoài bão, mạnh mẽ. Nhưng phải chính đáng thì mới thuận và phát triển; lại phải biết nén lòng riêng của mình thì mới mạnh. Không biết nén lòng thì sinh hung tợn, làm nhiều việc xấu.

Phan Bội Châu chú: cổ nhân có câu, lúc đang đắc ý càng nên nghĩ đến khi thất ý. Xưa nay tiểu nhân sở dĩ hãm hại quân tử, thường rình ngó vào lúc quân tử đắc chí mà vạch lá tìm sâu, ngậm cát phun vào mặt, cho nên quân tử càng phải biết lo sợ, tu tỉnh. Lời quẻ chỉ có mấy chữ Đại Tráng lợi chính bền mà ý nghĩa thật đầy đủ: chính bền là nguyên nhân tạo ra cái lớn; lớn là kết quả của chính bền; lớn mà thường giữ chính bền thì mới bảo tồn được sức mạnh. Đó là ý của thánh nhân phù trợ quân tử.

Ông giảng lời Tượng: quân tử xem quẻ này mà bắt chước cấu trúc Đại Tráng, làm theo cách Đại Tráng, gây phấn chấn tinh thần của mình, đánh đổ giặc tư dục, tự cường không nghỉ, cố theo thánh hiền. Việc gì không hợp với lẽ trời thì quyết không làm. Kinh Phật nói rằng mọi thứ giặc ở ngoài đều có thể đánh đổ được, duy có sáu giặc ở trong mình là khó đánh; nếu đánh được giặc đó mới là đại tráng của quân tử. Tử Lộ hỏi Khổng Tử về sự cường, Khổng Tử dạy: quân tử hòa với chúng mà không trôi nổi theo chúng, đứng được bằng cách trung chính mà không nương dựa vào phía nào. Mạnh vậy thay! Xưa nay những cách trợn mắt, xông vào súng đạn, nhảy vào nước lửa, thói thường vẫn khen là tráng, những võ phu dũng sĩ thường làm được; đến như cầm được tư tình, biến hóa được khí chất thì phải có nghĩa lý, chí dũng như quân tử mới làm nên, nên nói rằng quân tử thấy điều gì không hợp lẽ phải thì chớ làm.

Về dự báo, quẻ Đại Tráng chỉ thời vận thịnh vượng nhưng không bền, không lợi cho việc triển khai công việc quy mô lớn. Hậu vận không tốt, lúc đầu thuận lợi, về sau dễ thất bại. Quẻ tượng cho sự trưởng thành đang lúc nóng nảy nên sự nghiệp khó bền. Tài vận không đến, hữu danh vô thực; công việc không nên kéo dài, càng lâu càng bất lợi; xuất hành dễ đi xa; thi cử dễ thất bại; kiện tụng dễ thua; mất của khó tìm; sức khỏe ốm đau dễ nặng.

Hào sơ cửu: mạnh ở ngón chân, tiến liều là khốn đốn

Hào dương, hào xấu. Mạnh ở nơi ngón chân, tiến đi thì xấu, tin chắc là vậy; giống như người tài hèn chí mọn muốn làm việc lớn là không được.

Tráng vu chỉ, chinh hung hữu phu.

Toán Hà Lạc nói tiến liều là khốn đốn.

Học Năng giảng: hào một ở lúc mới bắt đầu, thể Kiện giống người ở địa vị thấp mà lại láu táu quá hăng, chỉ dùng ngón chân mà tiến, thế nào cũng vấp ngã.

Phan Bội Châu nhấn mạnh: chữ tin chắc là chắc chắn xấu vậy. Giảng lời Tượng: ở vào thời Đại Tráng, thời Tráng vẫn có lẽ hay, nhưng hào một ở địa vị tối hạ mà toan dùng cách hăng mạnh ra với đời thì hạng người ấy tất nhiên cùng khốn.

Người mệnh hợp cách có tài giỏi, sáng suốt, cứ thong dong mà xem cuộc biến, ngẫm nghĩ suy xét ý nghĩa mà liệu thời cơ, không nóng vội tiến lên thì giữ toàn vẹn được thân, nhà; là người biết suy nghĩ đắn đo, tránh được tai vạ. Người mệnh không hợp cách thì cậy mạnh làm càn nên sinh gian lận, tận cùng khốn khó; là người dễ làm liều chuốc lấy tai nạn. Người ốm yếu gặp hào này dễ bị bệnh nặng, kẻ bình thường dễ bị dèm pha, kiện tụng, gặp điều chẳng lành.

Về vận hạn: giới quan bị dèm pha, nhục nhã; kẻ sĩ gặp điều không hay; người thường kiện tụng lôi thôi, phòng bệnh ở chân. Việc làm cứng rắn không hay, cơ mưu thêm hại, thẳng ngay chí lành.

Hào cửu nhị: mạnh mà không thái quá, đắc trung nên tốt

Hào dương, hào tốt. Giữ chính đáng nên tốt lành.

Trinh cát.

Toán Hà Lạc nói trở lại đường chính.

Phan Bội Châu giảng: đây là hào dương lại ở vị trí âm nhu và giữa, thế là cương nhu phối hợp, vừa đắc trung, mạnh mà không quá mạnh, do đó mà giữ được chính bền, tốt lành.

Ông chú thêm: ở các quẻ khác, hào dương ở vị trí âm là bất chính; nhưng ở quẻ Đại Tráng, hào hai dương đã đắc trung rồi, mà đã đắc trung thì chẳng bao giờ bất chính. Đó là lẽ biến hóa trong Dịch. Lời Tượng nói hào hai dương mà được chính tốt là vì được đạo Trung.

Người mệnh hợp cách khỏi thiên lệch, khỏi thái quá, thành người cột cán của quốc gia; là người có địa vị cao quý, ngay thẳng, liêm chính. Người mệnh không hợp cách cũng là người có đức độ trung thực, sống an lạc.

Về vận hạn: giới quan ngôi vị thanh cao; kẻ sĩ tiến thủ thành danh; người thường kinh doanh toại ý, dễ gặp may. Ngôi chính khiêm nhường ở, tốt bền tự chẳng sao.

Hào cửu tam: kẻ tiểu nhân cậy sức, người quân tử cũng nguy

Hào dương, hào xấu. Kẻ tiểu nhân dùng sức đang hăng, người quân tử dùng sức gan liều, dù chính đáng vẫn nguy. Con dê đực húc vào bờ giậu, gãy cả sừng.

Tiểu nhân dụng tráng, quân tử dụng võng, trinh lệ; đê dương xúc phiên, luy kỳ giác.

Toán Hà Lạc nói cậy sức đang hăng nên khó thoát nguy.

Phan Bội Châu giảng: hào dương ở vị trí ba dương, đều là dương cả, thời Đại Tráng, cuối thể Càn, nên là cực tráng. Có hai cách xử sự của hai loại người: quân tử thì gan góc và liều, tiểu nhân thì hung hãn và mạnh. Thủ đoạn tuy khác nhưng quy lại cũng là tráng, là bướng. Tượng của nó là con dê đực cậy mình có sừng, thấy giậu, tường là húc; giậu tường không đổ mà sừng thì gãy. Tiểu nhân vì hăng mạnh mà mất mạng, quân tử thì mang họa; chính mà vẫn nguy là thế. Lời Tượng nói: tiểu nhân mà như hào ba dương thì vì tráng mà mất thân; quân tử mà như hào ba dương thì vì làm càn mà mang họa.

Ông chú thêm: mỗi hào trong Dịch bao gồm nhiều hạng người, nên thánh nhân thường đặt ra hai nghĩa. Hào năm âm quẻ Hằng: đàn ông xấu, đàn bà tốt. Hào hai âm quẻ Bĩ: tiểu nhân tốt, đại nhân thì Bĩ mà hanh thông. Hào bốn dương quẻ Độn: quân tử tốt, tiểu nhân thì bỏ. Hào ba dương này cũng vậy. Người vận dụng được hào chứ không phải hào vận dụng được người. Xin bạn đọc chớ câu nệ vào văn tự mà không biết lý.

Người mệnh hợp cách cũng là bậc quân tử, nhưng coi việc thiên hạ không đáng làm nên thiếu kiên trì, thận trọng để xem xét sự biến đổi, coi người thiên hạ không ai đáng sợ nên thiếu thong dong để nhận định thời cơ, vì vậy dù ngay thẳng cũng gặp nguy; là người có danh tiếng nhưng không biết lượng sức mình mà phạm sai lầm, mang tai vạ. Người mệnh không hợp cách thì khí huyết cương cường, hay tranh giành, hay khởi sự đua tranh, hao tổn tài lộc, khuynh bại nhà; là kẻ ngông cuồng, thích gây sự, đấu tranh không đúng mức, chuốc nạn vào thân.

Về vận hạn: giới quan hoạn nạn, gian truân, tiến thoái đều khó tránh; kẻ sĩ bị ngăn trở, trì trệ; người thường gặp kiện tụng, có tang, thương tổn, hình khắc, đa đoan, nhiều bất lợi về người và của; mệnh nữ gian truân. Người quân tử buổi tráng cường, lo xa đừng xử quá cương bao giờ.

Hào cửu tứ: bờ giậu đã mở, trục xe vững vàng

Hào dương, hào tốt. Giữ được chính thì lành, khỏi ăn năn gì. Người biết chuyển nguy thành an. Bờ giậu đã tung, chẳng phải mệt nhọc nữa. Sức đang hăng đặt ở cái trục bánh xe lớn. Mọi việc trước khó sau dễ.

Trinh cát, hối vong; phiên quyết bất luy; tráng vu đại dư chi phúc.

Toán Hà Lạc nói trở về đường chính thì có thể tiến được.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, qua khỏi quẻ nội là Càn mà lên quẻ ngoại là Chấn, là tráng thịnh đến cực điểm; nó ở trên hết các hào dương, làm lãnh tụ đám quân tử. Sợ nó hăng quá mà làm đường nê, nên phải dặn kỹ: giữ điều chính thì mới tốt, khỏi ăn năn. Trên nó là hai hào âm, âm đã đến lúc suy, dễ đánh đổ, như cái giậu trước mặt hào bốn đã mở, không còn bị khốn nữa; nó có thể dắt ba hào dương ào ào tiến lên dễ dàng, cơ hội thuận lợi như ngồi cỗ xe lớn mà trục xe vững vàng.

Người mệnh hợp cách sửa điều thiên lệch cho ngay lại, không dùng quá cương, nên tiến dễ dàng, dựng nên sự nghiệp; văn chương phát lên lúc thanh niên, muộn tuổi được hưởng phúc trạch; là người có tài xoay chuyển tình thế, chuyển bại thành thắng, làm nên công nghiệp. Người mệnh không hợp cách cũng bình sinh được an vui, chuyển Bĩ thành Thái, nghiệp nhà phúc hậu; là người khéo léo, có cuộc sống an vui.

Về vận hạn: giới quan phận hẩm hiu thì khởi lên được; kẻ sĩ đỗ cao; người thường hưởng phúc, tĩnh lâu thì động tất được lành, kinh doanh phát đạt về sau. Trinh lâu hay động hợp thời, tai qua phúc đến đường đời thênh thang.

Hào lục ngũ: lấy mềm dẻo để lũ dê bớt hung hăng

Hào âm, hào bình. Làm mất sự hung hăng, làm nhụt tính cương của bầy dê, tức bốn hào dương, bằng cách vui vẻ, dễ dãi, nên không có gì phải ăn năn. Hào này tuy không đúng vị nhưng được việc.

Táng dương vu dị, vô hối.

Toán Hà Lạc nói đức không đủ để tiến mà vẫn được việc.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở ngôi chí tôn, nhưng vốn âm nhu, không thể áp đảo được bốn hào dương ở dưới, phải vui vẻ, dễ dãi với họ để họ bớt hung hăng. Bốn hào dương ví như bầy dê hung hăng. Sở dĩ phải có thái độ đó là vì ngôi của hào năm quá cao so với tư cách âm nhu của nó.

Người mệnh hợp cách lấy sự mềm dẻo để cảm phục kẻ cường bạo, đổi khó thành dễ, yên được việc; là người mềm dẻo, biết lấy nhu thắng cương, giải quyết được công việc, đạt phúc lộc cao. Người mệnh không hợp cách thì nhu nhược, phúc nhỏ, thọ kém; yếu đuối, phúc mỏng, kinh doanh thất bại; là sĩ tử thì khó thành danh.

Về vận hạn: giới quan sơ sài, lỏng lẻo trong thi hành phận sự; kẻ sĩ mất tiếng; người thường mưu không thành, không nên việc gì; người ốm có triệu chứng nguy.

Hào thượng lục: dê mắc kẹt trong bờ giậu, lui không được tiến không xong

Hào âm, hào xấu. Con dê đực húc vào bờ giậu, không lui được, tiến cho toại ý cũng không được, chẳng có lợi gì cả; chịu khó nhọc thì tốt.

Đê dương xúc phiên, bất năng thoái, bất năng toại, vô du lợi, gian tắc cát.

Toán Hà Lạc nói hết thời Tráng rồi mà còn cứ tráng thì không lợi gì.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở trên cùng quẻ Đại Tráng, là hết thời lớn mạnh, mà cũng ở trên cùng quẻ ngoại Chấn, là rất ham động mà bất lực vì âm nhu, như con dê đực hung hăng húc vào giậu, mắc kẹt, lui không được, tiến lên cho toại ý cũng không được. Không lợi chỗ nào cả. Nếu bỏ tính hung hăng húc càn đi mà chịu khó nhọc thì tốt.

Phan Bội Châu giảng lời Tượng: muốn lui mà lui cũng không xong, muốn tiến mà tiến cũng không được, là vì mình tự xử không thấu đáo, nên đến nỗi thế. Nhưng còn may, đến lúc đại tráng đã cùng rồi, nhân lúc cùng mà biến đổi, biết gian nan tự giữ mình thì tội lỗi cũng không bao nhiêu. Vậy nói rằng gian nan tất lành.

Ông phụ chú về cả quẻ: Đại Tráng là quẻ dương thịnh âm suy, theo thường lệ là quẻ tốt, mà lời hào trong sáu hào lại không có hào nào là thật tốt. Bởi vì thời Đại Tráng tuy là một vận hội rất tốt, nhưng hễ phúc thường nấp cơ họa, thời thịnh thường nấp cơ suy. Lời quẻ chỉ nói về Thời nên không thấy xấu; lời hào lại nói riêng từng hạng người trong thời Đại Tráng, thấy phúc phải lo đến họa, thấy thịnh phải lo đến suy, tất phải dùng những lời răn đe ngăn ngừa, nên lời hào không thể nói tốt. Đó chính là vì lẽ tiêu, tức, doanh, hư trong Dịch mà thánh nhân phải dặn trước cho người ta; chính như nghĩa lời hào ba dương quẻ Thái, muốn cho người ta chớ thấy đại tráng mà đắc ý.

Người mệnh hợp cách có thận trọng, trong xét lý sự, ngoài thuận thời thế, khéo dùng sức mạnh thì cũng tiến được; là người khôn khéo, biết chèo chống. Người mệnh không hợp cách thì chí mạnh tài kém, chẳng lượng nên hay chăng, dễ gặp nguy hiểm; là kẻ lấy sức đè người, chuốc lấy tai nạn.

Về vận hạn: giới quan bị truất giáng, dễ bị gièm pha; kẻ sĩ khó tiến, khó thi thố tài năng, khó thành danh; người thường vượt phận, trái nghĩa, có điều tiếng, thị phi tranh chấp, kiện tụng gặp khó khăn.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc