Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thiên Hỏa Đồng Nhân: hòa đồng mà không ép cho giống nhau

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202612 phút đọc3 lượt đọc
Thiên Hỏa Đồng Nhân: hòa đồng mà không ép cho giống nhau

Ngọn lửa bốc lên chạm tới trời, soi sáng cả những góc người ta chưa kịp gọi tên. Nhưng chữ đồng dễ khiến người ta nhầm: có kẻ định ép cá lên rừng, đưa chim xuống nước cho đủ một lòng... Vậy hòa đồng thật sự phải bắt đầu từ đâu?


Đồng Nhân: cùng chung với người, đồng tâm hiệp lực

Quẻ số mười ba là Thiên Hỏa Đồng Nhân, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Giêng. Đồng Nhân nghĩa là cùng chung với người, đồng tâm hiệp lực. Trên là Càn, là trời; dưới là Ly, là lửa.

Thiên dữ Hỏa, Đồng Nhân. Quân tử dĩ loại tộc biện vật.

Lời Tượng nói rằng trời với lửa là quẻ Đồng Nhân. Người quân tử nhìn quẻ này mà phân biệt sự vật ra từng loại, từng giống.

Người sinh vào tháng Giêng gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Hợp quẻ là các tuổi Giáp Ngọ, Giáp Thân, Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Kỷ Mão, Kỷ Hợi, Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất. Được quẻ này rất tốt.

Lửa bốc lên tận trời, soi sáng khắp thế gian

Ly ở dưới là lửa, là sáng, là văn minh; Càn ở trên là trời. Quẻ có tượng ngọn lửa bốc lên cao tới tận trời, cùng soi sáng khắp thế giới, nên tốt. Dù có hiểm trở gì cũng vượt được. Phan Bội Châu bảo đó chính là cảnh tượng đại đồng vui vẻ. Muốn được vậy phải có đức trung chính của người quân tử.

Trong quẻ, hào hai ở nội quái Ly là hào âm duy nhất, quan trọng nhất trong sáu hào: âm nhu, đắc chính, đắc trung, lại ứng hợp với hào năm dương cương cũng đắc chính, đắc trung. Đó là tượng trong ngoài tương đồng, nên gọi là Đồng Nhân. Văn minh ở trong, cương kiện ở ngoài, ấy là hình ảnh người quân tử thông suốt được tâm trí của thiên hạ.

Theo lời Tượng, người quân tử muốn thực hiện cảnh mọi vật cùng sống chung với nhau thì phải phân biệt từng loại của các giống, hễ cùng loại thì đặt chung với nhau, để mỗi vật phát triển được năng lực sở trường và thỏa nguyện vọng. Có vậy thì tuy vốn khác nhau mà vẫn hòa đồng được.

Phan Bội Châu chỉ rõ thêm rằng thánh nhân sợ chúng ta chỉ xem mặt chữ đồng mà nhận lầm nghĩa, toan ép những kẻ vốn bất đồng phải làm cho đồng. Như vậy khác nào thả cá lên rừng, đưa chim xuống nước, mời học trò ra cày ruộng, rước phu cày ra làm bài. Chỉ thành nhiễu loạn thiên hạ, làm gì thành Đồng Nhân được.

Trình Di nói thêm rằng quẻ này còn có lợi cho việc sang sông lớn, tức vượt hiểm trở. Đức của quẻ là văn vẻ sáng sủa và mạnh, lấy đạo trung chính ứng nhau làm chính đạo của người quân tử.

Bức tranh chung: được lòng quần chúng, phải biết nắm lấy cơ hội

Quẻ chỉ thời vận tốt, đang được tín nhiệm trong quần chúng, là người đang có tên tuổi, có cơ hội dễ hoàn thành sự nghiệp. Thời cơ có nhiều người theo, dễ có những hành động trung thực, cần phải tranh thủ, không bỏ lỡ cơ hội.

Tài vận: dồi dào. Kinh doanh: phát đạt. Đi xa: bình yên. Thi cử: gặp thời dễ đỗ cao, tìm việc dễ toại nguyện. Bệnh tật: chóng lành. Tình yêu và hôn nhân: thuận lợi, tìm được người tâm đầu ý hợp.

Hào sơ cửu: ra đến cửa mà cùng người, nên không lỗi

Hào này tốt. Hào từ nói đại ý: cùng chung với người ở ngoài cửa thì không lỗi. Như người biết kết thân với người ngoài là tốt, có cơ hội dễ thăng tiến. Sĩ tử thi đậu, tìm được việc làm. Người tu tạo được nhà cửa, kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc ngắn gọn: cải cách tốt.

Hào dương này như người quân tử mới bắt đầu ra đời, đã muốn cùng chung với người khác, thì có gì đáng trách. Trình Di phân tích lời hào: ra cửa cùng người ở ngoài, đó là sự cùng đã rộng, không có thiên tư. Người ta cùng nhau thường có hậu bạc, thân sơ khác nhau, tội lỗi do đó mà ra. Đã không bè đảng thiên lệch với ai thì còn ai trách được nữa.

Người mệnh hợp cách khoan dung, chí công vô tư, là người có lòng độ lượng, biết dùng người ngoài, công bằng. Người mệnh không hợp cách thì rời quê cha, hoặc đến ở nhà vợ, hoặc làm khách buôn, tăng ni: là người tha phương, buôn bán xa, phải kết thân với người ngoài để làm ăn, hoặc là những nhà tu hành.

Về vận hạn: quan chức vào trung tâm, thăng chuyển; học trò ra trường, tốt nghiệp, được tiến cử; người thường cùng bạn đường xa kinh doanh được lợi, hoặc đi xa, hoặc tu tạo nhà cửa, hoặc nhờ cửa nhà khác.

Lòng đây, việc đấy hòa đồng, cửa ngoài gặp bạn nên công rỡ ràng.

Hào lục nhị: chỉ cùng người trong họ, ấy là hẹp hòi đáng thẹn

Hào này bình, không tốt không xấu hẳn. Hào từ nói cùng chung với người trong họ, trong tông phái thì đáng hổ thẹn. Chỉ làm được việc nhỏ, vì hay cảm tình, thiên vị với họ hàng, người quen; phúc lộc nhỏ. Toán Hà Lạc nhận xét có sánh vai với người, nhưng không tốt.

Hào này tuy đắc trung đắc chính, nhưng ở vào thời Đồng Nhân là thời cùng chung với mọi người mà lại chỉ ứng hợp riêng với hào năm ở trên, như chỉ cùng chung với người trong họ, trong đảng phái của mình thôi. Thế là hẹp hòi, đáng xấu hổ.

Phan Bội Châu chú thêm rằng ở toàn quẻ, Văn Vương phát minh nghĩa Đại đồng, nói cùng người rộng lớn thì tốt. Còn lời nghĩa từng hào thì răn bảo những người làm cách tiểu đồng, trái với đại đồng, rằng cùng người trong tông phái là hổ thẹn. Nghĩa quẻ và nghĩa hào đặt đôi cho nhau, người học Dịch phải nhận kỹ cả hai bên. Trình Di nói hào năm ở quẻ Đồng Nhân không tượng cho bậc nguyên thủ, bởi gần gũi riêng tây thì không phải đạo làm vua. Cho nên các quẻ khác lấy sự trung chính ứng nhau làm hay, mà ở quẻ Đồng Nhân thì đáng tiếc.

Người mệnh hợp cách tài cao đức trọng nhưng thiên lệch. Đứng đầu khoa bảng hoặc làm khoa trưởng, hoặc là người thân, tay trong của chính quyền; có quyền chức nhưng tính tình thiên vị, câu cạnh cả những thuộc hạ của cấp trên. Người mệnh không hợp cách làm khách nơi rừng núi, nhờ vả thân thích; phải nương nhờ nhà mạc, người quen, sống tha phương.

Về vận hạn: quan chức địa vị cục bộ, lộc bình thường; học trò thi đỗ văn bằng nhỏ; người thường nhiều việc lưỡng lự, bạn bè ngờ nhau, bo bo nơi gần, lạnh lùng nơi xa, mang tiếng thị phi.

Hào cửu tam: giấu binh khí trong rừng, ba năm không hưng nổi

Hào này xấu, nhiều gian nan vì hành động không lượng sức mình, không nắm được thời cuộc, nên lắm tình địch cạnh tranh, dèm pha, lừa lọc. Hào từ vẽ cảnh giấu binh khí, núp quân trong rừng rậm mà thập thò, lên gò cao mà nhìn, ba năm chẳng hưng vượng được. Toán Hà Lạc nói chẳng có phận thì cạnh tranh sao được.

Hào này muốn hợp với hào hai âm ở dưới, nhưng nó quá cương, dương ở ngôi dương, lại bất đắc trung, như một kẻ cường bạo. Trong khi đó hào hai đã ứng hợp với hào năm ở trên. Hào ba sợ hào năm mạnh nên không dám công kích hào hai, chỉ núp trong rừng rình trộm, rồi thập thò lên đồi cao mà ngó. Vì thế ba năm cũng không hưng vượng lên được.

Phan Bội Châu bình rằng lời hào miêu tả đúng tình trạng kẻ tiểu nhân. Muốn tranh người mà lại lo sức mình địch không nổi; biết sức mình địch không nổi nhưng vẫn cứ lo rình cướp người. Ở trong quẻ Đồng Nhân mà có lời hào này, ta nên biết làm đồng nhân thật là khó.

Người mệnh hợp cách chí hướng bất định, hành động bất thường, tự chuốc lấy lo âu thất bại. Cậy mạnh, sinh thế, muốn cái này, thích cái kia, nên nhiều lo sợ, tấm lòng khó đoán; hoặc làm quân đi xa, hoặc ở ẩn nơi rừng rậm gò cao. Người mệnh không hợp cách phóng đãng phạm pháp, nhiều tai họa; kẻ ăn chơi lêu lổng, phạm pháp, tù đày.

Về vận hạn: quan chức phòng giáng chức; học trò có cơ hội được lên cao (hào xấu mà dự đoán tốt, thuộc lẽ biến dịch, tùy người mà đoán định); người thường nghi ngờ, cạnh tranh, trong vinh có nhục. Đại khái mọi việc nên đề phòng.

Đấm đá chi, chỉ mất công, về nhà hưởng phúc, bên sông gió lành.

Hào cửu tứ: cưỡi lên tường đất mà không dám đánh, thế là tốt

Hào này tốt. Hào từ nói cưỡi lên bức tường đất mà không dám đánh, thế thì tốt. Biết thời cơ, biết lựa sức, giữ được cơ nghiệp. Toán Hà Lạc nói biết lấy điều nghĩa mà chế tài cái thế lực.

Hào này cũng dương cương, bất trung bất chính, cũng muốn hợp với hào hai, chèn ép hào ba mà cướp hào hai. Hào ba nằm giữa hào hai và hào bốn như bức tường ngăn cách; hào bốn ở trên hào ba như đã cưỡi lên bức tường đó. Nhưng hào bốn tuy cương mà ở vị âm, còn có chút nhu mềm, nên nghĩ lại, không thể chèn ép hào ba được. Như vậy là biết trở lại phép tắc, nên lời hào bảo thế thì tốt.

Phan Bội Châu dẫn chuyện xưa: một nước lớn lấy binh lực đưa công tử Tiệp Tri về nước Trâu, ép nước Trâu lập Tiệp Tri làm vua, nhưng vì nghĩa con thứ không thể đoạt ngôi, nên phải chịu lui mà không đưa về. Đó chính là ứng nghiệm với hào này.

Người mệnh hợp cách biết cơ mà thoát, biết đủ mà không tham. Hoặc giữ chức trấn thủ biên thành, hoặc giàu có ở nhà lớn tường cao. Là người biết tiến lui, biết lấy nhu thắng cương, làm nên sự nghiệp, số phú quý giàu sang. Người mệnh không hợp cách cũng được người trên tin dùng, người dưới phục vụ; là người có chừng mực, có cân nhắc, được tín nhiệm.

Về vận hạn: quan chức có công tu bổ thành trì, cơ sở; học trò chưa có công trạng gì nhưng có dịp được vinh hoa; người thường có sự nghi kỵ, đấu tranh, trong vinh có nhục.

Hào cửu ngũ: lúc đầu kêu gào, về sau cười vui, phải dùng đại quân mới gặp nhau

Hào này tốt, trước khó sau dễ. Hào từ nói cùng với người, trước thì kêu gào, sau thì cười; phải dùng đại quân đánh thắng rồi mới gặp nhau. Riêng kinh doanh khó lường, lúc được lúc mất. Toán Hà Lạc ghi rằng trước bực mình, sau mới gặp, cũng phải mượn đến sức mạnh mới xong.

Hào này dương cương, trung chính, ứng hợp với hào hai, thật là đồng tâm đồng đức, tốt. Nhưng giữa hào năm và hào hai còn có hai hào ba và bốn ngăn cản, dèm pha, phá rối. Vì thế mới đầu phải kêu gào hô hào, phải dùng đại quân dẹp hào ba và bốn, rồi hào hai và hào năm mới gặp nhau mà vui cười. Công việc hòa đồng nào lúc đầu cũng phải vượt qua những thử thách như vậy.

Người mệnh hợp cách có tài đức, danh giá, nhưng trước khó sau dễ. Hoặc làm tư lệnh quân đội, hoặc giữ chức trung cấp. Là người có tài đức, phát về binh nghiệp, có vị trí cao, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách thì gian nan, hình thương, mãi sau mới gặp dịp nhưng phúc ít họa nhiều; là người gặp nhiều gian nan vất vả, khó thành đạt.

Về vận hạn: quan chức trước bị cách giáng, sau mới khỏi lên được; học trò trước vất vả sau mới gặp dịp; người thường trước khó sau dễ, buồn vui bất thường.

Dùng quyền, người chửa thuận tòng, khi thêm sức mạnh, thành công đến liền.

Hào thượng cửu: cùng người ở cánh đồng ngoại thành, không hối hận

Hào này bình. Hào từ nói cùng với người ở cánh đồng ngoài đô thành thì không hối hận. Vô thưởng vô phạt, không phải hội tiệc. Toán Hà Lạc nói đứng riêng, tự thu hoạch cũng có điều sở đắc.

Cánh đồng ngoài đô thành thì không rộng bằng cánh đồng ở thôn quê. Hào này tuy ở cuối quẻ Đồng Nhân nhưng không có hào nào ứng với nó, nên chí hướng chưa được thực hiện như mong muốn. Chỉ mới như cùng với người ở cánh đồng ngoài đô thành thôi, chưa ở giữa đám đông hội rộng lớn được.

Người mệnh hợp cách tâm quảng đại, có tài đức, giàu sang. Là người có phúc lộc, đạt được ý nguyện, chức sắc nơi đô thành. Người mệnh không hợp cách là tăng ni ngoài thành, là khách buôn chưa toại ý; là người không toại chí, nhà tu hành nơi thôn xóm, lênh đênh không gặp may, nhà buôn nơi xa thành phố, phúc lộc tầm thường.

Về vận hạn: quan chức thường đi xa; học trò khó gặp cơ hội tốt; người thường an thường thủ phận, sinh nhai đạm bạc.

Nhân tình cách trở nhiều khê, phương Nam tìm tới bạn bè hay hơn.

Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc