Bài tổng quan
Sơn Phong Cổ: dưới núi có gió, đổ nát là lúc dựng lại
Gió đụng chân núi rồi quặt ngược lại, cơ nghiệp cha ông để lại đang mục từng chỗ. Có người cứng đến mức làm hỏng việc, có người mềm đến mức chỉ biết ngồi nhìn, và có một người chọn đứng ngoài tất cả... Vậy ai mới thật sự gánh được cái đổ nát ấy?
Mục lục · 8 phần
- 01Cổ là việc, là đổ nát cần dựng lại
- 02Gió đụng chân núi, quặt lại: tượng của sự đổ nát phải làm lại
- 03Hào sơ lục: gánh việc đổ nát của cha, có con thì cha không lỗi
- 04Hào cửu nhị: gánh việc đổ nát của mẹ, đừng cố chấp
- 05Hào cửu tam: gánh việc của cha, có chút ăn năn nhưng không lỗi lớn
- 06Hào lục tứ: kéo dài sự đổ nát của cha, cứ thế thì thấy thẹn
- 07Hào lục ngũ: gánh việc của cha mà được danh dự
- 08Hào thượng cửu: không thờ vương hầu, chỉ sùng cao chí của mình
Cổ là việc, là đổ nát cần dựng lại
Quẻ số mười tám là Sơn Phong Cổ, thuộc hàng quẻ tốt, tiết khí tháng Giêng. Cổ nghĩa là việc, cũng nghĩa là hư hoại, lắm việc phải làm. Trên là Cấn, là núi; dưới là Tốn, là gió.
Sơn hạ hữu phong, Cổ. Quân tử dĩ chấn dân, dục đức.
Lời Tượng nói rằng dưới núi có gió là quẻ Cổ. Người quân tử nhìn quẻ này mà làm phấn khởi lòng dân và nuôi dưỡng đức tính.
Toán Hà Lạc ghi rằng phàm được quẻ này thì phần nhiều bắt đầu phải gian nan hoặc mê muội, sau mới làm nên, được thừa hưởng tổ nghiệp. Người sinh vào tháng Giêng gặp quẻ này là cách công danh phú quý, nhưng đối với cha mẹ, gia đình thì không được thuận thảo.
Vinh hoa đừng cậy uy quyền, sợ rằng đeo nhục khổ phiền thân tâm.
Gió đụng chân núi, quặt lại: tượng của sự đổ nát phải làm lại
Trên là núi, dưới là gió. Gió đụng vào núi rồi quặt lại, đó là tượng loạn, không yên, tất phải có công việc.
Cũng có thể hiểu theo cách khác. Tốn ở dưới là thuận, mà Cấn ở trên là ngưng chỉ, tức ngừng lại, cấm đoán. Người dưới thì nhu, người trên thì cương, đem sức cương mà nén người nhu ở dưới, như vậy mọi sự sẽ đổ nát, phải làm lại. Đổ nát mà làm lại thì rất nên, rất tốt, nên mới có lời nguyên hanh. Nhưng phải xông pha nguy hiểm như vượt sông lớn, rồi sẽ có lợi.
Được quẻ này, lời Kinh dạy phải suy nghĩ có kế hoạch trước sau, tính trước ngày Giáp ba ngày và sau ngày Giáp ba ngày. Ví dụ ngày Giáp bắt tay vào công việc thì phải nghĩ tới trước ba ngày, tức ngày Tân, đồng âm với chữ Tân nghĩa là đổi mới, để xem nguyên nhân nào gây ra đổ nát. Lại phải nghĩ sau ba ngày, tức ngày Đinh, đồng âm với chữ đinh ninh tin chắc, để phòng bị cho tương lai. Làm lại mới mà được như vậy thì rất tốt.
Phan Bội Châu đặt một câu hỏi: thời Cổ là thời đổ nát, rất xấu, mà lời Kinh lại cho hai chữ Nguyên Hanh là vì sao? Xưa nay người đời không lo việc đại loạn mà chỉ lo không có người dẹp loạn, không lo cảnh hiểm mà chỉ lo không có tài vượt hiểm. Nếu những người sửa sang đổ nát có gan lớn, tài cao, lại có tâm lòng, có trí lo liệu, thì thời loạn chính là đường mở ra cuộc sửa đổi, cảnh hiểm chính là lối đưa đến hòa bình. Lời quẻ bảo qua sông lớn có lợi, lại dạy cách lo trước ba ngày, lo sau ba ngày Giáp, thật chẳng sót gì. Nếu chỉ có tài qua sông lớn mà không có kế hoạch lo trước lo sau, hoặc có kế hoạch mà không có gan vượt sông, thì đều không phải là tài sửa sang đổ nát. Như thế thì Cổ làm sao mà nguyên hanh được.
Ông còn chỉ rõ vì sao lời Tượng bảo người quân tử ở thời Cổ phải phấn khởi lòng dân và nuôi dưỡng đức dân. Sửa sang đổ nát có rất nhiều công việc, nhưng kể ra việc đáng làm nhất, chẳng việc gì lớn hơn việc cổ vũ khí dân, nuôi dưỡng đức dân và thức tỉnh trí dân.
Hào sơ lục: gánh việc đổ nát của cha, có con thì cha không lỗi
Hào này tốt. Hào từ nói cáng đáng việc đổ nát của cha; có con thì cha không lỗi; nguy hiểm nhưng cuối cùng tốt. Biết chấn hưng việc làm của người trước, quần chúng phấn khởi, công việc được chỉnh đốn, được tín nhiệm. Kẻ sĩ làm rạng rỡ cha ông. Người thường phát triển được cơ nghiệp cũ, kinh doanh giỏi, nhiều phúc lợi. Toán Hà Lạc: sửa sang tổ nghiệp.
Ở hào một, đổ nát chưa nhiều, sửa sang lại cũng dễ. Nhưng hào này âm nhu, bên trên không có ứng viện, có thể gặp cảnh khó khăn, phải biết lo sợ thì sau mới tốt. Quẻ Cổ lấy việc trong nhà làm thí dụ nên nói đến cha con.
Phan Bội Châu nhận xét rằng Dịch vốn lấy cốt là biến thông. Dù là quốc gia hay xã hội, hễ đụng vào thời đại nào mà người trước đã làm ra tệ hoại, người sau sửa sang, thay đổi những việc cổ ấy để gây dựng nên cuộc canh tân, thì cũng có thể gọi là cáng đáng công việc đổ nát của cha. Cha ở đây chỉ vào những bậc tiên nhân, chẳng phải chỉ câu nệ hai chữ cha con.
Người mệnh hợp cách dũng tiến, quyết tâm làm; trải bao gian nan, lập được công trạng, đúng đạo nghĩa của tiên nhân, để lại quy mô cho con cháu. Người mệnh không hợp cách không được nhờ tổ nghiệp, khó nhưng không nản, vinh mà không kiêu.
Về vận hạn: quan chức có việc nặng là trừ gian diệt tệ; học trò thừa được chí của ông cha, toại ý, có khảo thí; người thường kinh doanh đắc lợi, số xấu thì lo buồn, người già bị giảm thọ.
Sửa sang cơ nghiệp tiên nhân, tùy thời tồn ích chẳng cần hư danh.
Hào cửu nhị: gánh việc đổ nát của mẹ, đừng cố chấp
Hào này tốt. Hào từ nói cáng đáng việc đổ nát của mẹ, không thể cố chấp. Biết đổi mới theo thời thế, không bo bo giữ cái cũ. Gặp thời cải cách, quan chức có tài chỉnh đốn chính sự. Kẻ sáng tác được nhiều công trình mới. Người thường kế thừa và làm sáng được nghiệp tổ tông. Toán Hà Lạc nói cấp dưới ca tụng sự nghiệp của người trên để tỏ đạo thuận tòng.
Hào này dương cương, đắc trung, trên ứng với hào năm âm nhu, ví như con với mẹ. Hào hai có tài sửa sang được, nhưng tính cương cường có thể xung đột với hào năm, nên lời hào khuyên đừng cố chấp.
Phan Bội Châu giải thích rằng lời hào khuyên gánh việc sửa sang đổ nát của mẹ mà nếu hoàn toàn dùng cách cương thì e có khi đến nỗi mẹ con không tương đắc, công việc sửa sang sẽ hỏng. Phải hợp với đạo trung mới đúng. Suy rộng nghĩa ấy ra, chúng ta xử việc đời cũng phải tùy thời, tùy đất, tùy người mà liệu cách biến thông; ấy là đạo trung.
Người mệnh hợp cách cương quyết, trung chính nhưng khó gặp tri kỷ; sửa chữa đổ nát, đời rất ngưỡng vọng. Người mệnh không hợp cách cũng là người trung thực.
Về vận hạn: quan chức thừa tài sửa đổi việc cũ; học trò và người thường được thừa nghiệp kinh doanh lớn của cha mẹ, nhưng phải sửa sang lại cả; nữ mệnh cần kiệm trì gia, làm giàu.
Vẫn là thừa nghiệp trị gia, nhưng không chấp nhặt mới là đạo trung.
Hào cửu tam: gánh việc của cha, có chút ăn năn nhưng không lỗi lớn
Hào này tốt. Hào từ nói cáng đáng việc đổ nát của cha, có chút ăn năn, nhưng không lỗi gì to. Đây là thời dễ phát sinh nóng vội, cứng nhắc, cần khắc phục. Toán Hà Lạc nói sửa trị quá cứng rắn nên không tránh được có ăn năn.
Hào này là dương lại ở ngôi dương, quá cương, nóng nảy, không hợp đạo trung, nên làm vài việc đáng ăn năn. Nhưng làm nổi việc, lại đắc chính, nên không đến nỗi có lỗi lớn. Giống như người con trung ngôn, can gián nói thẳng mà giữ được đạo lý cho cha.
Người mệnh hợp cách là kẻ sĩ cương quyết, sửa trị không kiêng nể, có sai nhưng rồi lại được sửa. Người mệnh không hợp cách trước vất vả, sau mới được đắc dụng.
Về vận hạn: quan chức có chủ trương nên cân nhắc cẩn trọng; học trò nóng nảy sinh lỗi lầm; người thường phàm việc nên cẩn thận, đừng tin lời gian nịnh thì đỡ hối hận.
Hào lục tứ: kéo dài sự đổ nát của cha, cứ thế thì thấy thẹn
Hào này xấu. Hào từ nói để cho việc đổ nát của cha kéo dài, cứ thế mà đi thì thấy xấu thẹn. Đó là thời của sự đổ nát kéo dài. Thường nhiều kẻ bất tài, hư danh hư vị, nói suông mà chiếm địa vị trong bộ máy quan chức. Sĩ tử rượu chè bê tha. Người thường ăn chơi, cờ bạc. Toán Hà Lạc nói người ở cấp cao muốn sửa tục lệ tệ hại mà cứ dùng dằng mãi thì sau không sửa được.
Hào âm nhu lại ở vị âm, là người thiếu nghị lực, nhút nhát, không dám cương quyết sửa sự đổ nát của cha, để cho nó kéo dài hoài thì xấu cho cả gia đình mà phải hối hận.
Phan Bội Châu so sánh: hào ba vì quá cương mà có ăn năn, hào bốn vì quá nhu mà hối tiếc. Nhưng ở vào thời Cổ, quá cương còn có vai gánh vác, còn quá nhu thì chỉ là hạng người nằm im mà thôi.
Người mệnh hợp cách tính ủy mị, tuy có tài lớn mà không thực hiện được việc nhỏ. Người mệnh không hợp cách hồ nghi, lo lắng, không quả quyết, chỉ làm được việc nhỏ.
Về vận hạn: quan chức hư vị, ngồi suông; học trò rượu chè, phế nghiệp; người thường lười, chơi phè phỡn, tổn hại, đau chân.
Hào lục ngũ: gánh việc của cha mà được danh dự
Hào này tốt. Hào từ nói cáng đáng việc đổ nát của cha mà được danh dự. Mọi người có cơ may phát triển, quan chức thì không tiến. Sĩ tử đỗ đạt, được dùng. Người thường xây dựng được sự nghiệp. Toán Hà Lạc nói dùng được người tài trị nước thì có danh dự.
Hào âm nhu ở ngôi chí tôn, không đủ tài sáng nghiệp, nhưng nhờ có đức trung mà ở dưới ứng với hào hai dương cương là người có tài sửa được sự đổ nát. Rốt cuộc thành công, cả hai đều được tiếng khen. Phan Bội Châu nói hào này giống như Trần Thái Tông và Lê Nhân Tông ở nước ta, đều dùng được tôi hiền mà có danh dự.
Người mệnh hợp cách lập thành nghiệp lớn, cha mẹ được thơm lây. Người mệnh không hợp cách cũng khởi được nghiệp nhà, được làng xóm tôn vọng.
Về vận hạn: quan chức vinh hiển; học trò hoặc đỗ đạt, được tiến cử, nên danh; người thường lập lại quy mô gia tộc, nên danh, vui mừng.
Có đức ngôi vị cao sang, danh thơm lừng khắp, bạc vàng nào hơn.
Hào thượng cửu: không thờ vương hầu, chỉ sùng cao chí của mình
Hào từ nói không thờ vương hầu, chỉ lấy chí mình làm cao thượng. Ý hào là không sùng bái cá nhân dù là bậc vương hầu, chỉ sùng bái lý tưởng. Đối với người này thì chưa gặp thời, còn phải chờ. Quan chức khó thăng tiến, sĩ tử khó thành danh, người thường không gặp vận. Thời vận lợi cho bọn xu thời, xiểm nịnh. Toán Hà Lạc nói có đức mà không được dùng, giữ chí ở ẩn.
Hào này dương cương, ở trên hào năm, như một vị hiền nhân quân tử thanh cao, ở ngoài mọi việc, không màng phú quý, không xu phụ vương hầu, giữ chí hướng của mình, làm phép tắc cho thiên hạ. Quẻ này kết một cách bất ngờ: hào trên cùng không nói gì về sự sửa sang đổ nát cả, mà chỉ khen bậc hiền nhân treo gương danh tiết cho thiên hạ nhìn vào.
Người mệnh hợp cách giữ chí cao thượng, coi thường danh lợi. Người mệnh không hợp cách thanh cao, khác người, ăn ở đạm bạc, không theo phàm tục.
Về vận hạn: quan chức xin về hưu; học trò đợi thời; người thường an phận.
Việc đời bận gót bôn ba, công hầu cũng mặc, về mà tiêu dao.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
