Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Hỏa Địa Tấn: mặt trời vừa lên khỏi mặt đất, càng cao càng sáng

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Hỏa Địa Tấn: mặt trời vừa lên khỏi mặt đất, càng cao càng sáng

Mặt trời vừa nhô khỏi mặt đất, mọi thứ sáng dần lên; một vị đại thần được ban ngựa nhiều lần, một ngày được vua tiếp tới ba bận. Nhưng trong cùng cảnh sáng ấy, có kẻ tiến như con chuột đồng, vừa tham vừa sợ... Điều gì tạo nên khác biệt giữa những người cùng bước lên?


Tấn là tiến: ánh sáng vừa lên khỏi mặt đất

Quẻ số ba mươi lăm là Hỏa Địa Tấn, tiết khí tháng hai. Tấn nghĩa là tiến bước, thời vận đến. Trên là Ly, là lửa, là mặt trời; dưới là Khôn, là đất.

Minh xuất địa thượng, Tấn. Quân tử dĩ tự chiêu minh đức.

Lời Tượng nói ánh sáng mọc lên trên mặt đất là quẻ Tấn. Người quân tử nhìn quẻ này mà tự làm sáng tỏ cái đức sáng của mình. Người sinh vào tháng hai gặp quẻ này là cách công danh phú quý.

Mặt trời mọc, bề tôi hiền được ban ngựa

Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói vị hầu có tài trị nước được thưởng ngựa nhiều lần, ban ngày được vua tiếp tới ba lần. Quẻ có tượng mặt trời, tức Ly, lên khỏi mặt đất, tức Khôn, càng lên cao càng sáng, tiến càng mạnh. Lại có thể hiểu là người dưới có đức thuận, tức Khôn, dựa vào bậc trên có đức sáng suốt, tức Ly, cho nên ví với một vị đại thần có tài trị dân, được vua tín nhiệm, thưởng ngựa nhiều lần, trong một ngày được vua tiếp tới ba lần. Lời Tượng khuyên người quân tử xem quẻ Tấn mà tự làm cho đức của mình ngày càng sáng, như mặt trời hiện lên khỏi mặt đất rồi tiến mãi.

Phan Bội Châu chú thêm: trong các lời Tượng của Dịch, chỉ có quẻ Càn và quẻ Tấn có chữ Tự, nghĩa là chính bản thân mình làm lấy. Bắt chước Càn mà tự cường không nghỉ là công phu học của quân tử về phần sức hành động. Bắt chước Tấn mà tự làm sáng đức là công phu học của quân tử về phần trí hiểu biết. Phần hành động phải mạnh như trời, phần hiểu biết phải sáng như ban ngày, hai việc đó tất phải cùng tiến với nhau, làm cho sự năng động của quân tử mới đầy đủ. Những việc ấy không thể nhờ người ngoài mà được, nên lời Tượng mới nói chữ Tự.

Về dự báo, quẻ Tấn chỉ thời cuộc đang cực thịnh, mọi việc trôi chảy tiến lên, có nhiều thuận lợi cho việc hoàn thành sự nghiệp. Những người biết dựa vào các chủ trương đẹp lòng cấp trên, biết thuận thế, không chủ quan tự mãn thì rất dễ thành công. Tài vận sung mãn; kinh doanh phát đạt, là thời cơ để kiếm tiền hợp lệ; xuất hành tốt, gặp may; thi cử đạt kết quả như ý; bệnh dễ nặng lên; kiện tụng kéo dài dễ gây rắc rối, nên giải hòa sớm thì tốt; tình yêu và hôn nhân thuận lợi, đôi bên thông cảm dễ dàng, dễ thành lương duyên, hôn nhân bền.

Hào sơ lục: tiến lên mà bị chặn lại, cứ khoan thai giữ chính

Hào âm, hào bình. Tiến lên mà bị ngăn chặn; cứ giữ chính là tốt; ai không tin thì mặc, cứ khoan thai thì không có lỗi gì. Tốt đối với người biết thời cơ, biết tiến thoái đúng lúc.

Tấn như, tồi như, trinh cát, võng phu, vô cữu.

Toán Hà Lạc nói nhờ có đức, dù bị ngăn, về sau vẫn tốt.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm nhu ở dưới cùng, ứng với hào bốn, mà hào bốn lại bất trung, bất chính, nên chẳng giúp mình được gì; mình muốn tiến lên mà như bị chặn lại. Trong hoàn cảnh đó, nếu có người không tin mình thì mình chỉ nên khoan thai, bình tĩnh tu thân là sẽ không có lỗi.

Phan Bội Châu nhấn mạnh: chính hay không chính là quyền tại mình, tin hay không tin là quyền tại người, nên cũng có khi mình đã chính mà người chưa tin. Tiểu nhân gặp cảnh đó thường nóng nảy chạy vạy để cầu người tin, hoặc thay đổi lòng dạ, tất nhiên có lỗi. Duy quân tử xử hoàn cảnh ấy thì tin hay không tin mặc người, mình cứ khoan thai thong thả, giữ sức tự tu thận trọng như thế thì không có tội lỗi.

Người mệnh hợp cách giữ nghĩa nơi mình, không phải uốn mình để cầu hợp với người, biết mệnh ở trời nên thong dong giữ chí, về sau được toại ý; là người biết thời cơ, bình tĩnh giữ đạo, dù bị cản trở cũng cứ ung dung tiến thủ, đạt ý nguyện, có nhiều phúc. Người mệnh không hợp cách thì có mưu trí nhưng bị trở ngại rất nhiều, quan chức hay sơ xuất, người thường vụng về, khó trường thọ; là người có tài năng, có cơ hội nhưng không được tín nhiệm, bị cản trở, không toại chí; người thường yếu đuối, đoản mệnh.

Về vận hạn: giới quan hay bị trở ngại bởi dư luận xuyên tạc; kẻ sĩ nhàn hạ, dễ dãi, thường không tin nhau, vui buồn lẫn lộn, tĩnh thì hơn; người thường hay bị trở ngại, gièm pha, khó tiến thủ. Cố lên, đừng có hững hờ.

Hào lục nhị: tiến mà buồn, rồi nhận phúc lớn từ người bà

Hào âm, hào tốt. Tiến lên mà sầu, giữ chính thì tốt, sẽ được nhờ phúc lớn ở bà nội, tức hào năm.

Tấn như, sầu như, trinh cát, thụ tư giới phúc, vu kỳ vương mẫu.

Toán Hà Lạc nói nhờ có đức, tuy buồn nhưng sau được phúc, trước khó sau dễ.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này có đức trung chính, đáng lẽ tiến lên được, nhưng ở trên không có người ứng viện, vì hào năm cũng âm nhu như hào hai, nên phải tiến một mình mà rầu rĩ. Nhưng cứ giữ đạo chính thì chẳng bao lâu sẽ có cơ hội. Hào năm tuy không giúp được mình, nhưng cũng đắc trung như mình, sẽ ban phúc lớn cho mình, và mình sẽ được nhờ hào năm như được nhờ phúc của bà nội. Sở dĩ ví hào năm như bà nội vì hào năm là âm nhưng ở trên cao, cách hào hai khá xa.

Người mệnh hợp cách nhờ phúc lớn của tổ mẫu nhưng vận buồn vì không hành đạo được; là người nhờ phúc tổ tiên lập được nghiệp, có cuộc sống an vui. Người mệnh không hợp cách cũng đoan chính, nhưng buồn vui thất thường; cũng là người có phúc, được vợ đảm đang, giữ được phúc lộc của tổ tiên.

Về vận hạn: giới quan tiến được, nhờ phúc tổ tiên, trong nhà có mẹ hiền vợ thảo, dễ tạo dựng sự nghiệp; kẻ sĩ trước lo sau được; người thường được toại ý, được mẹ hiền, vợ giàu. Mưu lắm càng to lắm, giữ chính khỏi chi cần; từ gần nhờ phúc lớn, coi đó hiểu song thân.

Hào lục tam: được mọi người tin, mọi ăn năn tan hết

Hào âm. Mọi người đều tín nhiệm, ăn năn gì cũng hết. Sự tín nhiệm có tác động rất lớn đến tâm lý con người.

Chúng doãn, hối vong.

Toán Hà Lạc nói có chí cùng đi lên, không ai ức chế nổi.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào âm này ở trên cùng quẻ nội Khôn, bất trung, bất chính, đáng lẽ có điều hối hận; nhưng có hai hào âm ở dưới đều muốn tiến lên cùng mình, đều tin mình, mình được lòng họ thì còn gì phải hối tiếc nữa.

Người mệnh hợp cách tìm người đồng đạo, đồng khí để cùng tiến, cùng luyện rèn, không làm điều gì để phải hối tiếc; là người được tín nhiệm trong quần chúng, tạo dựng được sự nghiệp, có cuộc sống yên vui. Người mệnh không hợp cách cũng là người thành thật, chân chính, nhiều bạn ít thù, vốn yên vui, ít buồn lo, dễ phát đạt.

Về vận hạn: giới quan có thăng chuyển; kẻ sĩ được tiến cử; người thường được bạn tốt cùng kinh doanh có lợi, làm ăn phát đạt, gia đình hòa thuận yên vui. Hai người ý hòa đồng, gió đưa buồm nhẹ không; đường đi gặp khách cùng lòng.

Hào cửu tứ: con chuột đồng vừa tham vừa sợ

Hào dương, hào xấu. Tiến lên như con chuột đồng, cố chấp thì nguy; đó là cái thói vừa tham vừa rất sợ của con chuột đồng.

Tấn như thạch thử, trinh lệ.

Toán Hà Lạc nói đức không đáng với ngôi chỗ ấy.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này bất trung, bất chính, ở địa vị cao, tham lam, muốn giữ ngôi vị mà lại sợ một bầy âm ở dưới đang hăng hái đạp nhau tiến lên, nên ví với con chuột đồng, vừa tham vừa sợ người. Nếu nó cứ giữ thói đó, cái thói không bền lòng, thì sẽ nguy, bị tai họa mà mất ngôi.

Người mệnh hợp cách ở ngôi trên cả trăm đồng nghiệp, làm nhiều người ghen ghét; là người ở ngôi cao không xứng đáng tài, bị khinh rẻ, tai tiếng. Người mệnh không hợp cách thì ngang ngạnh, ngông cuồng, không đạt kết quả gì; là kẻ ngang ngạnh làm bừa, dễ gây tai họa, làm hỏng cơ đồ.

Về vận hạn: giới quan bị trở ngại, như kẻ bất tài lên địa vị cao không hợp thời, không hợp vị thì giữ chính cũng nguy; kẻ sĩ khó tiến, nhiều gian nan, trở ngại; người thường không phục nhau, khó tránh kiện tụng, vu oan. Lòng buồn lo nhưng mất, doanh mưu thêm hại thân.

Hào lục ngũ: mất được cũng đừng lo, cứ tiến là tốt

Hào âm, hào tốt. Ăn năn gì cũng hết; mất hay được chớ nên lo, tiến đi thì tốt, không gì là không lợi.

Hối vong, thất đắc vật tuất, vãng cát vô bất lợi.

Toán Hà Lạc nói bậc vương giả vô tâm mà giáo hóa dân, nên thiên hạ trở nên thuận tình hết.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này làm chủ quẻ Tấn, có đức sáng suốt vì ở giữa quẻ ngoại Ly, lại được ba hào âm ở dưới thuận giúp mình, nên không có gì phải ân hận. Nhưng nó là âm nhu, e có lòng ham được, sợ mất, cho nên lời hào khuyên thành bại chẳng màng, cứ giữ đức sáng suốt thì sẽ thành công.

Người mệnh hợp cách có văn chương đạo đức hơn đời, việc làm không mưu lợi, không kể công mà danh lợi lại trọn vẹn; là người có tài đức, có địa vị cao sang, tạo dựng được sự nghiệp lớn, phúc lộc cao dày. Người mệnh không hợp cách cũng là người óc sáng, chí rộng, biết xa lo sau, được mất mặc cho tự nhiên, tiến ngừng đều toại chí; cũng là người có tài đức, hết lòng vì việc nước, được người kính trọng.

Về vận hạn: giới quan được vinh thăng, được đề bạt; kẻ sĩ tiến thủ thành danh, nhiều cơ may thăng tiến; người thường được lợi, kinh doanh phát đạt. Gò mình chính đính vẫn còn cát hanh.

Hào thượng cửu: tiến bằng cặp sừng, chỉ đủ trị cái ấp của mình

Hào dương, hào bình. Tiến lên bằng cặp sừng, chỉ dùng để đánh dẹp cái ấp riêng của mình; nguy mà vẫn tốt, không lỗi, nhưng giữ chính cũng đáng thẹn.

Tấn kỳ giác, duy dụng phạt ấp, lệ cát vô cữu, trinh lận.

Toán Hà Lạc nói không có đức mà ở ngôi cao quá thì không tránh được sự trừng phạt ngay trong ấp mình.

Nguyễn Hiến Lê giảng: hào dương cương ở trên cùng quẻ Tấn, nghĩa là cứng đến cùng cực mà ham tiến cũng cùng cực, chẳng khác con thú hùng hăng chỉ tiến bằng cặp sừng. Như vậy không làm được việc lớn, chỉ giữ được cái ngôi vị của mình, như trị được cái ấp riêng của mình thôi; thì dù có nguy cũng vẫn thành công. Có điều là ở thời đại tiến lên mà chỉ làm được vậy, không thành sự nghiệp lớn thì cũng đáng thẹn, đáng tiếc.

Phan Bội Châu giảng: do cứng đến cùng cực mà ham tiến đến cùng cực nên có tượng tiến bằng sừng. Cương gấp quá như hào sáu trên thì còn làm được gì lớn, chỉ lo duy trì lấy phần riêng của mình thôi. Như người có học chỉ lo dạy con em mình; người đứng đầu chỉ lo quản bộ phận phụ thuộc mình; người có quyền cai trị chỉ lo cái ấp riêng của mình. Như thế dầu không hay nhưng vẫn tốt, không lỗi, bởi vì cách cương đến cực, tiến đến cực, đem ra đối ngoại thì không xong, nhưng đem vào đối nội thì lại đúng. Tuy vậy, ở thời Tấn mà tài chất chỉ làm được việc nhỏ mọn như thế thì giữ chính đấy mà cũng xấu thẹn đấy.

Người mệnh hợp cách cương ở ngôi cực, cùng thế rồi, không vinh hiển lên được, hoặc làm quận trưởng, có tượng là ấp, là thôn; dù gian nan nhưng không lợi lớn; người có quyền chức nếu cậy thế làm bừa thì không bị tội nhưng bị người đời chê cười. Người mệnh không hợp cách có tài không đức, ruột thịt không thân, hay cạnh tranh, hoặc làm lính; có tài, có địa vị nhưng thiếu đức hạnh, vô kỷ luật làm bậy, dễ bị giáng chức.

Về vận hạn: giới quan ăn lộc ấp làng, địa vị cao mà thành đạt nhỏ, phúc mỏng; kẻ sĩ tiến thủ nhưng đường đi lối lại chưa rõ, long đong; người thường tu tạo nhà cửa, số xấu thì có hình phạt, tranh tụng. Hợp chưa hợp, thành chưa thành, mây mù trăng ám đầu cành.

Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc