Bài tổng quan
Sơn Hỏa Bí: lửa dưới chân núi, trang sức đến cùng rồi trở về chất phác
Lửa sáng dưới chân núi làm núi bỗng đẹp lên, nhưng lớp son phấn nào rồi cũng phai. Có người trang sức cho ngón chân, có người cho bộ râu, có người đi cầu hôn trên lưng ngựa trắng... Vậy rốt cuộc cái gì còn giữ lại được khi màu mè đã hết?
Mục lục · 8 phần
- 01Bí là trang sức: lửa chiếu sáng dưới chân núi
- 02Văn vẻ và chất phác: chuyện thiên văn và nhân văn
- 03Hào sơ cửu: trang sức ngón chân, bỏ xe mà đi bộ
- 04Hào lục nhị: trang sức bộ râu cho chiếc cằm
- 05Hào cửu tam: thấm nhuận cho nhau, mãi mãi giữ chính bền
- 06Hào lục tứ: ngựa trắng bay tới, chẳng phải kẻ cướp mà là người cầu hôn
- 07Hào lục ngũ: lụa mỏng nơi gò vườn, hối thẹn mà cuối cùng tốt
- 08Hào thượng cửu: trang sức trắng nguyên, trở về cái gốc
Bí là trang sức: lửa chiếu sáng dưới chân núi
Quẻ số hai mươi hai là Sơn Hỏa Bí, thuộc hàng quẻ trung bình, tiết khí tháng Mười Một. Bí là sức, tức trang sức, làm cho cảnh vật đẹp thêm. Trên là Cấn, là núi; dưới là Ly, là lửa.
Sơn hạ hữu hỏa, Bí. Quân tử dĩ minh thứ chính, vô cảm chiết ngục.
Lời Tượng nói dưới núi có lửa là quẻ Bí. Người quân tử nhìn quẻ này mà làm sáng tỏ việc chính trị thường ngày, nhưng không dám tự tiện xử đoán việc hình ngục.
Văn vẻ và chất phác: chuyện thiên văn và nhân văn
Bí còn có nghĩa là văn vẻ, rực rỡ, sáng sủa. Trên là núi, dưới là lửa; lửa chiếu sáng mọi vật trên núi, như vậy là làm cho cảnh núi đẹp lên, khác nào trang sức cho núi.
Lời Thoán nói rằng trang sức, văn vẻ thì hanh thông; nhưng việc gì mà chỉ nhờ ở trang sức thì lợi chỉ bé nhỏ mà thôi. Nguyễn Hiến Lê giải: vật gì cũng có chất, có tình thân; thêm văn vẻ, hình thức vào thì tốt, hanh thông; còn nếu chỉ dựa vào trang sức mà thành công thì lợi ít. Lời Thoán truyện bàn rộng thêm: âm nhu và dương cương giao nhau, thay đổi lẫn nhau, đó là văn vẻ tự nhiên của trời, gọi là thiên văn. Còn văn vẻ do con người tạo ra, gọi là nhân văn, thì nên có chừng mực, vì quẻ Cấn ở trên mang nghĩa ngăn lại, hạn chế. Nhân văn tuy có công giáo hóa thiên hạ, nhưng nhiều quá thì văn thắng chất, thành ra xấu.
Phan Bội Châu dẫn lời Khổng Tử: chất phác nhiều hơn văn vẻ thì thành người quê mùa; văn hoa nhiều hơn chất phác thì thành người chỉ biết ghi chép sử sách. Chỉ khi chất vừa xứng với văn, văn vừa xứng với chất, lấy chất làm thể, lấy văn làm dụng, văn chất hòa quyện với nhau, thì mới đáng gọi là quân tử.
Hào sơ cửu: trang sức ngón chân, bỏ xe mà đi bộ
Hào dương, hào bình. Hào từ nói trang sức cho ngón chân, bỏ xe mà đi bộ. Chỉ kẻ hay chuộng hình thức, đứng núi nọ trông núi kia, bỏ cũ tìm mới nên long đong chạy vạy, xử lý không đúng ngôi, đúng vị. Toán Hà Lạc nói nên an phận ở dưới.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đứng cuối quẻ nội Ly, như người có đức sáng mà địa vị thấp nhất. Việc nên làm là trau dồi phẩm hạnh ngay trong địa vị ấy, như trang sức cho ngón chân, bộ phận thấp nhất trong thân thể; chịu an phận nghèo, chịu đi bộ chứ đừng ngồi xe.
Phan Bội Châu chú thêm: theo mắt thế tục thì đi xe là vinh, đi chân là nhục. Nhưng vinh nhục của người quân tử khác với vinh nhục của thế tục. Quân tử lấy đạo nghĩa làm vinh, lấy bất nghĩa làm nhục. Nếu đi chân mà hợp với đạo nghĩa thì còn vinh gì hơn thế.
Người mệnh hợp cách thì cương chính; lúc hanh thông thì văn vẻ đẹp cả thiên hạ, lúc cùng khốn thì giữ thân mình. Tài đức lớn, không lấy vận cùng hay vận thông làm vui buồn. Người mệnh không hợp cách thì vất vả bôn ba, phải dựa vào thế người giàu.
Về vận hạn: quan chức phải phòng đường thoái lui; kẻ sĩ phòng bị truất giáng; người thường chạy ngược chạy xuôi, bỏ dễ nghe khó, xa người thân gần người sơ.
Hào lục nhị: trang sức bộ râu cho chiếc cằm
Hào âm, hào tốt. Hào từ nói trang sức cho bộ râu. Quan chức dễ thăng tiến. Kẻ sĩ có văn tài như người có bộ râu được tô điểm. Người làm kinh doanh gặp tài vận, nhiều phúc lợi. Toán Hà Lạc nói trang sức cho người để thúc đẩy việc làm được ổn định.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào hai làm chủ quẻ nội Ly, có tác dụng trang sức cho quẻ Ly, nhất là cho hào ba dương nằm ngay trên nó. Vì thế người xưa ví hào hai như bộ râu trang sức cho chiếc cằm, tức hào ba. Hào hai phải dựa vào hào ba mà hành động. Hào ba tốt thì sự trang sức của hào hai mới tốt, cũng như phải có chiếc cằm đẹp thì để râu mới thêm đẹp; nếu cằm xấu thì để râu càng thêm khó coi. Nói rộng ra thì bản chất phải tốt, xứng với sự trang sức, chất và văn phải xứng nhau.
Người mệnh hợp cách thì văn chương, học vấn sáng sủa, giúp nước. Người mệnh không hợp cách thì học rộng, tài sớm, thường an vui.
Về vận hạn: quan chức nhờ người mà thành công, được thăng chuyển; kẻ sĩ có văn chương được người nâng đỡ; người thường được đề cử, kinh doanh trôi chảy. Tuy gặp người tri kỷ cũng đừng cậy thế.
Hào cửu tam: thấm nhuận cho nhau, mãi mãi giữ chính bền
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói trang sức như thế, thấm nhuận như thế, mãi mãi chính bền thì tốt. Người biết tự trau dồi bản thân cũng như biết tự trang sức vậy. Quan chức dễ thăng tiến, kẻ sĩ gặp người tiến cử thì được dùng, người thường được giúp đỡ nên kinh doanh phát đạt. Toán Hà Lạc nói nếp sống an nhàn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, đắc chính, lại ở trên cùng quẻ nội Ly, nên mang nghĩa rất văn minh, tượng cho người có tài, trang sức cho hai hào âm ở trên và dưới. Tình của nó rất đằm thắm với hai hào âm ấy, vì vậy nên coi chừng: đừng say mê tư tình mà phải giữ bền sự chính đáng thì mới tốt.
Phan Bội Châu cho rằng thâm ý của hào này nằm ở mấy chữ mãi mãi, chính bền. Bởi lẽ trang sức không bao giờ giữ được lâu: nước sơn lâu ngày cũng phải nhạt, màu thuốc lâu ngày cũng phải phai. Nếu chỉ một mực văn sức mà thôi thì dù là gia đình nào, xã hội nào cũng không tốt. Thánh nhân bảo phải mãi mãi chính bền, nghĩa là trang sức phải lâu dài và giữ đạo chính thì mới được tốt.
Người mệnh hợp cách được danh đạo trọng vọng, đại quý hiển. Người mệnh không hợp cách thì kiến thức hơn người, hoặc tài lộc dồi dào, tuổi thọ cao, được người giúp sức.
Về vận hạn: quan chức được khen tặng, có khi được huy chương; kẻ sĩ được giúp đỡ, thành danh; người thường có nhiều người giúp sức, không phải khó nhọc.
Hào lục tứ: ngựa trắng bay tới, chẳng phải kẻ cướp mà là người cầu hôn
Hào âm, hào bình. Hào từ nói trang sức như thế, trắng toát như thế, ngựa trắng phi như bay, chẳng phải kẻ cướp mà là người đến cầu hôn. Đó là người trang sức không đúng chỗ, hành vi không hợp nên dễ khiến người ta hiểu lầm. Phải phòng có tang phục. Toán Hà Lạc nói cầu nhau, thương mến nhau.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào bốn âm nhu, ứng với hào một dương cương, cả hai đều đắc chính, tình ý hợp nhau, muốn trang sức cho nhau. Nhưng hào ba đứng giữa ngăn cách nên không trang sức cho nhau được, chỉ thấy một màu trắng toát, nghĩa là không có màu, không có trang sức. Dù bị hào ba cản trở, hào bốn vẫn cố đuổi theo. Rốt cuộc hào ba vốn cương chính, không phải kẻ xấu, không muốn làm hại hào bốn và hào một, nên đôi này vẫn nên duyên.
Người mệnh hợp cách thì học rộng, tài cao, lão thành nơi viện Hàn lâm; trước khó sau dễ, người thân ngờ vực, ra làm chính trị thì được đặc cách. Người mệnh không hợp cách thì tuổi trẻ lao đao, muộn mới có kết quả.
Về vận hạn: quan chức trước khó sau thành; người thường có buồn có vui, trước hiểm trở sau an lành; vận xấu thì có tang phục.
Hào lục ngũ: lụa mỏng nơi gò vườn, hối thẹn mà cuối cùng tốt
Hào âm, hào tốt. Hào từ nói trang sức ở gò, ở vườn, chỉ có bó lụa mỏng nhỏ bé, đáng hối thẹn một chút nhưng cuối cùng được tốt. Hào chỉ người keo sẻn, có thể khiến người ta hiểu lầm, nhưng sau lại tốt. Toán Hà Lạc nói lấy đức tiết kiệm mà trị nước.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào năm âm nhu, đắc trung, làm chủ quẻ Bí. Vì là âm nhu nên có tính tằn tiện, chỉ lo trang sức cho những thứ hữu dụng như vườn tược, mà lại chỉ dùng tấm lụa nhỏ, mỏng cho đỡ tốn, nên bị người chê cười. Nhưng như vậy còn hơn là xa hoa; người ấy biết trọng cái gốc là sự chất phác, nên rốt cuộc vẫn được tốt lành, đem lại hạnh phúc cho dân.
Phan Bội Châu chú thêm điều đáng ngẫm: tên quẻ là Bí, là trang sức, nhưng cả sáu hào chẳng hào nào đề cao sự trang sức; đến hào năm lại lấy chất phác, kiệm ước làm hay. Đó là thâm ý của thánh nhân muốn cứu cái thời Bí. Người ở thời Bí không sợ người ta không biết làm đẹp, chỉ sợ người ta làm đẹp quá tay, e rằng cuối cùng mất cái thanh trong, sinh ra thói tục xấu. Hào năm đã đến hồi trang sức cuối cùng, thánh nhân muốn cứu thời, củng cố phong tục, nên phải quy kết bằng sự tiết kiệm, chất phác.
Người mệnh hợp cách thì giữ gốc chất thực, tuy có vẻ quê mùa nhưng tiết kiệm, khiến nước được giàu đủ; được vua quan trọng dụng. Người mệnh không hợp cách thì cục mịch quá mà vẫn thiếu thốn.
Về vận hạn: phúc lộc, thọ già; việc lớn khó tiến thủ, việc nhỏ thì tốt.
Hào thượng cửu: trang sức trắng nguyên, trở về cái gốc
Hào dương, hào tốt. Hào từ nói trang sức một màu trắng nguyên, không có lỗi. Như người trở về cái chất phác ban đầu, không cần trang sức nữa. Phải phòng có tang bên họ ngoại. Quan chức được cảm tình, dễ thăng tiến; kẻ sĩ được người tin nên dễ thành danh; người thường kinh doanh đắc lợi. Toán Hà Lạc nói việc trang sức đến lúc cùng thì trở về gốc cũ, tránh được lầm lỗi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này là thời cuối cùng của quẻ Bí; màu mè, trang sức đã đến cực rồi, mà sự vật đến cực thì phản lại, nên trở về cái chất phác thì không có lỗi gì. Trong lịch sử văn học cũng vậy: sau những thời kỳ chuộng cái đẹp quá mức, người ta lại quay về lối văn bình dị, tự nhiên của thời trước. Đại ý của cả quẻ Bí là có văn vẻ, có trang sức mới là văn minh hưng thịnh, nhưng thánh nhân vẫn khuyên nên trọng chất hơn văn, lấy chất làm thể, lấy văn làm dụng, và không nên chuộng xa hoa, màu mè quá mức.
Người mệnh hợp cách theo lối cổ nhân, sống chất phác, học vấn hơn người, phúc lộc dồi dào. Người mệnh không hợp cách là người điềm nhiên chân thật, biết thông biến tùy thời.
Về vận hạn: quan chức thăng chuyển; kẻ sĩ tiến thủ; người thường kinh doanh thật thà, có tang phục bên ngoại.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
