Bài tổng quan
Thủy Địa Tỷ: nước thấm vào đất và đạo sánh vai đúng người
Nước thấm xuống đất, đất hút lấy nước, hai bên cần nhau mà chẳng ai ép ai. Nhưng có người sánh vai nhầm bạn mà tiền mất tật mang, có người ba lần mời mới chịu ra... Gần gũi thế nào để không mất mình?
Mục lục · 8 phần
- 01Tỷ là sánh vai, gần gũi, gặp dịp thuận tiện để phát triển
- 02Bức tranh chung: đoàn kết thì thành, cô độc thì bại
- 03Hào sơ lục: lòng tin đặt từ buổi đầu
- 04Hào lục nhị: từ trong mà gần gũi ra ngoài, giữ chính bền
- 05Hào lục tam: sánh vai nhầm người
- 06Hào lục tứ: gần người hiền ở ngoài, giữ chính bền
- 07Hào cửu ngũ: vua đi săn chỉ vây ba mặt
- 08Hào thượng lục: không có đầu mối để gần gũi
Tỷ là sánh vai, gần gũi, gặp dịp thuận tiện để phát triển
Quẻ số tám là Thủy Địa Tỷ, được xếp vào quẻ tốt, tiết khí thuộc tháng Bảy. Tỷ nghĩa là hòa: sánh vai, gần gũi nhau, gặp dịp thuận tiện để cùng phát triển. Hình tượng của quẻ: trên đất có nước.
Trên đất có nước là quẻ Tỷ, sánh vai nhau. Các bậc nguyên thủ coi quẻ này mà xây dựng các địa phương, các cơ quan phụ thuộc mình, thân với cấp dưới.
Người sinh vào tháng Bảy, lại được quẻ này, là cách công danh phú quý, có nhiều cơ may thành đạt. Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Tỷ vào các tuổi Giáp và Nhâm.
Quẻ này là trên đất có nước, và cần chú ý điều này: Khảm ở trên, Khôn ở dưới, khác với quẻ Sư là Khôn trên, Khảm dưới. Nước thấm xuống đất, đất hút lấy nước, cho nên có nghĩa là gần gũi thân thiết, giúp đỡ nhau. Lại có một hào dương cương, trung chính (hào năm) thống lĩnh năm hào âm, có cái tượng người ở trên cao được toàn thể dân chúng, hay người dưới, tin cậy quy phục, do đó gọi là Tỷ. Nhưng hào năm đã ở địa vị chí tôn nên phải cẩn thận, tự xét mình kỹ càng, thấy đủ những đức nguyên (gốc: cao thượng, hiền), vĩnh (lâu dài), trinh (chính bền) thì mới thật không có lỗi.
Người được quẻ này thì sẽ có người thân bám vào mình, nhưng phải tự bói lại (nghĩa là tính toan đắn đo chứ không phải phát dự đoán) để tự xét xem mình có đủ đức nguyên, vĩnh, trinh hay không, thì mới xứng đáng trong thời Tỷ.
Bức tranh chung: đoàn kết thì thành, cô độc thì bại
Quẻ Tỷ chỉ thời vận tốt, mọi người đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, là thời cơ thuận lợi cho mọi công việc. Nên tranh thủ sự đồng tình của mọi người thì sự nghiệp dễ thành công. Mọi hoạt động mang tính cá nhân cô độc đều dễ thất bại. Trong gia đình nên bàn bạc thống nhất giữa vợ chồng.
Trong sáu hào, bốn hào tốt là sơ lục, lục nhị, lục tứ và cửu ngũ; hai hào xấu là lục tam và thượng lục, vì ở đó không chọn đúng người hoặc không có đầu mối để gần gũi. Tài vận: tốt, hanh thông. Kinh doanh: dễ phát đạt, nếu cộng tác được với nhiều người thì càng thành công. Xuất hành: cùng bạn bè rất tốt. Tìm việc: dễ dàng, nếu có người trên nâng đỡ thì càng có vị trí khá. Bệnh tật: chóng lành. Kiện tụng: dễ hòa giải. Thi cử: đỗ đạt cao. Tình yêu và hôn nhân: thuận lợi, dễ thành lương duyên.
Hào sơ lục: lòng tin đặt từ buổi đầu
Hào này tốt, như người lấy lòng tin đối đãi với người ngay từ đầu thì sẽ có nhiều điều tốt khác đi theo. Gặp được người lãnh đạo tốt, công việc dễ thành. Quan chức thăng tiến, sĩ tử đỗ đạt được sử dụng tốt, kinh doanh phát đạt. Có lòng tin mà gần gũi nhau thì không lỗi. Nếu lòng thành tín đầy như đầy một cái vò thì có thêm nhiều điều tốt khác nữa. Lấy lòng thành cảm người ngay từ đầu thì về sau không việc gì là không tốt.
Mệnh hợp cách: chân thành, gặp quý nhân ban cho lộc vị; người chân thành gặp được người tốt giúp, công việc thành đạt. Mệnh không hợp cách: nhàn nhã, an vui; người tu hành thì lập đức, chuyên gia thì sự nghiệp thành đạt; cũng là người chân thành, làm ăn phát đạt, có cuộc sống an lạc.
Vận hạn: quan chức có thăng chuyển; học trò được tiến cử; người thường gặp bạn hiểu biết, việc dễ thành.
Hào lục nhị: từ trong mà gần gũi ra ngoài, giữ chính bền
Như người tiểu nhân thật lòng không lừa dối. Có người giúp đỡ, tạo dựng được sự nghiệp, hưởng được phúc lộc. Nữ lấy được chồng tốt, toại nguyện. Từ trong mà gần gũi với ngoài, giữ chính bền thì tốt. Được vị nguyên thủ xứng đáng, làm việc vừa chính vừa tốt.
Hào này âm nhu, đắc trung và chính, ở quẻ nội, ứng hợp với hào năm dương cương cũng đắc trung và chính, ở quẻ ngoại, cho nên nói là từ trong mà gần gũi với ngoài. Hai bên thân nhau vì đồng đạo, hợp chí (trung chính cả), chứ không phải hào hai cầu thân với hào năm ở trên để được lợi; như vậy là chính đáng, không mất thân, nên tốt.
Lời hào cốt dạy ta quý trọng nhân cách, nói rằng đừng đánh mất giá trị của mình. Xưa nay việc trong thiên hạ, sở dĩ làm nên sự nghiệp lớn, tất cần có hai hạng người: hạng người có tài đức và hạng người có thế lực. Người có thế lực phải chịu khuất người có tài đức, biết tôn quý người tài đức mà quên vị thế của mình; người có tài đức phải giúp giùm người có thế lực mà đem thân ra gánh vác việc đời. Nếu một bên cậy có thế lực mà không tôn trọng người tài đức, một bên tự khinh rẻ tài đức của mình mà cầu cạnh người có thế lực, thì người có thế lực mắc tội mất người, còn người tài đức mắc tội mất mình, tức mất giá trị của chính mình.
Xưa có ông Y Doãn chờ vua Thang ba lần dâng lễ, ông Khổng Minh chờ chúa Lưu Bị ba lần đến lều cỏ, mới chịu ra giúp chúa cứu đời. Hai ông há có ý làm cao đâu, chỉ vì tôn trọng nhân cách của mình mới mong duy trì được nhân cách của một nước, một thế giới. Hào hai âm chờ hào năm dương xướng ứng với mình mới chịu sánh vai gần gũi, chính là nghĩa ấy: chớ đánh mất mình.
Mệnh hợp cách: quý hiển, phúc trạch lớn, ngôn hành đều có thực tâm; người trung thực, thật thà, không lừa dối ai, có phúc lộc lớn. Mệnh không hợp cách: giỏi, được nhà vợ mạnh, dựa thế quý nhân; cũng là người hiền lành đức độ, có vợ hiền, con khỏe, có quý nhân phò trợ.
Vận hạn: quan chức ở trung tâm; học trò thành danh trong nước hoặc trong địa phương; người thường được nhờ thế lực, kinh doanh đắc ý; nữ mạng có chồng tốt.
Hào lục tam: sánh vai nhầm người
Hào này xấu, như kẻ không biết chọn bạn, bị tổn hại. Gặp cảnh bất hòa, vi phạm kỷ luật hoặc bị bạn làm hại. Có tang phục. Sánh vai với người chẳng ra người, tức là người không xứng đáng. Không chọn bạn thì rất tổn hại.
Hào này âm nhu không chính, chung quanh lại toàn là âm nhu, cho nên tượng cho người xấu, không xứng đáng.
Mệnh hợp cách: trong chẳng có người thân, ngoài không có kẻ giúp, dù có lộc vị cũng sợ tuổi thọ kém, và đường con cái khó khăn; người gặp cảnh khó khăn, bạn bè xa lánh, không người giúp đỡ, hao tốn tài sản, hoặc là mệnh của người ốm đau kém thọ, hoặc gặp đường con cái khó khăn. Mệnh không hợp cách: học không thành, hay giao du với bọn vô loài nên sinh tai tật, làm bậy, bị tổn thương; người tầm thường giao du với bọn du đãng, công danh không thành, dễ bị tai vạ.
Vận hạn: quan chức đồng liêu bất hòa, bị lỗi; học trò bị truất giáng; người thường bị bạn bè làm hại, khí huyết thương tổn; mệnh nữ lấy chồng du đãng hoặc phá gia, nếu không thì cũng thưa kiện, tiền mất tật mang, lại có tang.
Hào lục tứ: gần người hiền ở ngoài, giữ chính bền
Biết mở rộng giao du với người ngoài có đức hạnh để học tập. Được người tốt giúp đỡ, làm nên sự nghiệp, tạo dựng được phúc lộc cao. Gần gũi với bên ngoài (hào năm), giữ chính bền thì tốt. Sánh vai với người bên ngoài thật đáng bậc trên mình, vừa hay vừa tốt.
Hào âm ở ngôi bốn, đắc chính, tốt hơn hào ba, lại ở gần hào năm; như vậy là thân với người hiền (hào năm trung và chính) và phục tùng bề trên, cho nên tốt.
Mệnh hợp cách: tận tâm với chức vụ, trong lòng ngoài mặt như một, phú quý bền lâu; là người có đức hạnh tận tụy, biết giao tiếp học hỏi làm nên sự nghiệp, có phúc lộc lâu bền. Mệnh không hợp cách: cũng chính đại, không a dua, không tự hạ, được tôn trọng nơi xóm làng; cũng là người có danh tiếng ở địa phương, không a dua xu nịnh.
Vận hạn: quan chức vinh thăng, lợi lộc; người thường ra ngoài được bạn giúp đắc lực.
Hào cửu ngũ: vua đi săn chỉ vây ba mặt
Như người trên biết bỏ cái nhỏ để mưu cái lớn cho trọn. Giới chức, sĩ tử dễ thăng tiến, thành đạt. Người thường làm ăn phát đạt. Đạo gần gũi tất quang minh. Như khi săn thú, vua chỉ vây ba mặt, còn mặt trước bỏ ngỏ cho cầm thú thoát ra phía đó. Người trong ấp (người chung quanh) được cảm hóa, không phải răn đe, tốt. Có đức thì để cả thiên hạ gần gũi với mình.
Hào này ở ngôi chí tôn, dương cương, trung chính, cho nên cả năm hào âm đều phục tùng, đạo gần gũi như vậy là rất quang minh. Mọi người phục tùng một cách tự nguyện, không có cưỡng ép. Như vua đi săn, không vây cả bốn mặt, để chừa một mặt cho cầm thú thoát ra. Do đó người chung quanh cũng được cảm hóa, không phải răn đe mà họ cũng giữ được trung chính như vua.
Mệnh hợp cách: rất công bằng, chính trực, xử trên đối dưới hợp đạo lý; cao thì ở trung ương, nhỏ nhất cũng ăn lộc ở quận, ấp (huyện, xã); người có quyền cao chức trọng nhưng công minh chính trực, làm mọi việc hợp đạo lý, hợp lòng dân, được kính trọng, có phúc lộc bền vững. Mệnh không hợp cách: cũng trung chính, có đức hạnh, trước cô đơn sau có bạn, trước vất vả sau dễ dàng, dù thế nào cũng ấm no, đủ tài văn võ; cũng là người có địa vị, có tài trí, trước khó khăn vất vả, sau thành đạt, giữ được phúc lộc.
Vận hạn: quan chức vinh thăng; học trò đỗ đạt, được tiến cử; người thường có hậu thuẫn, được dùng tốt.
Hào thượng lục: không có đầu mối để gần gũi
Như nhiều người sánh vai làm việc mà không ai cầm đầu, là hung. Không được giúp đỡ, trống đánh xuôi kèn thổi ngược, khó thành sự nghiệp. Số xấu dễ bị tai nạn, ốm đau. Không có đầu mối để gần gũi, xấu. Kém đức thì không cảm hóa được thiên hạ.
Hào âm này ở trên cùng, bất trung, không sao gần gũi với những hào âm ở dưới được, thế là không có đầu mối, là vô thủy (không có điều đầu tiên), mà vô thủy thì vô chung (không có kết thúc), cho nên xấu.
Mệnh hợp cách: dù văn tài võ giỏi cũng mất cơ hội, hối rồi cũng chẳng kịp nữa; người có tài, có vị mà không đoàn kết được mọi người, trở thành vô dụng, chí nguyện không thành, khó giữ được phúc lộc. Mệnh không hợp cách: giảm thọ, cô đơn, mất chỗ nương tựa; người cô đơn, không bền với ai, không ai giúp đỡ, sự nghiệp khó thành, phúc lộc khó giữ.
Vận hạn: quan chức không được lòng dân, nguy; học trò chẳng ai giúp đỡ, khó thành danh; người thường hình khắc, tai ương, kém nữa thì giảm thọ.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
