Bài tổng quan
Con đầu là trai hay gái và dấu hiệu con cái hưng vượng
Sinh con và nuôi con giống như trồng hoa: cần giống tốt, đất tốt, và người biết chăm gốc. Tám chữ không chỉ nói nhà có đông con hay không, mà còn nói đứa con ấy sinh ra mang dáng mặt thế nào, nằm ngửa hay nằm sấp, và lần đầu là trai hay gái. Một cách xét can ngày với can giờ đã được thử qua hơn hai trăm năm mươi trường hợp...
Người Trung Quốc xưa hỏi: trên đời này cái gì là quý? Và trả lời rằng có đủ con gái, con trai là quý. Con cái là sự nối tiếp của loài người, là tương lai của đất nước, là hy vọng của dân tộc. Sinh, nuôi, dạy con là chức năng thiêng liêng của cha mẹ; ai làm cha mẹ cũng mong con thông minh, xinh đẹp, khỏe mạnh, lớn lên thành người gánh vác việc nước, đem lại niềm tự hào cho gia đình.
Nhưng điều mong ước ấy không phải ai cũng toại nguyện. Có cặp vợ chồng sinh mà không nuôi nổi, về già chẳng có con cháu quây quần. Có đứa con sinh ra chẳng bao lâu thì mất, có đứa quanh năm bệnh tật rất khó nuôi, có đứa tàn phế. Những điều không may ấy là gánh nặng cho gia đình và đất nước, và là nỗi đau lớn cho cả đứa trẻ lẫn cha mẹ. Nguyên nhân có nhiều, có cái do tiên thiên, có cái do hậu thiên. Muốn nâng cao tố chất con người phải chú ý đến điều kiện sinh đẻ tối ưu, và nói đến sinh đẻ khoa học thì không tách khỏi lẽ sinh khắc âm dương ngũ hành, không tách khỏi dự đoán theo Tứ trụ.
Sinh con giống như trồng hoa: cần giống tốt và biết chăm gốc
Sinh con và nuôi con giống như trồng hoa, vừa cần giống tốt vừa cần biết chăm sóc. Phải bồi đắp gốc rễ, đất tốt thì mầm khỏe, có nước tưới, có phân bón thì cành lá mới xum xuê, phải cắt tỉa mới phát triển xanh tốt, phải có ánh sáng chiếu rọi thì hoa mới to quả mới lớn. Nếu đất kém, gốc cạn, ít nước, mưa gió nhiều thì mầm khô dần, cây dễ chết.
Với trẻ em mới sinh, nói chung can ngày nên có khí, lệnh tháng nên đỡ đầu, trụ năm phải tốt, ấn tinh không bị tổn thương, tài quan có chế ngự, thất sát được hóa giải, thương quan có hợp khí trung hòa, không gặp hình xung khắc hại; như thế thì em bé dễ nuôi và sống lâu.
Xem con nhiều hay ít chủ yếu phải xem trụ giờ vượng suy, và xem trong Tứ trụ tử tinh, tức sao con, có bị khắc không. Người có tử tinh suy, tử tuyệt lại bị khắc hại thì không có con. Ví như người sinh ngày Canh, giờ Ngọ: Canh lấy Ất mộc làm vợ, Ất mộc sinh hỏa, hỏa khắc Canh kim, giờ ngọ hỏa ở vượng địa, là lộc của Đinh hỏa, nên con cái nhiều mà phú quý. Nếu sinh vào các giờ tuất, hợi, tí là đất tuyệt của hỏa thì con ít, hoặc đứa con sinh ra cô độc nghèo hèn, hoặc về sau thành tăng đạo. Người xưa bàn về sao con còn nói: sao con ở trường sinh, mộc dục, quan đới, lâm quan, đế vượng thì con cái nhiều, đẹp và phú quý.
Dấu hiệu con đông, thông minh, vinh hiển
Cũng một ngôi nhà, có khi tiếng con trẻ chạy đầy sân, có khi chỉ còn bóng một mình; tám chữ nói trước điều ấy ở trụ giờ.
Tứ trụ không có sao con, trụ giờ lại không vượng thì khi đi đến vận quan sát vượng mới có con, qua vận ấy thì không có nữa. Có tài quan thì đứa con sinh ở nhà giàu sang; có thiên quan thì sinh ở nhà bình thường. Có tuế nguyệt, thương quan, kiếp tài thì con sinh ở nhà nghèo hèn; có tuế nguyệt, tài quan, ấn thụ thì con sinh ở nhà phú quý. Quan tinh sinh vượng lại gặp giờ trường sinh thì con thông minh tuấn tú. Thực nhiều thì sữa nhiều hoặc gửi con nuôi ở nhà khác. Trụ giờ gặp quan tinh ở ngôi vượng thì là con cháu trưởng. Quan tinh gặp vượng thì con lớn lên vinh hiển. Cung thê lộ rõ thì con cái nhiều. Thương quan gặp tài, thất sát bị kiềm chế thì nhiều con. Lộc mã của trụ ngày, giờ trường sinh thì vợ hiền con quý. Trụ giờ được tài quan sinh, hoặc tài vượng sinh quan, thì con có công với đất nước, làm vinh hiển gia đình.
Tứ trụ gặp quan nhiều thì con gái nhiều, con trai ít. Trụ ngày làm dụng thần thì con hiền mà tháo vát. Tứ trụ chỉ có một thực thần và lộ rõ làm dụng thần thì có con và con sống lâu. Quan tinh rõ mà thân vượng thì nhiều con. Quan tinh được lộc ở trụ ngày, trụ giờ thì con hiền quý. Thất sát được chế hóa thì con nổi tiếng. Kiêu thần, thực thần làm tổn thương quan nhưng đi đến vận tài thì chắc chắn có con. Ấn thụ nhiều thì con ít; thương quan gặp tài thì có con. Tứ trụ chỉ một thực thần nhưng được sinh vượng mà muốn có con thì phải cầu tự. Tứ trụ nhiều dần, thân, tị, hợi là tượng sinh đôi; hợi nhiều là sinh đôi con trai, tị nhiều là sinh đôi con gái. Trụ giờ gặp quý nhân trạch mã thì con hiếu đễ. Trụ ngày phạm cô loan thì không có con, chỉ khi gặp quan tinh mới có con. Thiên quan nhiều thì con gái nhiều, con trai ít. Mệnh nữ có thương quan, kiêu ấn thì đi đến vận tài quan mới có con. Nữ mà thực nhiều, quan ít thì chồng suy, con vượng.
Ngôi con ở đất vượng tướng thì con thông minh, hiền hiếu, làm rạng rỡ tổ tiên. Trụ giờ được trụ ngày phù trợ thì tuổi cao vẫn còn con. Thiên quan trên trụ giờ được chế ngự thì con út tuấn tú. Chính quan yếu, thương quan vượng thì con cháu nối được sự nghiệp cha ông. Trụ ngày vượng, có thương thực mà không bị xung khắc thì con cái nhiều. Thương quan, thực thần làm dụng thần thì con hiếu đễ. Trụ ngày ở trường sinh, đế vượng, quan đới mà gặp quan, thương, thực thì con cái phát triển hơn cha ông. Dụng thần ở trụ giờ thì con giúp được cha mẹ. Thần sát ở trụ giờ mà Tứ trụ có thực, thương thì con hiền quý.
Nam mà quan sát vượng thì có con sớm. Người trong Tứ trụ không có thực, thương mà thực thương ẩn trong thìn, tuất, sửu, mùi thì lấy vợ lẽ mới có con. Thực và tỉ nắm quyền thì con hiếu đễ. Nếu thực thần, thương quan chế ngự làm mất quan tinh thì mới có con. Can giờ vượng thì sinh con trai, suy thì sinh con gái. Ấn gặp ngôi con thì được vinh hiển nhờ con. Mệnh nữ gặp thiên đức, nguyệt đức thì sinh con đỗ cao. Tứ trụ có thương quan thì vợ nhiều mà con ít. Thất sát ở trụ giờ mà Tứ trụ có thực thần thì con giàu sang. Quan sát ở ngôi thai thì thế nào cũng có con. Trụ giờ gặp thương quan, mã tinh thì sinh con xa quê và phần nhiều con phải đi xa.
Diện mạo, hoàn cảnh lúc chào đời và chuyện sinh trai sinh gái
Ngày giờ một đứa trẻ cất tiếng khóc đã mang sẵn dáng mặt, nơi sinh, và cả điều mong đợi của cha mẹ.
Trẻ sinh vào ngày giờ Giáp, Ất thì ấn đường rộng, mắt có thần, nhân trung dài, lông mày đẹp. Sinh ngày giờ Bính, Đinh thì mắt to, râu dài, trán hẹp, tuổi nhỏ nhiều bệnh. Sinh ngày giờ Mậu, Kỷ thì đầu to, trán rộng. Sinh ngày giờ Canh thì mặt vuông, trán rộng. Sinh ngày giờ Tân thì mắt phượng, tai chầu, dái tai to. Sinh giờ Nhâm, Quý thì mắt to, ham rượu, tính liều. Tứ trụ nhiều dần, sửu hoặc tuất, hợi thì chân to chân nhỏ. Có ba, bốn chữ mão hoặc thìn thì thuận tay trái.
Tứ trụ có bốn chữ thủy thì sinh trên thuyền hoặc lúc sinh gặp nước. Có ba chữ kim thì lúc sinh gặp người tu hành, hoặc có tiếng chuông chùa, hoặc gặp bà đỡ. Có ba chữ mộc thì lúc sinh nghe điều kinh ngạc, hoặc sinh ở nhà dưới, ở vùng nông thôn, sơn trại. Có ba chữ thổ thì sinh ngoài bãi, bờ đê hay công trường. Có ba chữ hỏa thì lúc sinh láng giềng có tang, hoặc trong nhà có nỗi lo, buồn ly biệt. Trụ ngày có thất sát thì lúc sinh cha vắng mặt. Sinh vào các giờ tí, ngọ, mão, dậu thì lúc sinh nằm ngửa; các giờ thìn, tuất, sửu, mùi thì nằm sấp; các giờ dần, thân, tị, hợi thì nằm nghiêng. Mệnh mộc sinh mùa xuân, mệnh hỏa và thổ sinh mùa hạ, mệnh kim sinh mùa thu, mệnh thủy sinh mùa đông thì khỏe mạnh, thông minh, tuấn tú, dễ nuôi.
Cha có thất sát thì sinh con trai, có quan tinh thì sinh con gái; mẹ có thất sát thì sinh con gái, có quan tinh thì sinh con trai. Cha có thương quan thì sinh con gái, có thực thần thì sinh con trai; mẹ có thương quan thì sinh con trai, có thực thần thì sinh con gái. Cha có can giờ khắc can ngày thì sinh con trai; can ngày khắc can giờ, hoặc ngày giờ tương sinh tương hợp với tỉ kiếp, thì sinh con gái. Mẹ có can ngày khắc can giờ thì sinh con trai; can ngày và can giờ tương sinh tương hợp với tỉ kiếp thì sinh con gái.
Về dự đoán đứa con, người luận số chú trọng nghiên cứu việc lần sinh đầu là trai hay gái, còn các mặt khác chỉ nghiên cứu chung chung. Ở Trung Quốc, cách đoán lần đầu sinh trai hay gái có rất nhiều sách cổ. Cách thường dùng và đã tổng kết lâu dài là: mệnh nam có can giờ khắc can ngày thì con đầu là con trai; mệnh nữ có can ngày khắc can giờ thì con đầu là con trai; mệnh nam can ngày khắc can giờ, mệnh nữ can giờ khắc can ngày, hoặc can ngày can giờ tương sinh, tương hợp với tỉ kiếp thì là con gái. Phương pháp này đã kiểm nghiệm hơn hai trăm năm mươi trường hợp trong và ngoài nước, đều thấy ứng nghiệm.
Ngoài ra, người nhà giàu mà Tứ trụ tài nhiều, tài vượng thì sinh con gái hoặc ít con; người nhà nghèo mà Tứ trụ tài ít thì phần nhiều sinh con trai hoặc nhiều con. Xã hội xưa, con người nghèo thì trưởng thành và thành đạt, còn người giàu thì không những khó có con mà ngay cả con gái cũng khó; để có con, nhiều người phải lấy thêm vợ lẽ, tìm tì thiếp mà vẫn nhiều người không có. Xã hội ngày nay cũng thường thấy như vậy: nhiều nhà kinh tế khó khăn sinh con đầu thường là con trai, ngược lại thì sinh con gái. Người xưa đã nói: vượng tài không vượng đinh, vượng đinh không vượng tài. Khi đoán trai gái còn phải xem cách sắp xếp của Tứ trụ: tài nhiều, tài vượng, can ngày bị khắc mạnh, mệnh nữ ấn nhiều thì lần đầu thường sinh con gái.
Năm lá số đoán con đầu là trai hay gái
Một ông hiệu trưởng: năm Mậu dần, tháng Nhâm tuất, ngày Kỷ dậu, giờ Canh ngọ. Can ngày và can giờ tương sinh cho nhau, nên lần sinh đầu là con gái.
Một bác sĩ: năm Canh thìn, tháng Giáp thân, ngày Ất tị, chi giờ là thân. Can ngày và can giờ khắc nhau, nên lần sinh đầu là con trai.
Một bà sinh năm 1909: năm Kỷ dậu, tháng Đinh sửu, ngày Mậu tí, giờ Canh thân. Can ngày can giờ tương sinh cho nhau nên lần sinh đầu là con gái.
Một ông người Xingapo: năm Kỷ sửu, tháng Kỷ tị, ngày Giáp dần, giờ Giáp tuất. Can ngày và can giờ là ngang vai nên lần sinh đầu là con gái.
Một phụ nữ Thái Lan: năm Kỷ mão, tháng Canh ngọ, ngày Nhâm dần, giờ Tân sửu. Can ngày, can giờ tương sinh cho nhau nên lần sinh đầu là con gái.
Năm lá số đoán con cái hưng vượng
Nam mệnh có thất sát thì sinh con trai, có quan tinh thì sinh con gái. Một nam mệnh: năm Đinh tị, tháng Nhâm tí, ngày Bính ngọ, giờ Kỷ hợi. Quý thủy, Nhâm thủy dẫn đến cung con cái trên trụ giờ, lại ở lệnh tháng đế vượng, nên không những nhiều con (ba trai, ba gái) mà thân thể còn khỏe, làm ăn nên nổi; có con vào đại học, có con giữ chức vụ quan trọng, đều rất tháo vát.
Một nam mệnh: năm Tân dậu, tháng Kỷ hợi, ngày Canh tí, giờ Ất dậu. Ất dậu là cung con cái lâm nguyệt kiến vượng địa nên con thông minh tuấn tú. Ông có một con trai, một con gái đều tốt nghiệp đại học, còn đi Mỹ tu nghiệp.
Một nam mệnh: năm Bính tí, tháng Mậu tuất, ngày Tân mùi, giờ Kỷ sửu. Cung con cái tập trung ở lệnh tháng, tuất thổ lại vượng địa, nên sinh được một trai một gái, một đứa tốt nghiệp nghiên cứu sinh, một đứa tốt nghiệp đại học.
Một đại biểu quốc hội: năm Canh thìn, chi tháng mùi, ngày Canh thân, giờ Bính tí. Tử tinh Bính hỏa và thất sát lại gặp tháng mùi có khí, tí thủy là thương quan, nên sinh con gái rồi con mất vào mùa hạ; vì thế chỉ có ba con trai mà không có con gái. Hai người con đang học đại học ở Nhật Bản.
Một nữ mệnh là vợ của ông vừa kể: năm Nhâm ngọ, tháng Canh tuất, ngày Ất mão, giờ Mậu dần. Quan tinh kim vượng lại được nguyệt kiến sinh, nên con trai vượng, thông minh, sinh liền ba con trai.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.
