Bài tổng quan
Thuần Chấn: sấm dồn dập, lo sợ mà không đánh rơi thìa rượu tế
Sấm nổ vang trăm dặm, ai nấy hoảng hốt bỏ chạy, riêng người ngồi tế vẫn cầm chắc thìa rượu trong tay. Có kẻ sợ trước rồi cười sau, có kẻ leo lên gò cao tránh nạn, có kẻ chìm xuống bùn giữa bốn bề... Cùng một tiếng sấm, vì sao mỗi người nhận một kết cục khác nhau?
Mục lục · 8 phần
- 01Chấn là động: sấm dồn dập, thanh thế vang xa
- 02Sấm nổ ầm ầm mà vẫn không đánh rơi thìa rượu tế
- 03Hào sơ cửu: sấm đến thì sợ trước, rồi cười nói sau
- 04Hào lục nhị: sấm tới nguy, lên gò cao tránh, đừng đuổi theo của mất
- 05Hào lục tam: sấm làm rụng rời, thấy sấm mà tránh thì không họa
- 06Hào cửu tứ: sấm rơi xuống bùn, chìm giữa bốn hào âm
- 07Hào lục ngũ: sấm đi sấm lại cũng nguy, nhưng giữ đức trung thì làm nổi việc
- 08Hào thượng lục: sấm dồn đến cùng, nhìn kinh ngạc mà không dám tiến
Chấn là động: sấm dồn dập, thanh thế vang xa
Quẻ số năm mươi mốt là Thuần Chấn, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng mười. Chấn nghĩa là động, như sấm nổ vang, từ dưới phát lên, thanh thế mạnh lớn. Cả hai quẻ trên dưới đều là Chấn, là sấm.
Tiến lôi, Chấn. Quân tử dĩ khủng cụ tu tỉnh.
Lời Tượng nói sấm dồn dập là quẻ Chấn, tức động. Người quân tử nhìn đó mà lo sợ, xét sửa lại mình.
Người sinh vào tháng mười gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng hương quế nguyệt đưa đi dặm xa, lên mây mà chẳng thấy bóng; cánh bằng chưa kịp bay lên, ngồi nhàn mà vẻ vẫn thanh cao.
Sấm nổ ầm ầm mà vẫn không đánh rơi thìa rượu tế
Nguyễn Hiến Lê giảng: lời Thoán nói sấm động thì hanh thông. Lúc sấm nổ ầm ầm mà nơm nớp lo sợ thì sau sẽ cười nói ha hả. Sấm động trăm dặm mà không mất cái muỗng và rượu nghệ, tức đồ tế thần. Sấm phát động thì vạn vật mới nảy nở, cho nên bảo là hanh thông. Khi có điều gì kinh động mà nơm nớp lo sợ, giữ gìn sửa mình thì không bị tai họa, mà sau sẽ được vui vẻ. Sấm vang động đến trăm dặm mà tinh thần vẫn vững, không đến nỗi đánh mất đồ tế thần, cái muỗng và rượu; rượu là lúa mạch hòa với nghệ nên gọi là rượu nghệ. Thế là tốt, hanh thông. Nói đến việc tế thần là để diễn cái ý giữ được tôn miếu, xã tắc.
Phan Bội Châu lấy một thí dụ để làm sáng tỏ lời Thoán: nước Nhật có Thái tử Mục Liên, ngày thường ngồi thiền niệm Phật. Một hôm ông đang ngồi niệm, có lũ cướp đến, chúng quát làm ông sợ, ông vẫn ngồi yên; chúng lấy gươm cứa cổ ông, ông cứ niệm kinh như không có gì xảy ra. Kẻ cướp đâm sợ ông, tưởng ông là Phật sống, bỏ gươm quỳ lạy ông. Ông nhân đó khai hóa được mười người, thảy đều quy y cửa Phật. Nhật Bản lúc đó tôn vinh ông là Thánh Mục Liên. Xem như việc ấy thì lời Thoán rõ lắm.
Hào sơ cửu: sấm đến thì sợ trước, rồi cười nói sau
Hào dương, hào tốt. Biết sợ trước là tốt. Hào của người có tiếng tăm, đưa được dân vào khuôn phép, được mọi người kính trọng. Sấm tới làm lo ngay ngáy, sau cười nói sằng sặc.
Chấn lai hích hích, hậu tiếu ngôn ách ách, cát.
Hà Lạc nói biết sợ mà thực sợ thì sau mới có phép tắc.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này ở đầu thời sấm động. Lời hào y hệt lời Thoán, chỉ nhấn mạnh chữ sau, tức hậu, và thêm chữ tốt.
Người mệnh hợp cách tính cương, chí lớn, uy tín to, dân phục, làm được sự nghiệp lớn, phúc lộc đầy. Người mệnh không hợp cách cũng biết lo lắng, tu tỉnh, trước gian nan, sau hưởng phúc; số xấu thì có tật câm, ngọng.
Về vận hạn: quan chức trước sợ sau vui; giới sĩ có tiếng tăm kinh động người, hoặc làm chức tỉnh, quận, hay chức chủ tế; người thường trước lo sợ, sau vui mừng. Câu thơ của hào nói hội sấm sét, nghe tiếng chẳng thấy hình; lúc chưa tin thực, rồi sau mới đúng tình.
Hào lục nhị: sấm tới nguy, lên gò cao tránh, đừng đuổi theo của mất
Hào âm, hào bình, vừa tốt vừa xấu. Hào âm vừa đắc trung vừa đắc chính, nên dù mất của cũng sẽ được lại. Tốt với người biết lo sợ, đề phòng; xấu với người mê muội, tham lam, không biết phòng xa. Sấm tới nguy, vì hào một dương bức, tưởng chừng mất của; hoảng sợ thế mà leo lên chín gò cao; chớ đuổi theo, bảy ngày sẽ được thấy.
Chấn lai lệ, ức táng bối, tễ vu cửu lăng, vật trục, thất nhật đắc.
Hà Lạc nói biết sợ mà thực sợ thì sau có sở đắc. Nói bảy ngày là nói kỳ hạn, có co giãn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu lại cưỡi lên hào một dương cương, nhút nhát sợ hào một áp bức, e có cơ nguy, lại ngại mất của nên phải tránh xa, lên chín tầng gò; nhưng nó vốn trung chính, khéo xử, nên đừng quá lo mà khiếp sợ, cứ bình tĩnh, dù có mất tiền sau cũng lấy lại được.
Người mệnh hợp cách lo sâu nghĩ xa, thấy biến biết cách chuyển, thấy họa có mưu tránh, tuy không sáng cơ hội cũng giữ được nghiệp cũ. Người mệnh không hợp cách không biết thoát nạn, không biết bỏ của mà chạy, luôn lo sợ, bôn tẩu, trước nguy sau mới yên.
Về vận hạn: quan chức lo gặp kẻ âm mưu, gian trá; giới sĩ trước mê muội sau mới được việc; người thường kiện tụng, mất mát, già thì lo tuổi thọ, trẻ thì có chuyện sợ hãi. Câu thơ của hào nói sấm vang nếu đụng là nguy, lên cao tránh được, qua thì lại thôi.
Hào lục tam: sấm làm rụng rời, thấy sấm mà tránh thì không họa
Hào âm. Sấm làm rụng rời, thấy sấm thì đi tránh, như vậy không có tai họa. Hào âm vừa không đắc trung, lại không đắc chính mà ở ngôi cao.
Chấn tô tô, chấn hành vô sảnh.
Hà Lạc nói không có đức nên bị tai họa, nên sửa lỗi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm, ở vị dương, là hạng người bất chính, nên lo sợ đến thác loạn; nếu trở về đường chính thì không bị tai họa.
Người mệnh hợp cách trị nhớ loạn, an nhớ nguy, tuy không khuếch trương được việc lớn nhưng cũng biết lo sợ, bảo toàn thân phận, tu rèn trong sáng ích lợi. Người mệnh không hợp cách nhu nhược, nhút nhát, không làm được chí, danh lợi hỏng.
Về vận hạn: quan chức ngồi chờ có chỗ; giới sĩ lo phế nghiệp; người thường phải thận trọng lắm mới tránh được tai họa. Câu thơ của hào nói nghìn dặm xe chuyển bánh, bước đi từng gian nan, bên Đông lo đau đầu, trung niên việc mới an.
Hào cửu tứ: sấm rơi xuống bùn, chìm giữa bốn hào âm
Hào dương, hào xấu. Sấm sa xuống bùn; hào dương cương không đắc chính, không đắc trung, nằm giữa bốn hào âm như người sa xuống bùn, như kẻ ham mê sắc dục. Gặp vận không may, dễ bị truất giáng, kỷ luật.
Chấn toại nệ.
Sấm kẹt vào giữa bốn hào âm, hào bốn dương bị chìm nghỉm, sấm không nổ vang được. Hà Lạc nói cứ đắm chìm trong dục vọng bừa bãi là nguy.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương, bất trung bất chính, mà lại bị hãm vào giữa bốn hào âm, hai ở trên, hai ở dưới, nên gặp việc chấn động, lo sợ, không tự thoát được, chỉ chìm đắm thôi.
Người mệnh hợp cách tiết chế dục vọng, không đến nỗi đam mê, tuy sự nghiệp không khởi sắc cũng duy trì được tư thế. Người mệnh không hợp cách sống câu thả ở chỗ tiện, vùi thân vào cát bụi, bùn lầy, để mất thế thống, sinh nhai đạm bạc.
Về vận hạn: quan chức bị cách giáng; giới sĩ bị đình; người thường bị ô trọc, thậm chí đến bị bắt bớ, chằng trói tàn đời. Câu thơ của hào nói ngọc trong bụi, vàng trong bùn, lâu ngày tự sáng, đâu còn chờ ai.
Hào lục ngũ: sấm đi sấm lại cũng nguy, nhưng giữ đức trung thì làm nổi việc
Hào âm, hào bình. Bình thường, có điều lo nhưng không bị tổn thất. Hào năm âm ở vị dương, bất chính nhưng ở ngôi cao, giữ được đức trung nên giữ được ngôi vị. Sấm đi sấm lại cũng nguy, nhưng lo tính sao cho khỏi mất, tức đức trung, thì cũng có việc làm nổi.
Chấn vãng lai lệ, ức vô táng, hữu sự.
Hà Lạc nói khó tránh nguy, cần có đức để biết sợ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm, hay lo sợ, chỉ thấy toàn là nguy, nhưng ở vị năm, có đức trung, cứ giữ lấy đức đó thì sấm tới hay lui, tức vãng lai, cũng có thể hiểu là hào năm này tới hay lui, cũng không sao mà còn làm được công việc nữa.
Người mệnh hợp cách tài không đủ mà đức có thừa, có thể giữ nghiệp cũ và tạo nên thành tích giúp nước. Người mệnh không hợp cách cũng trung hậu giữ được cơ đồ; tuổi trẻ bôn tẩu, muộn mới an nhàn.
Về vận hạn: quan chức và giới sĩ yên phận, bảo thủ cố hữu; người thường có lo, đau chân tay. Câu thơ của hào nói ghê hồn đao lửa kinh nguy, giai nhân thực giúp, hẹn đi về hướng Khôn, đất Tây Nam.
Hào thượng lục: sấm dồn đến cùng, nhìn kinh ngạc mà không dám tiến
Hào âm, hào xấu. Sấm mỏi mỏi, tức đến cùng rồi, nhìn kinh ngạc; tiến hành thì xấu; sấm chưa tới nơi hàng xóm nên không lỗi gì; việc cưới xin có điều tiếng. Hào bất trung, bất chính, sắp biến. Hào gặp nhiều gian nan, dễ bị sa thải, truất giáng.
Chấn sách sách, thị quắc quắc, chinh hung; chấn bất vu kỳ cung, vu kỳ lân, vô cữu, hôn cấu hữu ngôn.
Hà Lạc nói vô tài nên chịu tai họa xấu.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, gặp hoàn cảnh cực kỳ chấn động, vì ở trên cùng quẻ Chấn, nên hiện ra vẻ quá sợ sệt; mà không có tài, cho nên không nên hành động gì cả, chỉ nên đề phòng trước thôi. Bốn chữ hôn cấu hữu ngôn, Chu Hy hiểu là nói về việc gả cưới, không khỏi có lời ngờ vực; các sách khác đều hiểu là bị bà con chê cười. Tại sao lại chê cười? Tại hào này nhút nhát, tại không dám hành động chăng.
Phan Bội Châu phụ chú: sáu hào quẻ Chấn không hào nào không có chữ chấn; thánh nhân muốn bảo cho người ta rằng hễ đã đem thân vào đời thì không một người nào mà không ở trong hoàn cảnh nguy cực, nên trong sáu hào đều có chữ chấn.
Người mệnh hợp cách đề phòng nạn cháy, nên gây uy tín với hàng xóm, giữ được thân, bảo vệ nhà. Người mệnh không hợp cách không cẩn trọng, hay cậy mạnh, gây tai họa, thê thiếp bất hòa, dáng mạo đầm ủy mị.
Về vận hạn: quan chức và giới sĩ phòng bị đình giáng; người thường biết đề phòng, lo trước thì tránh được tai họa, biết tu tỉnh thì tốt lành; vợ chồng có bệnh khổ, thân nhân hàng xóm có xảy tai nạn. Câu thơ của hào nói khói mưa kín mịt, đường đi người chưa tới, phải cậy nhờ ngọn gió đông.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
