Bài tổng quan
Trạch Địa Tụy: đầm nằm trên mặt đất, nhóm họp cần người đứng đầu có đức
Người có đức mà thiếu ngôi vị thì chẳng nhóm được ai, người có ngôi mà thiếu đức cũng vậy. Sáu hào của quẻ chỉ có hai chữ tốt, còn lại là than thở, nước mắt nước mũi và những cuộc họp mặt tan nhanh hơn lúc gom... Vậy kẻ đứng giữa một bầy đông phải giữ điều gì để người ta tin theo?
Mục lục · 8 phần
- 01Tụy là nhóm họp: đầm nằm trên mặt đất
- 02Khôn thuận, Đoài vui: nhóm họp cần người đứng đầu có đức
- 03Hào sơ lục: có người tin mà không tới trót, lòng loạn mất cuộc họp
- 04Hào lục nhị: kéo bạn lên cùng, tin nhau thì lễ mọn cũng được thần nhận
- 05Hào lục tam: họp mà than thở, chẳng ai thèm nhận
- 06Hào cửu tứ: đứng giữa trên dưới, giữ rất tốt thì không lỗi
- 07Hào cửu ngũ: có ngôi cao nhưng vẫn phải tu đức
- 08Hào thượng lục: than thở khóc lóc mà chẳng biết lỗi tại ai
Tụy là nhóm họp: đầm nằm trên mặt đất
Quẻ số bốn mươi lăm là Trạch Địa Tụy, thuộc hàng quẻ tốt, ứng với tháng sáu. Tụy nghĩa là tụ họp đông đảo. Trên là Đoài, là đầm; dưới là Khôn, là đất. Nước đầm nằm trên mặt đất thì có chỗ để nhóm lại, tụ lại, nên gọi là Tụy.
Trạch thượng ư địa, Tụy. Quân tử dĩ trừ nhung khí, giới bất ngu.
Lời Tượng nói đầm ở trên đất là quẻ Tụy. Người quân tử nhìn đó mà cất giữ, sửa sang binh khí để phòng sự bất ngờ xảy ra.
Người sinh vào tháng sáu gặp quẻ này là cách công danh phú quý. Câu thơ của quẻ đại ý rằng âm dương hội họp mà chưa hẹn, thuyền đóng bên sông định cứu nguy; hoa rụng trước sân thành quả mới, sắp đi Tây Bắc mà việc còn ngờ.
Khôn thuận, Đoài vui: nhóm họp cần người đứng đầu có đức
Nguyễn Hiến Lê giảng: đầm ở trên đất là nước có chỗ để nhóm, để tụ, nên gọi là quẻ Tụy. Quẻ nội là Khôn có tính thuận, quẻ ngoại là Đoài có nghĩa vui vẻ hòa thuận, mà hào năm ở trên được hào hai ở dưới ứng trợ, tất nhóm họp được đông người, cho nên hanh thông. Nhóm họp cần long trọng và tỏ lòng chí thành, có thần linh chứng giám; vì vậy lời Thoán có câu vua tới nhà Thái miếu, ra mắt bậc đại nhân thì lợi, giữ vững đạo chính thì lợi. Người đứng ra nhóm họp một đảng phải là bậc đại nhân có tài, có đức, được người tin, người trọng thì mới tốt; người đó phải giữ vững đạo chính, đường lối chính đáng thì mới tốt. Lễ vật nên dùng con sinh lớn.
Lời Tượng khuyên khi nhóm họp nên có tinh thần hòa thuận, vui vẻ như quẻ Khôn, quẻ Đoài; cất khí giới để ngừa những biến cố bất ngờ xảy ra trong lúc họp.
Phan Bội Châu phụ chú: thâu tóm lời quẻ thì thấy ý thánh nhân bàn về thời Tụy rất minh bạch và đầy đủ. Tụy là nhóm họp. Nhóm họp mà không có người đứng đầu dắt dẫn thì Tụy không xong, nên phải có bậc đại nhân, có tài đức. Nhóm họp tất phải có chủ nghĩa chính đáng để quân chúng theo đường lối mà đi, đường lối đó lợi về chính bền, như thế kết quả mới hanh thông. Lúc bấy giờ cần phải có vật chất sắp đặt cho hậu hĩnh để sự tụ họp được lâu dài, nên phải dùng lễ vật lớn; về vật chất không thể keo kiệt được.
Hào sơ lục: có người tin mà không tới trót, lòng loạn mất cuộc họp
Hào âm, hào xấu. Có người tin, tức hào bốn, mà mình không theo tới cùng, bèn loạn mất cuộc tụ họp của mình với hào bốn. Nếu kêu gọi thì cả một nhóm sẽ cười, tức hai hào âm. Đừng lo, cứ tiến đi thì không lỗi gì.
Hữu phu, bất chung, nãi loạn nãi tụy; nhược hào, nhất ác vi tiếu; vật tuất, vãng vô cữu.
Về ứng nghiệm: gặp gian nan vất vả; giới chức khó thăng tiến, bị kỷ luật, truất giáng; sĩ tử không gặp thời, khó thành sự nghiệp; người thường hay đi theo bọn tiểu nhân, bị vạ lây. Nên xa bọn tiểu nhân để theo đạo chính, tránh được cái tai họa tụ hợp bừa bãi.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này có chính ứng là hào bốn dương cương, tức là có bạn tốt. Nhưng hào một âm nhu, giữ đạo chính không được vững, không theo hào bốn đến cùng mà nhập bọn với hào hai và hào ba đều là âm nhu, tiểu nhân; lúc thì loạn, lúc thì họp nhóm của mình. Nếu biết như vậy là lầm mà kêu gọi theo hào bốn, dù có bị hào hai, hào ba cười cũng mặc thì sẽ không có lỗi.
Người mệnh hợp cách sửa lỗi mà theo chính đạo thì giữ được nghiệp lớn, không lỗi. Người mệnh không hợp cách thì vui buồn bất thường, tà chính không định được, đức bạc, hạnh kém, vất vả.
Về vận hạn: quan chức bị cách giáng; giới sĩ gian nan; người thường kết cấu với tiểu nhân, bị vu tội lây. Đại để trước xấu sau mới tốt. Câu thơ của hào nói đường sinh nhai chưa thông, phải phòng cả thủy tai.
Hào lục nhị: kéo bạn lên cùng, tin nhau thì lễ mọn cũng được thần nhận
Hào âm, hào tốt. Dẫn kéo thì tốt, không lỗi; có lòng tin nhau thì dù lễ mọn cũng dùng được trong việc cúng tế. Hào này vừa trung vừa chính lại có hào năm đối ứng, như người dùng lễ mọn mà vẫn cảm được thần.
Dẫn cát, vô cữu; phu nãi lợi dụng thược.
Hà Lạc nói gặp được người chí thành giúp nước, nên sửa cái lễ nhỏ mà thành tâm.
Về ứng nghiệm: giới chức dễ thăng tiến; sĩ tử dễ thành công, thành danh; người thường kinh doanh phát đạt, tài lộc nhiều.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu nhưng trung chính, ứng với hào năm dương cương trung chính ở trên, là một nhóm rất tốt. Nhưng vì nó ở xen vào giữa hai hào âm là hào một và hào ba, mà cách xa hào năm, nên lời hào khuyên nó kéo hai hào âm đó lên nhóm họp với hào năm thì tốt, không có lỗi, và nhớ phải chí thành mới được. Chí thành thì như trong việc cúng tế, dùng lễ mọn cũng tốt.
Phan Bội Châu nói lời hào này chỉ cốt hai chữ dẫn và tin. Dẫn thuộc về thủ đoạn, tức phương pháp; tin thuộc về tinh thần.
Người mệnh hợp cách có đức chính trực nên dẫn dân được người hiền giúp nước, lại cảm thấu được thần linh. Người mệnh không hợp cách cũng thành thực giao hảo, được quý nhân dẫn dắt, có lợi lộc, có phúc dày.
Về vận hạn: quan chức và giới sĩ được tiến cử, thăng chuyển; người thường doanh mưu hoạch lợi, được đề cử, toại ý. Câu thơ của hào nói trong ngoài buồn tủi giờ như mặt hoa, mây tan trăng tỏ thì phúc thành.
Hào lục tam: họp mà than thở, chẳng ai thèm nhận
Hào âm, hào xấu. Tụ họp mà than thở, chẳng có gì lợi; đi lên thì không lỗi, chỉ chút ít hối thẹn. Hào ba không trung, không chính nên tự hợp mà không có người theo.
Tụy như, ta như, vô du lợi; vãng vô cữu, tiểu lận.
Hà Lạc nói tụ họp chẳng chính đâu, nhưng cứ phải đi.
Về ứng nghiệm: quan chức khó tiến, phải điều đi xa; sĩ tử bôn ba; người thường dễ bị tổn thương, đau yếu.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, ứng với hào trên cùng nhưng không thích, vì hào trên cùng cũng âm nhu. Muốn họp với hai hào dương kia là hào bốn và hào năm, nhưng hào bốn có bạn, hào năm có bạn là hào hai rồi, lại chê hào ba bất trung bất chính, không thèm. Hào ba nhìn xuống dưới muốn họp với hào hai cũng không được, vì hào hai có bạn là hào năm và hào bốn rồi. Vì vậy hào ba than thở, chẳng có gì tốt cả. Đành phải tiến lên mà họp với hào trên cùng, chẳng như ý, nhưng không có lỗi.
Phan Bội Châu nói: bởi vì những người có thế lực đã không chịu nhóm họp với mình, mà còn có bạn tương ứng dù ở xa thì cũng nên tương giao. Trong thời Tụy, tuy có xấu thẹn nhưng không lỗi, vì hợp đạo lý.
Người mệnh hợp cách toại chí, bôn ba vì nhà, sinh nhai thuận lợi. Người mệnh không hợp cách lãnh đạm với thân thích, gia nghiệp quạnh hiu, rời tổ đi xa; may lắm mới toại ý.
Về vận hạn: quan chức khó tụ hợp ở trung ương, phải đi xa vất vả; giới sĩ khó gặp dịp tiến thân; người thường nhà không yên, thân thích bị thương tổn, người già vận xấu. Câu thơ của hào nói dưới trên tụ họp vui thay, còn mình buồn tìm bạn mà chẳng được, chỉ lăng xăng vô ích.
Hào cửu tứ: đứng giữa trên dưới, giữ rất tốt thì không lỗi
Hào dương, hào bình. Rất tốt, không lỗi, vì là hào không đúng vị trí, người có đối ứng, như người đứng giữa trên dưới được cả trên lẫn dưới ủy thác; tốt, nhưng không tốt cho những người tài đức kém. Giữ rất tốt thì không lỗi, vì ngôi hào bốn không xứng đáng.
Đại cát, vô cữu.
Hà Lạc nói trên dưới ủy thác, nên phải hết lòng.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này dương cương, tốt, chỉ hiềm bất chính. Nó thân với hào năm dương cương ở trên, mà lại gần với một bầy âm nhu ở dưới; tình thế khó khăn, phải làm sao thuyết phục được bầy âm theo hào năm, như vậy mới khỏi có lỗi.
Người mệnh hợp cách cầm quyền, chấp chính, phải rất linh hoạt, cân đối tất cả, tụ hợp được mọi cái tốt lành, thịnh vượng thì mới không lỗi. Người mệnh không hợp cách có tài mà thiếu đức, nếu không hỏng việc nước cũng hại việc nhà.
Về vận hạn: quan chức phòng bị nghi ngờ, từ cao xuống thấp, nên dũng cảm thoái lui là hay; giới sĩ mắc lỗi không đáng với ngôi vị; người thường không theo đường chính nên có tai họa, thật là quân tử thì mới thoát. Câu thơ của hào nói dưới trên tụ họp tốt lành, phải theo chính đạo thì mình mới yên.
Hào cửu ngũ: có ngôi cao nhưng vẫn phải tu đức
Hào dương, hào tốt. Tụ họp mà có ngôi cao nên không lỗi; nếu còn ai chưa tin thì phải tu thêm cái đức của bậc nguyên thủ, giữ được lâu dài, giữ vững đạo chính thì khỏi ăn năn nữa. Vừa đúng cương lại biết tu đức thì không có gì ăn năn.
Tụy hữu vị, vô cữu, phỉ phu, nguyên vĩnh trinh, hối vong.
Hà Lạc nói ở ngôi lãnh đạo cũng phải tu đức.
Về ứng nghiệm: quan chức có tài đức dễ thăng tiến; sĩ tử dễ thành đạt; người thường làm ăn phát đạt; kẻ tâm tà, không biết tu thân dễ mắc gian nan vất vả, có khi bị tai nạn.
Nguyễn Hiến Lê giảng: bốn hào âm trong quẻ này đều muốn họp với hai hào dương, mà trong hai hào dương này, hào năm có địa vị cao nhất, đức lại thịnh hơn hào bốn, đủ cả trung chính, nên các hào âm đều hướng vào, tốt, không có lỗi. Nhưng còn e có người vẫn chưa tin hẳn hào năm; muốn cho mọi người tin thì phải làm sao xứng đáng là vị nguyên thủ, giữ người được lâu, giữ đạo chính được bền, như vậy sẽ không hối hận.
Người mệnh hợp cách ngôi cao lộc trọng chưa lấy làm vinh, sĩ theo dân mến chưa lấy làm thích, tức chưa thỏa mãn với ngôi vị lợi lộc. Thường cẩn trọng, tôn kính thì phú quý mới bền. Người mệnh không hợp cách cũng phải luôn tỉnh táo xem xét mình, chẳng vinh hoa thì cũng giữ được gia nghiệp.
Về vận hạn: quan chức chưa được tin hẳn nên chưa sáng sủa; giới sĩ chưa vững đạo đức; người thường không hợp nhân tình nên còn trở ngại. Câu thơ của hào nói trăng tròn hoa lại nở ra, việc đời thong thả, tu là được.
Hào thượng lục: than thở khóc lóc mà chẳng biết lỗi tại ai
Hào âm, hào xấu. Than thở, khóc chảy nước mắt nước mũi, mà không biết lỗi tại ai, nhưng cũng không có lỗi. Trước tốt sau xấu, sắp biến, chỉ biết than thở. Dễ gặp gian nan hao tán tài sản, sức lực, giảm thọ. Sĩ tử long đong, khó thành đạt; người thường vất vả nghèo khó.
Tê tư, thế di, vô cữu.
Hà Lạc nói bất tài, không ngôi vị mà tụ họp thiên hạ thì chỉ thêm lo sợ.
Nguyễn Hiến Lê giảng: hào này âm nhu, kém tư cách, lại ở cuối thời nhóm họp, muốn họp với ai cũng không được, đến nỗi than thở sụt sùi; cứ an phận thì không có lỗi. Phan Bội Châu nói đó là không trách lỗi ai được, cũng như hào trên cùng quẻ Cấu. Đại ý quẻ này muốn họp người, lập một đảng chúng bạn thì phải là bậc đại nhân, có địa vị cao, có tài, có đức, phải có lòng chí thành, một chủ nghĩa chính đáng.
Phan Bội Châu phụ chú: Tụy vốn là việc tốt trong xã hội loài người, nên lời quẻ nói Tụy hanh, cả sáu hào không có chữ xấu. Nhưng sáu hào cũng chỉ có hai chữ tốt, là cớ vì sao? Vì trong sự nhóm họp có hai phương diện: một mặt là chủ động mà nhóm họp được người, một mặt là bị động mà nhóm hùa theo người. Phương diện chủ động là thiểu số, như hào hai âm và hào năm dương. Hào hai âm tuy vị còn thấp mà đức rất cao; hào năm dương đức cao ngôi nổi bật, là những bậc đại nhân, mới nhóm họp được người. Thứ nữa cũng phải như hào bốn dương, tài đức đã khá tốt, địa vị lại gần bậc chí tôn, uy quyền trong tay, hoàn cảnh lại thuận lợi, chính là thời thế tạo anh hùng, mới mong làm nên sự nghiệp tụ họp. Vậy nên hào hai có chữ dẫn là tốt; hào bốn có chữ giữ thật tốt; hào năm có chữ hối vong.
Nếu chẳng thế, không có địa vị như hào sơ, hào trên, nửa trên nửa dưới như hào ba, tài đức chẳng hơn ai, thì chẳng những không nhóm họp được người mà muốn theo người cũng gay go lắm. Vậy nên hào sơ thì nói bèn loạn bèn họp; hào ba thì nói họp đây than thở đây; hào sáu thì nói than thở nước mắt nước mũi. Mới biết có đức mà không có vị vẫn không làm nên Tụy; có vị mà không có đức càng không làm nên Tụy. Xem trong sáu hào chỉ có hai hào có chữ tốt, chúng ta sẽ hiểu.
Người mệnh hợp cách trị phải phòng loạn, an phải nhớ nguy thì bảo toàn được thân, tránh được hại. Người mệnh không hợp cách nhu nhược, ưu sầu, cô lập, chỉ làm được việc nhỏ.
Về vận hạn: tiến lên chẳng ổn, việc nhiều rắc rối, lớn bé ưu sầu, danh lợi thành hư, tuổi thọ cũng kém. Câu thơ của hào nói việc gì cũng khó ban đầu, phong ba hiểm trở lâu mới thành.
Nguồn: Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
