Bài tổng quan
Chương Thiên Thời Và Niên Thời: Xem Nắng Mưa, Thiên Tai Trong Năm
Quẻ Lục Hào không chỉ soi việc riêng của một người mà còn soi được thời tiết và vận của cả một năm. Ở phương diện Thiên Thời, nắng mưa, gió, sấm chớp, sương mù, nhật thực và nguyệt thực đều được đoán qua vai trò của Phụ Mẫu, Thê Tài, Tử Tôn, Huynh Đệ và Quan Quỷ, rồi soi thêm qua các câu phú cổ về mưa gió. Ở phương diện Niên Thời, sáu hào phản ánh việc quốc gia, quan lại, Thái Tuế cùng những tai ương như hạn hán, lụt lội, hỏa tai, ôn dịch, giặc cướp, kéo theo cả phép luận về động đất và điềm dị thường. Vì vậy, bầu trời và thời cuộc đều được đọc bằng cùng một bộ ký hiệu. Lối nghĩ ấy hiện ra rất sớm: Thê Tài động báo trời nắng, Phụ Mẫu vượng báo mưa.
Thiên Thời: câu 1–31
Thiên Thời — cách xem nắng mưa, gió, sấm chớp, sương mù bằng các hào trong quẻ Bốc Dịch.
1.
天道杳冥豈可度斯夫旱潦 - 易爻微妙自能驗彼之陰晴 - 當究父財-勿憑水火
Thiên đạo yểu minh, khởi khả đạc tư phù hạn lạo
Dịch hào vi diệu, tự năng nghiệm bỉ chi âm tình
Đương cứu Phụ Tài - Vật bằng thủy hỏa
Đạo trời u minh há lượng được hạn lụt thế sao. Hào dịch vi diệu tự nghiệm được nắng mưa đấy. Phải xét Phụ, Tài - Chớ nhờ Thủy Hỏa.
Thiên Huyền phú và Dịch Lâm Bổ Di đều dùng Thủy Hỏa làm chủ nắng mưa, mà không xét Lục thân chế hóa. Vốn cố chấp mà không thông biến. Vả lại như hào Thủy là mưa, tất bảo vượng động sẽ mưa như trút, hưu tù thì mưa bay bay. Nhưng Thủy ở mùa đông vượng tất mưa. Mưa há chi to vào thu đông mà nhỏ vào xuân hạ sao? Biết như thế mà không tự phá bỏ sao? Phàm xem thiên thời nên xem Phụ và Tài, chớ luận Thủy và Hỏa.
2.
妻財發動八方咸仰晴光 - 父母興隆四海盡霑雨澤
Thê Tài phát động bát phương hàm ngưỡng tình quang
Phụ Mẫu hưng long tứ hải tận triêm vũ trạch
Thê Tài phát động tám phương đều thấy nắng ráo. Phụ Mẫu vượng hưng bốn bể đều thấm ướt mưa.
Dùng hào Phụ Mẫu làm mưa, Tài động thì khắc chế thần mưa, cho nên chủ tạnh.
3.
應乃太虛逢空則雨晴難擬
Ứng nãi thái hư, phùng Không tắc vũ tình nan nghĩ
Ứng là bầu trời, gặp Không thì nắng mưa khó định.
Xem Thiên thời, Ứng lâm Không thì nắng mưa khó định, phải dựa vào Phụ, Tài và Nhật thần để đoán.
4.
世為大塊受剋則天變非常
Thế vi đại khối, thụ khắc tắc thiên biến phi thường
Thế là đất lớn, chịu khắc thì trời biến đổi phi thường.
Ứng là Trời, thể của muôn vật. Thế là Đất, chủ muôn vật. Nếu Thế bị động hào hình khắc tất thời tiết thay đổi phi thường.
5.
日辰主一日之陰晴
Nhật thần chủ nhất nhật chi âm tình
Nhật thần chủ mưa nắng trong ngày.
Như hào Phụ Mẫu động bị Nhật thần khắc chế thì không mưa. Nếu hào Phụ Mẫu động được Nhật thần sinh phù chủ mưa to. Nếu Tài hào động được Nhật thần sinh phù chủ nắng bức. Nhật thần là chúa tể.
6.
子孫管九天之日月
Tử Tôn quản cửu thiên chi nhật nguyệt
Tử Tôn cai quản tháng ngày trong bốn phương.
Tử Tôn dương là ngày, Tử Tôn âm là tháng. Vượng tất trời trong sáng, suy thì trời ảm đạm, Không phục thì mây che, mộ tuyệt thì u ám. Mộ thì nên gặp xung, Tuyệt nên gặp sinh.
7.
若論風雲全憑兄弟
Nhược luận phong vân toàn bằng Huynh Đệ
Nếu luận gió mây toàn dựa vào Huynh Đệ.
Gió mây nên xem hào Huynh Đệ, dùng vượng động suy tĩnh để luận gió mây lớn nhỏ dày mỏng. Nếu luận về thuận phong hay nghịch phong thì không dùng Huynh Đệ. Lấy Tử Tôn làm thuận phong, dùng Quan quỷ làm nghịch phong.
8.
要知雷電但看官爻
Yếu tri lôi điện đãn khán Quan hào
Muốn biết sấm chớp chỉ xem hào Quan.
Quan Quỷ ở cung Chấn động là Sấm, vượng tướng là sét, hóa Tiến thần cũng thế. Hoặc quẻ không có Phụ Mẫu, tuy sấm cũng không mưa, Phụ Mẫu trị nhật mới mưa.
9.
更隨四季推詳
Cánh tùy tứ quý suy tường
Lại tùy bốn mùa để suy rõ.
Câu này nối tiếp với câu trên, gặp mùa đông thì không thể đoán sấm.
10.
須配五行參決
Tu phối ngũ hành tham quyết
Nên phối hợp với ngũ hành mà quyết đoán.
Ngũ hành tùy thời mà vượng. Xuân Đông nhiều sương tuyết băng đá, Hạ Thu sấm chớp sương móc buổi sớm.
11.
晴或逢官為烟為霧
Tình hoặc phùng Quan vi yên vi vụ
Tạnh gặp quan Quỷ là khói là sương.
Quẻ được trời tạnh, nếu Quan Quỷ động thì có khói mù dày đặc, lắm sương, gió độc tối mù. Đông thì quá lạnh, hạ thì quá nóng.
12.
雨而遇福為電為虹
Vũ nhi ngộ Phúc vi điện vi hồng
Mưa mà gặp Phúc Đức là chớp là mống.
Quẻ xem xó mưa, nếu Tử Tôn động thì có chớp có cầu vồng. Tử Tôn chủ có màu sắc, cầu vồng và chớp đều có hình ảnh đó, cho nên dựa đó mà suy.
13.
應臨子孫碧落無瑕疵之半點
Ứng lâm Tử Tôn, bích lạc vô hà tì chi bán điểm
Ứng ở Tử Tôn thì bầu trời xanh không có chút mây.
Phàm Ứng lâm Tử Tôn động, mặt trời sáng tỏ. Hoặc Tài lâm Ứng động hóa Phúc Đức cũng thế.
14.
世臨土鬼黃沙多漫散於千村
Thế lâm Thổ Quỷ, hoàng sa đa mạn tán ư thiên thôn
Thế ở Quỷ thổ thì trời vàng như cát rải rác cả ngàn thôn.
Hoặc hào Phụ Mẫu Không phục, lâm Quỷ thổ phát động thì trời vàng, đợi hào Phụ xuất Không, đến ngày xung thì có mưa.
15.
三合成財問雨那堪八卦
Tam hợp thành Tài, vấn vũ na kham bát quái
Tam hợp thành Tài cục, hỏi mưa thì chẳng quẻ nào được.
Quẻ có Tam hợp thành Tài cục thì nắng rực rỡ mà không mưa. Tam hợp thành Phụ cục thì có mưa.
16.
五鄉連父求晴怪殺臨空
Ngũ hương liên Phụ, cầu tình quái sát lâm Không
Phụ dù có hành gì trong ngũ hành, cầu nắng thì Sát chớ lâm Không.
Ngũ hương là ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Chỉ có hào Phụ là mưa. Tài hào là kỵ sát. Nếu cầu tạnh đừng để Tài hào lâm Tuần Không.
17.
財化鬼陰晴未定
Tài hóa Quỷ âm tình vị định
Tài hào hóa Quan Quỷ nắng ráo hay u ám chưa định được.
Tài chủ tạnh nắng, Quỷ chủ u ám. Như gặp Tài và Quỷ biến đổi lẫn nhau, hoặc Quỷ Tài đều động tất chủ nắng ráo hay u ám chưa định được.
18.
父化兄風雨靡常
Phụ hóa Huynh phong vũ mỹ thường
Phụ hóa Huynh gió mưa không thường.
Phụ chủ mưa, Huynh chủ gió. Hai hào này hóa lẫn nhau hoặc đều động chủ gió mưa xen lẫn. Phàm luận thứ tự thì động xảy ra trước, biến xảy ra sau. Nếu đều động cả thì vượng chiếm trước, mà suy thì sau.
19.
父化子孫雨後長虹垂蟺蜓 - 弟連福德雲中日月出蟾蛛
Phụ hóa Tử Tôn, vũ hậu trường hồng thùy đế đống
Đệ liên Phúc Đức, vân trung nhật nguyệt xuất thiềm thù
Phụ hóa Tử Tôn, sau mưa có cầu vồng dài vắt ngang. Huynh Đệ cùng Phúc Đức, trong mây hiện ra nhật nguyệt.
Nhật Nguyệt, cầu vồng đều thuộc Tử Tôn. Nếu Phụ hào hóa ra Tử Tôn tất sau cơn mưa có cầu vồng, nếu Huynh hào hóa Tử Tôn thì trong mây có mặt trời.
20.
父持月建必然陰雨連旬
Phụ trì Nguyệt kiến tất nhiên âm vũ liên tuần
Phụ trì Nguyệt kiến thì ắt mưa mù suốt tuần.
Như cầu tạnh nắng há lại Phụ trì Nguyệt kiến. Nếu không có Tử Tôn cùng Thê Tài động thì tất mưa mù trọn tuần.
21.
兄坐長生擬定狂風累日
Huynh tọa Trường Sinh, nghĩ định cuồng phong lũy nhật
Huynh ở Trường Sinh, đoán định gió lớn nhiều ngày.
Với Trường Sinh mà mầm mống của mọi sự việc. Nếu Hào Phụ gặp tất mưa nhiều ngày; hào Huynh gặp thì gió nhiều ngày; hào Quan gặp thì mây mù không tan; hào Tài gặp thì không mong có mưa. Đợi đến ngày Mộ Tuyệt thì mưa mới hết, gió mới ngừng, mới hết mây mù…
22.
父財無助旱潦有常
Phụ Tài vô trợ hạn lạo hữu thường
Phụ và Tài không được phù trợ, thường có hạn lụt.
Quan hào và Phụ Mẫu vô khí mà Tài hào vượng động tất hạn. Tử Tôn, Thê Tài vô khí mà Phụ Mẫu vượng động tất lụt. Gặp như vậy sợ nhất là Nhật Nguyệt động mà sinh phù thì lụt ngập hết, hạn thì khô cằn. Nếu hai hào Phụ Tài tuy vượng động nhưng bị chế phục, lại không được phù trợ, nếu hạn thì cũng có lúc, mà mưa cũng có chừng.
23.
福德帶刑日月必蝕
Phúc Đức đới Hình, Nhật Nguyệt tất thực
Phúc Đức mà bị Hình, tất có Nhật Nguyệt thực.
Tử Tôn bị Hình hóa Quan Quỷ, hoặc Quan Quỷ động mà hình hại, hoặc Phụ có Đằng Xà mà khắc Tử, đều chủ có Nhật Nguyệt thực. Hào Dương thì Nhật thực, hào Âm thì Nguyệt thực.
24.
雨嫌妻位之逢冲
Vũ hiềm Thê vị chi phùng xung
Xem mưa thì ngại hào Thê gặp xung.
Xem mưa nếu Tài hào ám động, thì Phụ Mẫu ngầm bị thương, không hy vọng có mưa.
25.
晴利父爻之入墓
Tình lợi Phụ hào chi nhập Mộ
Xem nắng thì lợi khi hào Phụ nhập Mộ.
Hào Phụ phát động nhập Mộ, mà không có Nhật thần, động hào xung khai Mộ khố thì mưa ngưng.
26.
子伏財飛簷下暴夫猶抑鬱
Tử phục Tài phi, thiềm hạ bộc phu do ức uất
Tử phục Tài Phi, người dưới thềm còn chịu oi bức.
Hào Tài chủ tạnh mà không chủ có mặt trời. Nếu Tử Tôn xuất hiện, phát động vượng tướng thì sau sẽ có mặt trời. Nếu không có Tử Tôn thì hào Tài không gốc rễ, Quan Quỷ ắt chuyên quyền, điềm tạnh không lâu được.
27.
父衰官旺門前行客尚趦趄
Phụ suy Quan vượng, môn tiền hành khách thượng tư thư
Phụ suy Quan vượng, trước cổng người đi còn chùn bước.
Mưa lấy hào Phụ làm chủ, được hào Quan vượng động thì có mưa. Nếu hào Phụ lâm Không thì không có mưa, tượng mây dày đặc không tan. Đợi hào Phụ xuất Tuần gặp xung tất mưa.
28.
福合應爻木動交而游絲漫野
Phúc hợp Ứng hào mộc động giao nhi du ti mạn dã
Phúc hợp với hào Ứng, thuộc mộc mà động thì mưa bay tràn đồng.
Tử Tôn là thần khoáng đạt, nếu ở hào Mộc động mà hợp với Ứng, hoặc ở hào Ứng mà sinh hợp với Thế thân, tất thì gió dịu nắng ấm, trời lộng gió mưa bay.
29.
鬼冲身位金星會而陰霧迷空
Quỷ xung Thân vị, Kim tinh hội nhi âm vụ mê không
Quỷ xung Thân, thuộc Kim thì sương mù mờ mịt.
Quỷ lâm hào Kim động mà xung khắc Thế thân, hoặc xung khắc Ứng hào, hoặc lâm Ứng mà động, đều chủ khói mù mờ mịt khắp đồng.
30.
卦值暗冲雖空有望
Quái trị ám xung, tuy Không hữu vọng
Quẻ gặp ám xung, tuy Không cũng có hy vọng.
Như xem mưa mà Phụ hào lâm Không, xem tạnh ráo mà Tài hào lâm Không, nếu được Nhật thần xung, tất xung Không mà nên chẳng phải là Không. Muốn định nhật kỳ, phải xuất Tuần mới hy vọng được.
31.
交逢合住縱動無功
Hào phùng hợp trú, túng động vô công
Hào nếu gặp hợp, dù động cũng vô ích.
Phụ động thì mưa, Tài động thì tạnh, là lẽ đương nhiên. Nếu bị Nhật thần hợp, tuy động cũng như tĩnh, đợi Nhật thần xung Phụ hào có thể mưa, xung Tài hào có thể tạnh.
Thiên Thời: câu 32–44
32.
合父鬼冲開有雷則雨 - 合財剋破無風不晴
Hợp Phụ, Quỷ xung khai, hữu lôi tắc vũ
Hợp Tài, Huynh khắc phá, vô phong bất tình
Hợp với Phụ, Quỷ xung khai, có sấm sẽ mưa. Hợp với Tài, Huynh khắc phá không gió không tạnh.
Như động hào hợp với Phụ hào, được Quan quỷ khử xung động hào, trước sấm sau mưa. Tài bị động hào hợp, được Huynh Đệ khắc phá động hào, không gió thì không tạnh.
33.
坎巽互交此日雪花飛六出
Khảm Tốn hỗ giao, thử nhật tuyết hoa phi lục xuất
Khảm Tốn cùng động thì ngày đó hoa tuyết bay.
Khảm Tốn là nói đến Phụ và Huynh đều động. Xem vào mùa đông, có tượng gió tuyết tung bay.
34.
陰陽各半今朝霖雨慰三農
Âm dương các bán, kim triêu lâm vũ úy tam nông
Âm dương mỗi thứ một nửa thì hôm đó mưa dầm, an ủy nhà nông.
Âm và tình là nói đến 2 hào Quan và Phụ. Như cầu mưa mà thấy Quan và Phụ đều vượng động mà không có xung hợp thương tổn thì ngày đó có mưa.
35.
兄弟木興係巽風而馮夷何其肆虐
Huynh Đệ mộc hưng hệ Tốn phong, nhi phùng Di hà kỳ tứ ngược
Huynh Đệ thuộc mộc động liên quan cung Tốn, để Thần gió sao quá bạo ngược.
Gặp Huynh Đệ thuộc mộc ở cung Tốn, vượng động hình khắc hào Thế thì lo có gió, nếu Phụ cũng vượng động chủ gió mưa hòa lẫn.
36.
妻財發動屬乾陽而早魃乎爾行凶
Thê Tài phát động thuộc Càn dương nhi hạn bạt hồ nhĩ hành hung
Thê Tài động thuộc cung Càn dương sao mà Thần hạn quá hành hung.
Tài hào phát động, hoặc biến nhập quẻ Càn, lại gặp Nguyệt kiến Nhật thần sinh phù trợ tất chủ đại hạn.
37.
六龍御天祇為蛇興震卦
Lục long ngự thiên chỉ vi Xà hưng Chấn quái
Lục long hiện ở trời chỉ vì Đằng Xà động ở cung Chấn.
Chấn có tượng rồng, nếu thấy Thanh Long hoặc hào Thìn tại cung Chấn vượng động, tất có rồng hiện. Nếu Phụ hóa Thìn thì trước mưa sau có rồng. Nếu Thìn hóa Phụ thì trước thấy rồng sau có mưa. Phụ hào an tĩnh hoặc Không phục, rồng tuy hiện mà không mưa, hóa Tài cũng thế.
38.
五雷驅電蓋緣鬼發離宮
Ngũ lôi khu điện cái duyên Quỷ phát Li cung
Sấm xua chớp vốn do Quỷ động ở cung Li.
Có tiếng là sấm, không tiếng là chớp. Nếu Quỷ ở cung Ly động nên đoán là sấm động xua chớp. Vốn quẻ Li tượng có màu sắc. Quỷ thuộc hỏa cũng thế.
39.
土星依父雲行雨施於天 - 木德扶身而日暖風和之景
Thổ tinh y Phụ, vân hành vũ thí ư thiên
Mộc Đức phù thân, nhật noãn phong hòa chi cảnh
Phụ có hành Thổ, trời chuyển mây mưa. Phúc Đức thuộc Mộc trợ Thân, tượng nắng ấm gió dịu.
Thổ chủ mây, Phụ chủ mưa, cho nên Thổ lâm Phụ động thì tượng mây chuyển trời mưa. Mộc chủ gió, Tài chủ tạnh. Cho nên Mộc lâm Tài động có nắng ấm gió dịu.
40.
半晴半雨卦中財父動興
Bán tình bán vũ, quái trung Tài Phụ đồng hưng
Nửa mưa nửa tạnh, trong quẻ Tài Phụ cùng động.
Thê Tài, Phụ Mẫu đều động tất nhiên nửa mưa nửa tạnh. Vượng tạnh nhiều mưa ít, Phụ vượng Tài suy thì mưa nhiều tạnh ít.
41.
多霧多煙爻象財官皆動
Đa vụ đa yên, hào tượng Tài Quan giai động
Nhiều sương nhiều khói, trong quẻ Tài Quan đều động.
Tài động chủ tạnh, Quỷ động chủ âm u. Quan vượng Tài suy thì sương nặng hạt như mưa phùn. Quỷ suy Tài vượng thì khói mờ chốc lát rồi sáng tỏ.
42.
身值同人雖晴而日輪含曜 - 世持福德縱雨而雷鼓藏聲
Thân trị đồng nhân, tuy tình nhi nhật luân hàm diệu
Thế trì Phúc Đức, túng vũ nhi lôi cổ tàng thanh
Thân ở cùng người, tuy tạnh mà trời cũng không sáng. Thế ở Phúc Đức nếu mưa cũng không có tiếng sấm.
Phàm Huynh Đệ trì Thế, động thì khắc Tài, Tài nếu vượng tướng trời cũng không trong sáng. Tử Tôn trì Thế nếu động thì khắc Quan, Quan nếu động tuy mưa cũng không có tiếng sấm.
43.
父空財伏須救輔爻 - 剋日取期當明占法
Phụ Không, Tài phục tu cứu phụ hào
Khắc nhật thủ kỳ, đương minh chiêm pháp
Phụ lâm Không, Tài phục nên xét Nguyên thần. Chọn ngày ứng việc, cần rõ phép xem.
Phụ hào là Nguyên thần. Xem mưa lấy Phụ Mẫu làm Dụng thần, lấy hào Quan quỷ làm Nguyên thần; xem tạnh ráo lấy Tài hào làm dung thần, lấy Tử Tôn làm Nguyên thần. Nếu Dụng thần Không phục, suy vượng, động tĩnh, xuất hiện, Mộ Tuyệt, hợp xung, Nguyệt phá thì phải dùng phép định bệnh trên các hào mà quyết đoán ngày ứng việc.
Nay lấy Dụng thần làm phép tắc mà định lúc ứng việc như sau: Dụng thần phục tàng chờ ngày Dụng thần xuất lộ thì ứng việc; như Dụng thần an tĩnh chờ ngày xung tĩnh thì ứng việc; như Dụng thần Tuần không an tĩnh, chờ xuất Tuần gặp ngày xung thì ứng việc; như Dụng thần tĩnh Không gặp xung, gọi là xung khởi, chờ xuất Tuần gặp ngày hợp sẽ ứng việc; như Dụng thần tĩnh Không gặp chờ, chờ xuất Tuần gặp ngày xung thì ứng việc; như Dụng thần phát động mà không bị gì khác, chờ gặp ngày hợp ứng việc; như Dụng thần Tuần không phát động gặp xung, gọi là xung thực, thì ứng việc vào ngày này. Như Dụng thần phát động gặp hợp, động Không gặp hợp cũng tĩnh mà xung, đều chờ ngày xung mà ứng việc; như Dụng thần nhập Mộ ở Nhật thần, chờ ngày xung Dụng thần sẽ ứng việc; như Dụng thần tự hóa nhập Mộ, chờ ngày xung khai Mộ khố sẽ ứng việc; như Dụng thần bị hào khác động hợp, hay tự đồng hợp chờ ngày xung khai hợp với Dụng thần thì ứng việc; như Dụng thần bị Nguyệt phá chờ ra khỏi tháng gặp ngày trị hoặc ngày hợp thì ứng việc; như Dụng thần Tuyệt ở Nhật thần hoặc hóa Tuyệt ở hào, chờ ngày Trường Sinh sẽ ứng việc.
Như Nguyên thần hợp cục khắc mà Dụng thần phục tàng, chờ ngày xuất lộ ứng việc; như Tuần không thì chờ ngày xuất Tuần ứng việc.
Cho nên theo phép thì hợp thì chờ xung, xung thì chờ hợp; Tuyệt thì đợi Sinh, Mộ thì đợi mở; Phá thì đợi bổ, Không thì xuất Tuần, Suy thì đợi vượng. Việc xa thì đoán vào tháng ngày, việc gần thì đoán ngày giờ. Cho nên bảo: "Chọn ngày ứng việc nên rõ phép xem".
Mưa thì nên xét hào Phụ Không mà bất Không; tạnh thì nên xét hào Tài tuy phục mà không phục. Đã biết Dụng thần, còn nên xét thêm Nguyên thần. Cho nên bảo: "Phụ Không Tài phục nên xét Nguyên Thần". Chữ "tu" nên có nghĩa là "kiêm" (kèm thêm), mà xưa chú thích nghi là xem mưa mà hào Phụ lâm Không, bất tất phải theo hào Phụ, nên lấy Nguyên thần mà suy; xem tạnh mà Tài hào phục, bất tất phải theo hào Phụ mà lấy Nguyên thần để đoán, lấy từ mà đoán nghĩa, cho nên ta phải trình bày cặn kẽ.
44.
要知其詳別陰陽可推晴雨 - 欲知其細明衰旺以決重輕
Yếu tri kỳ tường, biệt âm dương khả suy tình vũ
Dục tri kỳ tế, minh suy vượng dĩ quyết trọng khinh
Muốn biết rõ, phân âm dương để suy tạnh hay mưa. Muốn biết cặn kẽ, rõ suy vượng để quyết nặng nhẹ.
Câu này ý nói đại lược mà thôi. Âm dương, động biến là quan trọng lớn lao (định mưa hay tạnh), còn nhỏ bé và ít ỏi là bởi vượng suy. Như vậy có thể đoán định được mưa to hay nhỏ.
Niên Thời: câu 1–19
Niên Thời (việc trong năm) — xem quốc gia, quan lại, thời tiết, thiên tai, nhân vật trong một năm qua sáu hào của quẻ.
1.
陰晴寒暑天道之常 - 水旱兵災年時之變
欲決禍福於一年 - 須審吉凶於八卦Âm tình hàn thử Thiên đạo chi thường
Thủy hạn binh tai niên thời chi biến
Dục quyết họa phúc ư nhất niên
Tu thẩm cát hung ư bát quái
Nắng mưa lạnh nóng việc bình thường của Thiên đạo. Lụt hạn binh đao là những biến cố trong năm. Muốn định họa phúc trong một năm. Cần xét cát hung nơi bát quái.
Niên thời là sự việc trong bốn mùa của một năm. Việc quốc gia, quan lại, thời tiết, nhân vật đều ở trong 6 hào của quẻ.
2.
初觀萬物莫居死絕之鄉 - 次察群黎喜在旺生之地
Sơ quan vạn vật, mạc cư Tử Tuyệt chi hương
Thứ sát quần lê, hỉ tại vượng sinh chi địa
Hào sơ để xem vạn vật, chớ trị ở nơi Tử Tuyệt. Hào tiếp xét lê dân, mừng tại chỗ Vượng Sinh.
Vạn vật thuộc hào Sơ, ở Tài Phúc thì cát, lâm Quan Quỷ thì hung. Hào hai là vị trí của nhân dân, gặp Tử Tôn bốn mùa an lạc, gặp Quan Quỷ trong năm nhiều tai họa.
3.
三言府縣官僚兄動則徵科必追 - 四論九卿宰相冲身則巡察無私
Tam ngôn phủ huyện quan liêu, Huynh động tất chinh khoa tất truy
Tứ luận cửu khanh tể tướng, xung Thân tất tuần sát vô tư
Hào tam nói về quan lại phủ huyện, nếu Huynh động thì truy thu thuế. Hào tứ luận về Tể tướng và cửu khanh, nếu xung Thân thì việc tuần sát vô tư.
Hào tam đoán quan lại có trách nhiệm, sinh hợp Thế hào thì có lòng thương người mến vật. Nếu lâm Tử Tôn thì thanh liêm chính trực, lâm Quan Quỷ bất nhân tàn bạo, lâm Huynh Đệ phát động khắc Thế thì bức bách thu thuế.
Nếu xem cửu khanh và tể tướng thì xét hào tứ, lâm Tử Tôn sinh hợp Thế Thân thì cai trị lo lắng cho dân, chính trực vô tư.
4.
五為君上之爻 - 六為昊天之位
Ngũ vi Quân thượng chi hào,
Lục vi hạo thiên chi vị
Hào ngũ là vị của vua. Hào lục là vị của Trời.
Hào ngũ là vị trí của vua, không nên động khắc hào Thế, vì như thế thì năm đó chịu bóc lột của triều đình. Nếu lâm Tài Phúc sinh hợp hào Thế tất được ân của vua, hóa ra Phụ Mẫu thường có ân xá, lâm Không động tất có danh mà không thực. Hào lục là Trời, nếu lâm Không năm ấy tất nhiều việc quái dị, vì vốn Trời không có lý xuất Không, nên chủ sự biến đổi lạ thường.
5.
應亦為天剋世則天心不順 - 世還為地逢空則人物多災
Ứng diệc vi Thiên, khắc Thế tắc Thiên tâm bất thuận;
Thế hoàn vi Địa, phùng không tắc nhân vật đa tai
Ứng cũng là Trời, khắc Thế thì lòng Trời không thuận. Thế còn là Đất, gặp Không thì người vật nhiều tai ương.
Ứng hào lại là những quân bên ngoài Kinh, Thế hào lại là bản địa (chỉ vùng người xem đang ở)
6.
太歲逢凶乘旺有溫州之大颶
Thái Tuế phùng hung thừa vượng, hữu Ôn châu chi đại cụ
Thái Tuế gặp hung mà vượng có gió lớn ở Ôn châu.
Thái Tuế là chủ tinh của một năm, duy gặp Tử Tôn, Thê Tài là cát, lâm những nơi khác đều bất lợi. Như lâm Huynh động thì năm đó nhiều gió, khắc Thế thì tai họa về gió bão.
(Tên phủ ở Triết Giang Trung Quốc, đây dùng để chỉ miền đất đang ở. Dùng từ Ôn châu để đối với Hán tấm ở về sau — câu 7.)
7.
流年直鬼帶刑成漢寢之轟雷
Lưu niên trị Quỷ đới hình, thành Hán tẩm chi oanh lôi
Lưu niên gặp Quan quỷ nên sấm sét trên đất Hán.
Thái Tuế lâm Quan Quỷ động, nhiều sấm sét tai họa. Sáu hào không có Quan, niên nguyệt không trị Quan, hoặc Quan suy tuyệt đều tốt.
8.
發動妻財早若成湯之日 - 交重父母潦如堯帝之時
Phát động Thê Tài, hạn nhược Thành Thang chi nhật
Giao trùng Phụ Mẫu, lạo như Nghiêu đế chi thì
Thê Tài phát động thì trời hạn như thời vua Thành Thang. Phụ Mẫu động thì lụt như thời vua Nghiêu.
Thê Tài lâm Thái Tuế phát động mà hào Phụ suy nhược, tất chủ khô hạn. Nếu Phụ trì Thái Tuế phát động, Tử Tôn suy nhược chủ nước lớn.
9.
猛烈火官回祿興災於照應
Mãnh liệt hỏa Quan hồi lộc hưng tai ư chiếu ứng
Quan Quỷ thuộc Hỏa phát động chủ có hỏa tai.
(Quan Quỷ thuộc Hỏa vượng động thì ứng việc có hỏa tai.)
Hỏa Quỷ phát động chủ có hỏa tai, nếu với hào Thế vô can mà trở ngại, với hào Ứng thì hàng xóm bị hỏa tai. Dùng nội ngoại quái mà luận xa hay gần.
10.
汪洋水鬼玄冥作禍於江淮
Uông dương thủy Quỷ, Huyền Minh tác họa ư giang hoài
Thủy Quỷ thì nước mênh mông, Huyền Minh gây họa nơi sông lớn.
Thủy Quỷ phát động chủ có thủy tai, tại ngoại quái động thì ngập chìm ở nơi khác, ở nội quái động thì nước sông tràn ngập ở nơi gần, nếu không khắc Thế thì tuy ngập cũng vô sự.
(Huyền Minh: tên thủy thần.)
11.
尤怕屬金四海干戈如鼎沸
Vưu phạ thuộc kim, tứ hải can qua giai đỉnh phất
Càng sợ nếu thuộc kim, bốn biển chiến tranh sùng sục.
Kim Quỷ phát động sợ có binh đao, xung khắc Ứng hào, sinh hợp với hào ngũ thì triều đình chinh phạt, như ở ngoại quái lại thuộc cung khác, khắc hào ngũ hoặc khắc Thái Tuế thì ở ngoài xâm phạm đất nước. Hoặc lưỡng Quỷ đều động thì chẳng phải một nơi làm loạn, hoặc hóa hồi đầu khắc, nhưng Nhật thần Nguyệt kiến động hào khắc chế thì tuy có phản loạn mà chẳng hại. Nếu Quan hưu tù động thì là giặc cướp.
12.
更嫌值土千門疫癘苦符同
Cánh hiềm trị Thổ, thiên môn dịch lệ khổ phù đồng
Lại hiềm ở Thổ, khổ vì tai họa ôn dịch khắp ngàn nhà.
Thổ Quỷ phát động lại lâm Bạch Hổ đều chủ ôn dịch, nếu khắc Thế thì người mắc bệnh chết nhiều, có chế thì chẳng hại gì.
13.
逢朱雀而化福交財動則旱蝗相繼
Phùng Chu Tước nhi hóa Phúc hào, Tài động tắc hạn hoàng tương kế
Gặp Chu Tước mà hóa Phúc Đức, Tài động thì hạn và sâu bọ kế tiếp nhau.
(Quỷ lâm Chu Tước động, hình khắc Thế Thân chủ có tai họa sâu bọ, vì vốn Chu Tước (chim sẻ đỏ) có thể bay được.
14.
遇勾陳而加世位足興則饑饉相仍
Ngộ Câu Trần nhi gia Thế vị, túc hưng tắc cơ cận tương nhưng
Gặp Câu Trần lại ở Thế hào mà hưng động thì đói kém vô cùng.
Câu Trần chuyên chỉ điền thổ, Quan Quỷ gặp phải thì không phải là năm đầy đủ. Trì Thế, khắc Thế là năm thu hoạch kém. Tài hóa Huynh mà Quỷ cũng động tất đói kém vô cùng.
15.
莽興盜起由玄武之當官
Mãng hưng đạo khởi do Huyền Vũ chi đương Quan
Giặc cướp nổi lên do Huyền Vũ ở cung Quan.
Quan Quỷ có Huyền Vũ động khắc hào Thế, năm đó tất nhiều giặc cướp. Nếu thuộc Kim xung khắc Tuế quân hoặc hào Ngũ, động chuyện binh đao rối loạn khắp nơi để chống đối với triều đình.
16.
災沴異多因騰蛇之御世
Tai lệ dị đa nhân Đằng Xà chi ngự Thế
Nhiều tai ương nhân vì Đằng Xà ở Thế.
Đằng Xà là thần quái dị, ở hào Lục động tuy không phải Quan Quỷ cũng chủ có biến đổi lạ thường. Nếu Quan Quỷ ở hào lục động tuy không có Đằng Xà cũng chủ biến đổi lạ lùng.
17.
若在乾宮天鼓兩鳴於元末
Nhược tại Càn cung, thiên cổ lưỡng minh ư Nguyên mạt
Nếu ở cung Càn, trống trời nổi lên cuối triều Nguyên.
Đằng Xà ở Quan hào động, nếu ở cung Càn, chủ có trống trời nổi lên lạ thường. Dùng ngũ hành để phân biệt, như hào Kim là Tử Tôn hoặc hóa thành quẻ đoài thì có lạ tường về tinh tú. Ngoài ra cứ phỏng theo như thế.
18.
如當震卦雷霆獨異於國初
Như đương Chấn quái, lôi đình độc dị ư quốc sơ
Nếu ở quẻ Chấn, sấm sét lạ thường buổi dựng nước.
Đằng Xà là Quan Quỷ động thuộc cung Chấn, thì có sấm sét lạ thường. Nếu vào mùa hè thu không có mây mà sấm sét. Quẻ Chấn là rồng, nếu ở Thìn hoặc hóa Thìn chủ có rồng xuất hiện.
19.
艮主山崩臨應則宋都有五石之隕
Cấn chủ sơn băng, lâm Ứng tắc Tống đô hữu ngũ thạch chi vẫn
Cấn chủ núi đổ, lâm Ứng tất như kinh đô nhà Tống có vẫn thạch rơi xuống.
Đằng Xà là Quan Quỷ ở cung Cấn động, chủ có núi sụp đổ, như vào niên hiệu Nguyên Thống núi sập thành bình địa chẳng hạn.
(Niên hiệu vào đời Thuận Đế nhà Nguyên.)
Niên Thời: câu 20–36
20.
坤為地震帶刑則懷仁有二所之崩
Khôn vi địa chấn, đới hình tắc Hoài Nhân hữu nhị sở chi băng
Khôn là địa chấn, bị hình tất Hoài Nhân có hai núi bị sập.
Đằng Xà Quỷ thuộc cung Khôn mà động chủ có địa chấn, thuộc Kim thì có tiếng vang, bị Hình thì đất nứt. Khôn là trâu, Quỷ lâm Sửu động tất trâu lạ thường. Hai quẻ Càn Khôn là việc lạ của người không phải của vật, như đàn bà mọc râu, đàn ông mang thai, cuối đời Nguyên có những việc lạ thường này.
(Hoài Nhân là tên phủ thuộc tỉnh Sơn Tây Trung Quốc.)
21.
坎化父交雨血雨毛兼雨土
Khảm hóa Phụ hào, vũ huyết vũ mao kiêm vũ thổ
Khảm hóa Phụ thì mưa máu, mưa lông cùng mưa đất.
Quan Quỷ mang Đằng Xà thuộc quẻ Khảm động hóa Phụ đều đoán mưa. Mưa máu, mưa lông cùng mưa đất đều là chuyện lạ cuối đời Nguyên.
22.
巽連兄弟風紅風黑及風旋
Tốn liên Huynh Đệ, phong hồng, phong hắc cập phong toàn
Tốn dính với Huynh Đệ thì gió đỏ, gió đen cùng gió xoáy.
Quan quỷ có Đằng Xà thuộc cung Tốn, động hóa Huynh Đệ chủ có gió lạ thường. Thời Nguyên Đế có gió đen. Nếu không hóa Huynh chớ đoán là gió, mà là lạ thường về thảo mộc cầm thú. Thời Xuân thu, chim nghịch bay lui; trong kho đời Đường tiền hóa thành bướm.
23.
日生黑子宋恭驚離象之反常
Nhật sinh hắc tử, Tống Cung kinh Li tượng chi phản thường
Đời Cung Đế đời Tống, mặt trời sinh vết đen, lạ thường thuộc cung Li.
Đằng Xà Quan Quỷ thuộc cung Ly động, chủ có lạ thường về mặt trời. Như thời Cung Đế nhà Tống mặt trời sinh vết đen. Nếu lâm Ngọ thì có lửa lạ thường. Như vào niên hiệu Đại Đức lửa từ trên không xuống thiêu cháy lúa má.
24.
沼起白龍唐玄遭兌金之變異
Chiểu khởi bạch long, Đường Huyền tao Đoài kim chi biến dị
Gặp cung Đoài thuộc Kim thì biến đổi lạ lùng như thời Huyền Tông nhà Đường có rồng trắng từ ao nổi lên.
Đoài là đầm, chủ giếng, ao. Nếu Đằng Xà ở Quỷ thuộc cung Đoài động thì như thời Đường Huyền Tông có rồng trắng trong ao bay lên không trung; trong giếng sau điện của thái tử của vua Thuận Đế nhà Nguyên, trong giếng mới có rồng xuất hiện, phát ánh sáng biến ảo khôn lường, cung nhân nhìn thấy chẳng ai không khiếp sợ.
25.
發動空亡乃驗天書之詐
Phát động Không vong, nãi nghiệm thiên thư chi trá
Phát động mà lâm Không là như chuyện giả trá của thiên thư.
Đằng Xà ở trên đã phát động mà không lâm Không, hóa Không thì quái dị có thể có, nhưng nếu gặp xung gặp Không thì giả trá, nói không thực, như chuyện đời Tống Chân Tông có thiên thư từ trên trời giáng xuống.
26.
居臨內卦定成黑眚之妖
Cư lâm nội quái định thành hắc sảnh chi yêu
Ở nội quái thì thành yêu nghiệt màu đen.
Đằng Xà Quỷ tại nội quái của bản cung, yêu quái hiện trong nhà, như thời Tống Chân Tông có yêu quái đen hiện ở góc sân.
27.
欲知天變於何方須究地支而分野
Dục tri thiên biến ư hà phương, tu cứu địa chi nhi phân dã
Muốn biết trời biến đổi ở phương nào, phải xem Địa chi mà phân vùng.
Phàm gặp tượng biến đổi lạ thường, cần xem hiện ở phương nào, để biết phương nào bị hại mà định. Như Tí là vùng Tề, Sửu là vùng Ngô, Dần là vùng Yên…
28.
身持福德其年必獲休祥
Thân trì Phúc Đức, kỳ niên tất hoạch hưu tường
Thân ở Phúc Đức thì năm đó tất được tốt lành.
Tử Tôn là Phúc Đức sinh Tài khắc Quỷ, nếu vượng động thì năm được mùa, nước yên dân vui, thái bình quan thanh liêm, vạn vật hanh thông.
29.
世受刑傷此歲多遭驚怪
Thế thụ hình thương, thử tuế đa tao kinh quái
Thế chịu hình thương, năm đó gặp nhiều quái sợ.
Thế là hào chủ của niên thời, trăm họ, cày cấy, ngũ cốc, lục súc đều dựa vào nơi đó. Nếu Thế lâm Tài Phúc vượng tướng thì vừa lòng. Nếu bị Tuế, Nguyệt, Nhật cùng động hào khắc thì nhiều kinh hiểm.
30.
年豐歲稔財福生旺而無傷
Niên phong tuế nẫm, Tài Phúc sinh vượng nhi vô thương
Năm được dồi dào vì Tài Phúc vượng mà không bị hình thương.
Tử Tôn đắc địa, Tài hào hữu khí chẳng lâm Không, Huynh Quỷ đều suy tĩnh thì ắt năm được mùa dồi dào.
31.
冬暖夏涼水火休囚而莫助
Đông noãn Hạ lương, Thủy Hỏa hưu tù nhi mạc trợ
Đông ấm, Hạ mát bởi Thủy, Hỏa hưu tù mà chẳng được trợ giúp.
Dùng Tài, Phụ để xem hạn và lụt, hào Thủy, Hỏa để xem lạnh nóng. Nếu Thủy lâm Không thì Đông tất ấm, Hỏa ở Tử Tuyệt thì Hạ tất mát. Nếu vượng động khắc Thế thì cực nóng hoặc cực lạnh.
32.
他宮傷剋外番侵凌
Tha cung thương khắc ngoại phiên xâm lăng
Cung khác mà khắc hại thì nước bên ngoài xâm lấn.
Tha cung là nước bên ngoài, không có tha cung thì xem ngoại quái. Nếu khắc thương khắc bản cung thì nước ngoài đến xâm phạm. Ngoại sinh nội thì tiến cống nhiều.
33.
本卦休囚國家衰替
Bản quái hưu tù, quốc gia suy thế
Quẻ gốc hưu tù thì nước nhà suy tàn.
Bản quái là nước nhà, không có bản cung thì xem nội quái. Nếu vượng tướng thì quốc gia cường thịnh, vô khí thì nước nhà suy tàn.
34.
陰陽相合定然雨順風調
Âm Dương tương hợp định nhiên vũ thuận phong điều
Âm Dương hợp nhau thì mưa thuận gió hòa.
Phàm gặp Thế Ứng tương sinh, lục hào tương hợp năm đó chủ mưa thuận gió hòa, lại được an tĩnh. Tài Phúc chẳng Không thì năm được mùa.
35.
兄鬼皆亡必主國泰民安
Huynh Quỷ giai vong, tất chủ quốc thái dân an
Huynh Quỷ đều Không tất chủ quốc thái dân an.
Huynh Đệ là thần bóc lột, phá bại, Quan Quỷ chủ họa hoạn tai ương. Huynh và Quỷ đều Không vong hoặc không có trong quẻ thì chủ quốc thái dân an.
36.
推明天道能知萬象之森羅 - 識透玄機奚啻一年之休咎
Suy minh Thiên đạo, năng tri vạn tượng chi sâm la
Thức thấu huyền cơ, hề thí nhất niên chi hưu cữu
Suy rõ Thiên đạo thì có thể biết vạn vật bao la, thấu rõ huyền vi, sao chẳng rõ tốt xấu trong năm.
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
