Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 1 Đến 5: Hồi Đầu Khắc, Tam Hợp, Phản Ngâm

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202622 phút đọc9 lượt đọc
Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 1 Đến 5: Hồi Đầu Khắc, Tam Hợp, Phản Ngâm

Những vấn đề khó nhất của phép đoán Lục Hào được đặt thành câu hỏi rồi chứng minh bằng các quẻ đã ứng nghiệm. Câu thứ nhất bàn về Tam Truyền khắc Dụng Thần và sự sinh khắc của hào động. Câu thứ hai hỏi thế nào là hồi đầu khắc, và vì sao khắc có khi lại thành cát, với mười một ví dụ làm chứng. Câu thứ ba xét trường hợp Nguyên thần sinh Dụng thần, trong cát có ẩn hung không. Câu thứ tư giải thích tam hợp cục qua các quẻ như Li biến Khôn, Càn biến Bí, Tỉnh biến Trung Phu, còn câu thứ năm đặt vấn đề cái hung của Phản ngâm có nặng nhẹ khác nhau không. Nghịch lý xuyên suốt là một chữ khắc, tưởng báo điều xấu, vẫn có lúc đem lại kết quả tốt.


Câu Hỏi Thứ Nhất

Sách bước sang Phần II: Phần Áp Dụng, gồm Mười Tám Câu Hỏi Đáp và Chiêm Nghiệm — đúc kết những vấn đề lý luận hay bị nhầm lẫn khi luận đoán, mỗi câu hỏi kèm theo các quẻ ví dụ thực tế đã ứng nghiệm. Đây là Câu Hỏi Thứ Nhất.

CÂU HỎI THỨ NHẤT

Hỏi: Tam Truyền (Năm, Tháng và Ngày) khắc Dụng Thần, có một hào động sinh, một hào động khắc cũng gọi là "tham sinh quên khắc" phải không?

Đáp: Ít cố nhiên không thể chống được đông. Tức như một hào sinh, một hào khắc lại tự hóa khắc đã là không nên. Huống gì Tam truyền lại khắc phải không.

Lại hỏi: Nguyệt khắc Nhật sinh, Nhật khắc Nguyệt sinh thì như thế nào?

Đáp: Ngang nhau. Lại phải xem nếu có một hào sinh thì thành sinh, có một hào khắc thì thành khắc.

Ví dụ 1

Ngày Bính Thân tháng Thìn, xem em bị bệnh đã lâm nguy, được quẻ Ký Tế biến Cách.

Quẻ Ký Tế biến Cách

Đoán rằng: Trong quẻ này Hợi Thủy Huynh Đệ là Dụng Thần, tháng Thìn khắc mà ngày Thân sinh, lại được hào Thân Kim động sinh. Lâm nguy được cứu. Quả trong ngày này giờ Dậu, được danh y cứu sống. Ngày Hợi thì hoàn toàn lành bệnh. (Ví dụ này không có gì lạ, vì Nguyệt kiến lại đi sinh động hào là Nguyên thần của Huynh Đệ, mà Thế lại trì Huynh Đệ nên dễ đoán.)

Ví dụ 2

Ngày Đinh Mùi tháng Ngọ xem em bị kiện tốt xấu thế nào, được quẻ Khốn biến Hằng.

Quẻ Khốn biến Hằng

Đoán rằng: Dậu kim Huynh Đệ là Dụng Thần bị tháng Ngọ khắc, ngày Mùi sinh, xem ra có thể địch được, nhưng Ngọ hóa là Nguyệt kiến động khắc nên là tượng đại hung. Hỏi: Hung lúc nào? Đáp: Năm nay là Thìn, Thái Tuế tương hợp với Huynh Đệ, thì vô hại. Quẻ có Huynh Đệ hóa Thoái Thần tại Thân, sợ nguy ở năm Ngọ tháng Thân.

Quả đến năm Ngọ tháng Thân bị trọng tội.

Ví dụ 3

Ngày Mậu Thìn tháng Ngọ xem em gái sinh sản hung cát thế nào, được quẻ Tấn.

Quẻ Tấn

Đoán rằng: Dậu kim Huynh Đệ là Dụng Thần bị Nguyệt khắc, được Nhật sinh nên không đáng ngại. Ngày mai giờ Mão tất sinh, mẹ con bình an. Ứng giờ Mão vì Dậu Kim hợp với ngày Thìn. Hoàng Kim Sách có câu: "Nếu gặp hợp trú tất đợi xung khai" (dĩ nhiên phải là Mão để xung Dụng Thần, chứ không thể nào xung khai được Nhật thần). Đấy là Nguyệt khắc Nhật sinh mà chẳng có gì xấu.

Ví dụ 4

Ngày Ất Mùi tháng Tị, một người tự xem bệnh, được quẻ Đại Quá biến Đỉnh.

Quẻ Đại Quá biến Đỉnh

Đoán rằng: Thế hào Hợi thủy là Dụng Thần, bị Mùi thổ động khắc, được Dậu kim động sinh. Đây là "tham sinh vong khắc", hóa hung thành cát. Nhưng không nên Nhật thần lại khắc, rồi bị Nguyệt kiến xung. Tuy được Nguyên thần phát động sinh nhưng như cây không có rễ nên sinh cũng không được.

Quả chết vào ngày Mão, ứng ngày xung Nguyên thần, để Kỵ thần cùng hợp lại mà khắc.

Ví dụ 5

Ngày Mậu Tí tháng Thân xem đất mộ, được quẻ Bác.

Quẻ Bác

Đoán rằng: Nhật thần là Tử Tôn trì Thế được Nguyệt kiến sinh, Thanh Long hí Thủy (ngày xem có Thiên can là Mậu, nên Câu Trần ở hào sơ, do đó Thanh Long ở hào ngũ, tức ở Thế). Thủy tất từ tả vây bọc Huyệt, ắt gần sông, nếu không sẽ là Trường lưu Thủy đến Đường. Bạch Hổ ở Mão mộc, Tí sinh Mão Dần nên lâm Tài chẳng có gì trở ngại. Ứng là triều sơn, thuộc Hỏa bị Thế khắc nên triều sơn không cao, trước Thế là Tuất thổ là đối án, Thổ khắc Thế nên đối án hơi cao.

Người xem nói: Nhất nhất đều y như vậy.

Táng chưa đầy ba năm, hai trai và một gái nối nhau thi đỗ.

Câu Hỏi Thứ Hai

CÂU HỎI THỨ HAI

Hỏi: Thế nào là Hồi đầu khắc, khắc có cát có hung phải không?

Đáp: Thổ hào động mà biến thành Mộc; Mộc hào động mà biến thành Kim; Kim hào động mà biến thành Hỏa; Hỏa hào động mà biến hành Thủy; Thủy hào động mà biến thành Thổ. Đó là hào biến hồi đầu khắc. Quẻ Càn, Đoài biến thành Li; quẻ Li biến thành Khảm; quẻ Khảm biến thành Cấn, Khôn; quẻ Cấn, Khôn biến thành Chấn, Tốn; quẻ Chấn, Tốn biến thành Càn, Đoài. Đó là quẻ biến thành hồi đầu khắc. Phàm gặp Hồi đầu khắc là khắc đến tận cùng. Nguyên thần, Dụng Thần gặp tất hung; Kỵ thần, Cừu thần gặp, ngược lại là tốt.

Ví dụ:

Ngày Quí Hợi tháng Mão xem về gia trạch, mọi người trong nhà có bình an không. Được quẻ Nhu biến Càn.

Quẻ Nhu biến Càn

Đoán rằng: Thân kim Tử Tôn trì Thế hóa Ngọ hỏa hồi đầu khắc, đấy là tự thân cùng con cháu chịu khắc. Tí thủy là Tài hóa Tuất thổ hồi đầu khắc, mà Tài là thê thiếp, nô bộc. Thế là quẻ mà cả nhà bị khắc. Về sau đến tháng Ngọ hỏa khắc Thế trợ Thổ khắc Tài, mà Tài bị Nguyệt phá. Cả nhà mấy người bị cháy nhà mà chết.

Ví dụ 2

Ngày Tân Dậu tháng Dần, xem mở tiệm bán được quẻ Cấn biến Minh Di.

Quẻ Cấn biến Minh Di

Đoán rằng: Thế lâm Dần mộc được quyền (vì xem vào tháng Dần), lúc này khai trương có thể được, chỉ ngại Nhật thần khắc Thế, mà Thế hóa hồi đầu khắc. Quỷ lâm Thế nên phòng tật bệnh. Đến tháng sáu Thế nhập Mộ, lúc đó cần đề phòng.

Quả đến tháng sáu bị bệnh, đến tháng tám của cải trong tiệm bị kế toán trộm sạch phải kêu lên quan.

Ví dụ 3

Ngày Mậu Ngọ tháng Thân, một người đến xem vì bệnh đã lâu hỏi có qua khỏi năm này không. Được quẻ Độn biến Cấu.

Quẻ Độn biến Cấu

Đoán rằng: Thế hào Ngọ hỏa lâm Nhật thần có thể gọi là vượng tướng. Nhưng không nên bị Hợi thủy được Nguyệt kiến sinh trợ để hóa hồi đầu khắc. Người này đến tháng Hợi ngày Tuất sẽ chết. Ứng với tháng Hợi, vì hiện tại Ngọ hỏa là Nhật thần nên chưa thể khắc được. Ngày Tuất vì Ngọ hỏa nhập Mộ tại Tuất.

Ví dụ 4

Ngày Ất Mùi tháng Mão một người xem mua hàng hóa, được quẻ Gia Nhân biến Tiểu Súc.

Quẻ Gia Nhân biến Tiểu Súc

Đoán rằng: Sửu thổ Tài hào trì Thế bị tháng Mão khắc, ngày Mùi xung, ấy là Tán. Lại hóa Dần mộc hồi đầu khắc. Không những chỉ Tài bị khắc mà Thế cũng bị hại. Về sau đến tháng Mùi, Thế bị Nguyệt phá, cháy nhà bị thương mà chết.

Ví dụ 5

Ngày Bính Dần tháng Dậu xem ngày nào mưa, được quẻ Thăng biến Sư…

Quẻ Thăng biến Sư

Đoán rằng: Hợi thủy Phụ Mẫu là Dụng thần lâm Không, Dậu kim Quan Quỷ là Nguyên thần hóa Ngọ hỏa hồi đầu khắc, trong Tuần không thể mưa. Đến ngày Tí mưa được mấy hạt, ứng với Tí xung Cừu thần Ngọ hỏa. Mưa nhỏ vì Phụ lâm Không nên không có gốc.

Ví dụ 6

Ngày Mậu Tuất tháng Mão, một người xem về việc quan cho cha được quẻ Tụy biến Đồng Nhân.

Quẻ Tụy biến Đồng Nhân

Đoán rằng: Mùi thổ ở ngoại quái Phụ Mẫu là Dụng thần bị Nguyệt kiến khắc, huống gì đang mùa xuân khí Thổ đang bại. Lại hợp thành Hợi - Mão - Mùi Mộc cục khắc Phụ, toàn không có cứu trợ, chắc chắn bị trong tội.

Quả sau như lời đoán.

Câu Hỏi Thứ Hai: ví dụ 7–11

Ví dụ 7

Ngày Đinh Hợi tháng Tị, một người xem nô bộc ngày nào trở về được quẻ Quải biến Lý.

Quẻ Quải biến Lý

Đoán rằng: Hợi thủy Tài hào là Dụng Thần, Hợi thủy tuy là Nhật thần, không chỉ là bị Nguyệt phá mà còn quá nhiều hào Thổ động khắc. Ngạn ngữ có câu: “Song quyền bất địch tứ thủ” (hai quyền khó địch bốn tay), không chỉ khó mong ngày về mà còn phòng bất trắc giữa đường. Sau đến tháng Ngọ hỏa vượng hợp với hào Mùi thì bị hại giữa đường.

Ví dụ 8

Ngày Bính Dần tháng Ngọ, một người tự xem bệnh được quẻ Li biến Khảm.

Quẻ Li biến Khảm

Đoán rằng: Li hỏa biến Khảm thủy là quẻ hóa hồi đầu khắc. Tị hỏa là hào Thế hóa Tí thủy hồi đầu khắc, gọi là quẻ Phản Ngâm. Nay đang tháng Ngọ, lúc hỏa vượng Thế được sinh phò nên chẳng ngại. Đến mùa đông phải đề phòng.

Quả chết vào ngày Đinh Hợi tháng Tuất. Ứng với Tuất lúc Thế nhập Mộ, ngày Hợi là ngày khắc xung.

Ví dụ 9

Ngày Kỷ Dậu tháng Mão, một người xem đòi tiền nhà, được quẻ Khảm biến Khôn.

Quẻ Khảm biến Khôn

Đoán rằng: Khảm thủy biến Khôn thổ là quẻ biến hồi đầu khắc. Thế hào tuy được Nhật thần sinh, nhưng không nên có hai hào Thổ động thương khắc là rất hung. Không những việc đòi tiền nhà là nhỏ, mà nên phòng họa bất trắc. Về sau vào tháng Ngọ bị lật thuyền mà chết. Ứng với tháng Ngọ vì Thìn, Tuất là thổ Quỷ ra khỏi mùa xuân nên tăng uy lực, mà Ngọ lại xung Thế. Quẻ này xem tiền nhà mà ứng với bản mệnh, thần đã báo trước hung sự. Xem việc này ứng việc kia, xem việc bình thường mà ứng việc quan trọng.

Ví dụ 10

Ngày Mậu Thìn tháng Thân xem làm tường trình, được quẻ Trung Phu hóa Tổn.

Quẻ Trung Phu hóa Tổn

Đoán rằng: Hào Ngũ Tị hỏa sinh Thế, hóa Tí hồi đầu khắc, không nên tường trình. Hỏi có hại gì không. Ta bảo: Tị hỏa tuy không thể sinh, nhưng may trong quẻ không có hào động khắc Thế, nên chẳng lợi mà chẳng hại.

Sau quả tường trình không được chuẩn thuận.

Ví dụ 11

Ngày Đinh Tị tháng Dần lo chức vị đến kỳ khen thưởng, được quẻ Lữ biến Minh Di.

Quẻ Lữ biến Minh Di

Đoán rằng: Tử Tôn trì Thế hóa hồi đầu khắc, chỉ ngại vì Thế ở hào này, mà Thế là mình thì không nên bị khắc. Tuy được Kim cục sinh phò, tuy không can gì, nhưng Quan phục nên khó vừa lòng.

Sau quả bị cách chức.

Câu Hỏi Thứ Ba

CÂU HỎI THỨ BA

Hỏi: Sinh Dụng Thần là Nguyên thần, tuy vốn là cát, nhưng trong cát có hung phải không?

Đáp: Nguyên thần động sinh Dụng Thần. Dụng Thần xuất hiện vượng tướng thì tốt lại gấp bội. Nếu Dụng Thần lâm Không, suy nhược hoặc phục tàng không hiện, tất đợi Dụng Thần xuất Không được thời, điều mong cầu sẽ ứng. Như Dụng Thần vượng tướng mà Nguyên thần hưu tù không động, hoặc động mà biến khắc, biến Tuyệt Mộ, Nguyệt phá, Nhật xung, hoặc có Cừu thần động khắc Nguyên thần, hoặc bị Nhật Nguyệt tương xung hoặc hóa Thoái thần đều không thể sinh Dụng Thần, tất gốc rễ của Dụng Thần bị tổn thương thì không những vô ích mà còn bị tổn hại nữa.

Ví dụ:

Ngày Mậu Thìn tháng Thân vợ xem chồng bị cận bệnh (tức bệnh mới phát), được quẻ Đồng Nhân biến quẻ Li.

Quẻ Đồng Nhân biến Li

Đoán rằng: Thế hào Hợi thủy là phu tinh, nhập Mộ ở ngày Thìn, luận theo bệnh là "tùy quỷ nhập mộ" (theo quỷ vào mồ), há chẳng phải không hung sao?. May có Thân kim là Nguyên thần động sinh Dụng thần lại hóa hồi đầu sinh Nguyên thần; Tuất thổ ám động sinh trợ Nguyên thần tức gốc rễ của phu tinh ăn sâu vững chắc, chỉ hiềm Hợi thủy lâm Không nên không được sinh, tất đợi ngày Tị xung khởi hào Hợi tức lành.

Quả đến ngày Tị thì hoàn toàn lành bệnh.

Ví dụ 2

Ngày Giáp Dần tháng Mão, xem phong thủy được quẻ Khốn biến Tiết.

Quẻ Khốn biến Tiết

Ta nói: Xem mộ tổ tất có nguyên do, sau khi chôn có việc gì không hanh thông. Nay vì việc gì mà hỏi, nói rõ tôi mới dám quyết đoán. Người xem bảo: Sau khi chôn bị luận tội mà cho về, tuổi gần năm mươi mà chưa có con, vì thế mà bói xem mộ này có gì trở ngại không.

Ta nói: Lục hợp biến Lục hợp là phong tàng khí tụ, nhưng hiềm là Hợi thủy được Thân kim sinh mà Thân bị Nhật thần xung. Thân là Nguyên thần của nguồn nước, vì thế nguồn nước không tụ về thế thôi. Nếu khiến nước rót về không chảy một bên thì đợi đến năm Tị sẽ lại ra làm quan, năm Thân sinh con. Về sau quả nghiệm.

Ứng với năm Tị là năm xung khởi Dụng thần, mà Thế ở Dần mộc động hóa Quan tinh Tị hỏa. Năm Thân sinh con vì Hợi thủy là Tử Tôn động hóa Thân kim hồi đầu sinh.

Ví dụ 3

Ngày Mậu Tí tháng Sửu một người tự xem cận bệnh được quẻ Đồng Nhân biến Li.

Quẻ Đồng Nhân biến Li

Đoán rằng: Tự xem bệnh lấy Thế làm Dụng thần. Thế hào là Hợi thủy được ngày Tí củng, lại được Thân kim Nguyên thần động sinh Thế, ấy là bệnh không chết. Nhưng hiềm Thân kim hóa thành Mùi thổ bị Nguyệt phá, lâm Không, tất Nguyên thần không gốc. Trước mắt không có trở ngại, nhưng sợ nguy vào mùa xuân. Đến ngày Lập xuân quả chết. Ứng vào tháng Giêng chết vì Thân kim Nguyên thần bị Nguyệt phá. Mùa Xuân Mộc vượng, Mùi thổ bị khắc.

Ví dụ 4

Ngày Ất Sửu tháng Dần, con xem bệnh của cha, được quẻ Thăng biến Sư.

Quẻ Thăng biến Sư

Đoán rằng: Hợi thủy là Phụ hào, tuy gặp Tuần Không, có Nguyên thần là Dậu kim động sinh, có thể không trở ngại. Nhưng không nên Dậu kim hóa ra Ngọ hỏa hồi đầu khắc. Đấy là Nguyên thần bị thương, Dụng thần không gốc. Người này quả chết ở ngày Mão giờ Mão ứng với ngày giờ Mão sinh trợ Ngọ hỏa khắc xung Nguyên thần.

Câu Hỏi Thứ Tư

CÂU HỎI THỨ TƯ

Hỏi: Tam hợp bát quái tạo thành cục, đoán như thế nào?

Đáp: Nguyên thần, Dụng Thần tạo thành cục thì cát, Cừu thần, Kỵ thần tạo thành cục thì hung. Tạo thành cục là kết bè đảng với nhau. Trong quẻ ĐỘNG HÀO MỚI TẠO THÀNH ĐƯỢC. nhưng ba hào đều phát động hợp thành Dụng Thần cục tất có một hào là Dụng Thần; hợp thành Nguyên thần cục, tất có một hào là Nguyên thần; hợp thành Cừu thần, Kỵ thần cục, tất có một hào là Cừu thần, Kỵ thần. Nói chung một hào có bệnh thì nhân đó mà đoán. Hoặc bị Nhật xung gọi là Ám động (tức tĩnh mà bị Nhật xung) là Thực (tức động lâm Không được Nhật thần xung), là Phá (tức Nguyệt kiến xung). Nhưng xung phá này tất phải chờ lúc tương hợp đến mà việc thành hung hay cát. Nếu một hào tĩnh mà hai hào động, tất phải chờ trị nhật của hào tĩnh đó mới ứng việc. Nếu một hào tĩnh mà lâm Không, hoặc động mà lâm Không hoặc hóa mà gặp Không, đợi lúc xuất Không mới ứng việc hung cát. Nếu Không mà gặp hợp, tĩnh mà gặp hợp, động mà gặp hợp, tất đợi đến lúc xung mới thành hung cát. Nếu tự hóa hợp hoặc hợp với Nhật thần; nếu tự hóa Mộ hoặc Mộ ở Nhật thần tất chờ đến lúc xung (đây là nói ba hào đều động, hai hào không bệnh mà tự biến thành). Nếu tự hóa Tuyệt ở Nhật thần tất chờ đến lúc sinh (cũng nói một hào có bệnh).

Ví dụ:

Ngày Đinh Tị tháng Mão, hai thôn tranh nhau tát nước mà ẩu đả nhau, được quẻ Li biến Khôn.

Quẻ Li biến Khôn

Đoán rằng: Nội quái là thôn ta, Ngoại quái là thôn người. Nội quái Hợi, Mão, Mùi hợp thành Mộc cục; Ngoại quái Tị, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục. Kim đến khắc Mộc, nhưng Kim suy nên không thể khắc Mộc vượng. Lại Nhật thần hình Kim nên không đáng sợ. Huống gì quẻ Lục xung biến Lục xung nên không đến nỗi xảy ra sai trái, tức phải tan. Quả nghiệm.

Hợp thành hai cục nội và ngoại tức phân ra ta và người, nhưng nếu bất động thì không thành cục thì phải xem Thế và Ứng, Nay người đông đồng lòng mới hợp thành cục này nọ, mới thấy được thần diệu của quẻ.

Ví dụ 2

Ngày Đinh Dậu tháng Tị, xem việc đệ trình xin bổ khuyết chức vụ, được quẻ Càn biến Nhu.

Quẻ Càn biến Nhu

Đoán rằng: Dần, Ngọ, Tuất hợp thành tam hợp Quan cục, sinh Thế, thì chỗ khuyết tất được. Trong tam hợp thiếu hào Dần phát động, nên chờ đến ngày Dần thì trình xin tất có thể được. Sau quả nghiệm.

Đó là thiếu một hào trong Tam hợp, tất chờ đến đấy mới dùng được.

Ví dụ 3

Ngày Bính Thìn tháng Dần xem xét tuyển, được quẻ Càn biến Tiểu Súc.

Quẻ Càn biến Tiểu Súc

Đoán rằng: Quẻ này hào Tuất ám động. Nếu hào Dần minh động, sinh Ngọ hòa Quan tinh hóa Mùi thổ hợp, mà hợp thì đợi xung khai. Quẻ này không phải thế, mà Ngọ hỏa lại minh động, Tuất thổ ám động tạo thành tam hợp Quan cục, chỉ thiếu có hào Dần động. Vì thế nhờ vào tháng Dần này để kết thành tam hợp, nên được tuyển vào tháng này. Quả nghiệm.

Đấy là thiếu mà phải bổ sung.

Ví dụ 4

Ngày Đinh Hợi tháng Thìn, xem xin phục hồi chức được quẻ Tụy biến Cách.

Quẻ Tụy biến Cách

Đoán rằng: Tị hỏa là Quan tinh trì Thế, lâm Dịch Mã (ngày Đinh Hợi, Dịch Mã tại Tị) ám động, xin phục chức được ngay. Nội quái Hợi, Mão, Mùi hợp thành Tài cục Nguyên thần, sinh Thế. Nhưng vì Mùi thổ lâm Không, tất phải đợi đến tháng Mùi mới được chấp thuận, được chỗ khuyết tốt. Sau quả nghiệm.

Tháng Mùi là tháng Thực Không.

Câu Hỏi Thứ Tư: ví dụ 5–8

Ví dụ 5

Ngày Kỷ Mão tháng Sửu xem cha bị bệnh cấp cứu được quẻ Càn biến Bí.

Quẻ Càn biến Bí

Đoán rằng: Thế hào Tuất thổ Phụ Mẫu là Dụng thần, xem cận bệnh thì không nên hợp với Nhật thần, may nhờ Dần, Ngọ, Tuất hợp thành Hỏa cục sinh Dụng, tượng không bị hại, Nhưng hào Tuất bị hợp phải chờ đến ngày mai là Thìn xung, hợp gặp xung thì bệnh lành. Quả nghiệm.

Ví dụ 6

Ngày Mậu Ngọ tháng Sửu xem thím bị bệnh, được quẻ Li biến Minh Di.

Quẻ Li biến Minh Di

Đoán rằng: Mão mộc Phụ Mẫu là Dụng thần. Ngoại quái có Tị, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục khắc Thế, nhưng Sửu thổ lâm Không, nên nội trong tuần không có gì nguy hại, đến ngày Ất Sửu cần đề phòng. Quả đến giờ Dậu ngày Ất Sửu thì chết. Ứng với ngày Sửu là ngày xuất Tuần vậy.

Ví dụ 7

Ngày Mậu Thân tháng Mùi xem con ngày nào về, được quẻ Khuê biến Đỉnh.

Quẻ Khuê biến Đỉnh

Đoán rằng: Nội quái có Tị, Dậu, Sửu hợp thành Kim cục làm Dụng thần. Sửu thổ bị Nguyệt phá tất đợi sau tiết Lập Thu, ngày Giáp Tí con sẽ về nhà. Về sau quả nghiệm.

Ứng với sau Lập Thu Sửu thổ xuất Phá, ra khỏi tháng Mùi. Quả ngày Giáp Tí trở về. Đấy là Phá ứng với Hợp vậy.

Ví dụ 8

Ngày Bính Thân tháng Tị xem cha ngày nào trở về, được quẻ Đại Súc biến Càn.

Quẻ Đại Súc biến Càn

Đoán rằng: Dần, Ngọ, Tuất hợp thành tam hợp Phụ cục, chỉ có Dần bị Nhật xung lại Tuyệt ở ngày Thân. Ngày Kỷ Hợi tất sẽ trở về, Quả nghiệm.

Ngày Kỷ Hợi đến vì Xung trung phùng Hợp, Tuyệt xứ phùng Sinh vậy.

Câu Hỏi Thứ Tư: ví dụ 9–12

Ví dụ 9

Ngày Mậu Thìn tháng Sửu xem phòng bị đàn hặc (tức quan lại bị hặc tội) được quẻ Tỉnh biến Trung Phu (tuất Hợi tk).

Quẻ Tỉnh biến Trung Phu

Người xem này vì mới đổi coi việc quân, phòng bị đàn hặc. Ta bảo: Quẻ này hết sức kỳ lạ, Thế lâm Không bị Nhật xung thành bất Không. Thế không bị khắc mà ám động, thì tuy không bị hặc tội nhưng không tránh rời chức vụ. Người này nói: Không luận tội làm sao rời chức vụ được. Ta nói: Thế ám động tất chủ phải động. Nội quái hợp thành Kim cục sinh Ứng, chắc chắn chức vị này đã thuộc về người khác. Về sau nhân nơi khác có người điền khuyết, quan trên mới đề nghị lưu viên chức ở nơi ấy đến thay vị trí của người này, còn người này thì về Kinh bổ chức khác. Đó là điều ít nghe thấy. Chỉ có thần minh mới rõ.

Ví dụ 10

Ngày Mậu Ngọ tháng Dần, xem đất có chôn cất được không, ra quẻ Di biến Vô Vọng.

Quẻ Di biến Vô Vọng

Đoán rằng: Thế hào Tuất thổ hưu tù vào mùa Xuân, nhân hóa Ngọ hỏa Tử Tôn hồi đầu sinh, hợp với Nhật thần, Nguyệt kiến tạo thành Tam hợp. Thanh Long lâm Tí thủy hóa Thân Trường Sinh thì nguồn nước rất xa, từ phía bên trái đến, nhưng Tí hóa Nguyệt phá, bị Tuất thổ khắc, Nhật thần xung tán, nên nước này có lúc khô phải không? Người xem đáp: Chính vậy. Ta bảo: Chẳng hại gì, trong quẻ Nhật Nguyệt cùng Thế tạo thành Tam hợp thì tự nhiên người chết an ổn mà người sống vui vẻ. Chôn tất phát.

Năm Thìn chôn, năm Dậu cháu đậu á khôi, năm tiếp cháu lại đỗ kỳ thi hương.

Ví dụ 11

Ngày Giáp Thìn tháng Tị xem ngày nào hết mưa được quẻ Đỉnh biến Khuê.

Quẻ Đỉnh biến Khuê

Nếu chấp vào cổ pháp thì Phụ phục tại hào Không vong thì không có mưa, Tài Phúc động thì trời sáng tỏ. Nay không đoán như thế Tị, Dậu, Sửu hợp thành Tài cục khắc Phụ. Phụ nếu bất Không tất chịu khắc thì không mưa. Nay Phụ phục mà lâm Không, ấy là tránh được khắc nên mưa không thể ngưng, phải chờ ngày Mão, Phụ xuất Không chịu khắc thì mưa mới tạnh. Sau đến ngày Giáp Dần mưa càng to nhưng đến ngày Mão thì tạnh hẳn. Ngày Dần tuy xuất Không nhưng không hiện trong quẻ nên không chịu khắc thành mưa to.

Ví dụ 12

Ngày Tân Mão tháng Dậu xem vợ bốc hụi có được không, được quẻ Hằng biến Cổ.

Quẻ Hằng biến Cổ

Nếu chấp vào cổ pháp thì Tài động Phúc sinh thì hụi này tất được. Nay thì không thế. Tài ở Ứng chẳng phải là vợ mình, là vợ của bạn, của láng giềng. Dần, Ngọ, Tuất hợp thành Hỏa cục sinh Ứng khắc Thế. Tháng Mão hợp Ứng xung Thế tức xuất hiện mà vô tình với ta, hợp cục hữu tình với người, tất vợ của bạn của láng giềng sẽ được. Quả nghiệm như thế.

Câu Hỏi Thứ Năm

CÂU HỎI THỨ NĂM

Hỏi: Hung của Phản ngâm có phân biệt nặng nhẹ phải không?

Đáp: Phàm gặp quẻ Phản ngâm mà Dụng Thần không biến xung khắc việc tuy chỉ tráo trở cũng chủ sẽ thành. Sợ Dụng Thần bị xung khắc tất việc rất hung.

Ví dụ:

Ngày Nhâm Thân tháng Mão xem theo quan đi trấn nhậm như thế nào, được quẻ Tỉ biến Tỉnh.

Quẻ Tỉ biến Tỉnh

Đoán rằng: Thế lâm Mão mộc hóa Dậu kim khắc xung, Mội quái có hào Phản ngâm. Điều này không tốt, đừng đi theo là thượng sách. Sau vì quan phủ được chọn thế vào chỗ khuyết ở gần dinh của giặc nên không đi theo. Sau khi quan đi rồi, lại nhân việc khác mà đi đến đấy. Đến tháng bảy thành bị giặc phá vỡ cùng quan phủ bị hại. Thế ở hào Quan cùng bị Dậu kim xung khắc, không đi rồi lại đi vì quẻ này Phản ngâm.

Ví dụ 2

Ngày Ất Hợi tháng Mão xem thăng chức được quẻ Lâm biến Trung Phu.

Quẻ Lâm biến Trung Phu

Đoán rằng: Thế lâm Mão mộc Nguyệt kiến là Quan tinh được Trường Sinh (Mão mộc Trường Sinh tại Hợi là Nhật thần), cùng Quan tinh ở vượng địa, tất đạt được chỗ thăng nhậm đó. Quả trong tháng được báo ở Giang Tây được thăng trấn nhậm Sơn đông. Chưa được một năm trở lại trấn nhậm Giang Tây. Vì quẻ Phản ngâm nên đi rồi lại trở về.

Ví dụ 3

Ngày Đinh Tị tháng Mùi xem chị dâu bị bệnh hung cát thế nào, được quẻ Bác biến Khôn.

Quẻ Bác biến Khôn

Đoán rằng: Ngoại quái Cấn biến Khôn là quẻ Phản ngâm. Rõ ràng bệnh lành mà lại bệnh. Nhưng không nên Dần mộc Dụng Thần hóa Dậu kim hồi đầu khắc, lại nhập Mộ vào tháng Mùi, lại bị Nhật thần hình. Bệnh này nguy. Quả ứng nghiệm vào ngày Thân.

Ví dụ 4

Ngày Mậu Thân tháng Tị xem đi bán hàng có lợi không được quẻ Tiểu Súc biến Càn.

Quẻ Tiểu Súc biến Càn

Đoán rằng: Quẻ Tiểu Súc biến quẻ Càn là Phản ngâm. Mừng được Thế và Tài Trường Sinh ở Nhật thần, chỉ nơi này, hào Ứng là nơi đến, Ứng lâm Mùi hóa Ngọ hỏa hồi đầu sinh tất lợi tức lần trước thì gấp bội. Sau người này đi về ba lượt đều được lợi gấp bội.

Ví dụ 5

Ngày Mậu Tí tháng Mão xem mồ mả được Tốn biến Thăng.

Quẻ Tốn biến Thăng

Đoán rằng: Thế là huyệt, lâm Nguyệt kiến, được ngày Tí sinh là cát địa. Nhưng không nên hào biến Phản ngâm, Tử Tôn và Thế đều hóa khắc xung, không thể táng được. Người xem nói: Đất mua giá cao đã lâu rồi, các thầy địa đều khen đẹp. Sau cứ chôn, được bốn năm hai trai và một gái nối nhau mà chết.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông