Bài tổng quan
Hỏi Đáp Chiêm Nghiệm Câu 10 Đến 13: Tiến Thoái, Xung Hợp, Sinh Mộ Tuyệt
Các hào trong quẻ luôn tác động lẫn nhau, và những câu hỏi đáp về tiến thoái, xung hợp, sinh mộ tuyệt xoay quanh chính các mối quan hệ động ấy. Câu thứ mười phân biệt Tiến Thần với Thoái Thần do hào động biến thành, qua các quẻ Hằng biến Đại Quá, Truân biến Tiết. Câu thứ mười một hỏi xung mà gặp hợp, hợp mà bị xung thì đoán ra sao. Câu thứ mười hai, dài nhất nhóm, bàn cách đoán Tứ Sinh, Mộ và Tuyệt qua các quẻ Li biến Phong, Tiệm biến Trung Phu, Khốn biến Khảm. Câu thứ mười ba giải thích quẻ Lục Xung và Lục Hợp bằng Đại Tráng biến Thái, Đoài biến Chấn, Bĩ biến Càn. Tinh tế ở chỗ cùng một phép tắc, đặt vào quẻ khác nhau, có thể cho kết quả trái ngược.
Câu Hỏi Số Mười
CÂU HỎI SỐ MƯỜI
Tiến Thần - Thoái Thần
Hỏi: Tiến Thần và Thoái Thần là do động hào biến thành, có hung cát, họa phúc khác nhau. Luận như thế nào?
Đáp: Cát thần thì nên hóa Tiến; Kỵ thần thì nên hóa Thoái. Phép Tiến Thần có ba cách:
- Vượng tướng thừa thế mà tiến
- Hưu tù đợi thời mà tiến.
- Hoặc Động hào, hoặc Biến hào có Không, Phá, Xung, Hợp phải đợi lúc điền lấp, hợp xung mà tiến.
Phép Thoái Thần cũng có ba cách:
- Vượng tướng hoặc có Nhật Nguyệt, động hào sinh phò, xem việc gần tạm thời không thoái.
- Hưu tù thì thoái tức khắc.
- Hoặc Động hào hoặc Biến hào gặp Không Phá xung hợp đợi lúc điền bổ hợp xung mà thoái.
Ví dụ:
Ngày Quí Mão tháng Thân xem thi Hương được quẻ Hằng biến thành Đại Quá.
Đoán rằng: Dậu kim Quan tinh trì Thế ám động, lại được hào cửu ngũ hóa Tiến thần phò củng, không những năm nay thi đậu mà sang xuân lại đậu đầu.
Quả đậu thi hương. Rồi sang năm Thìn kế tiếp có tin mừng. Vốn là do hóa Tiến thần. Mùa thu năm nay, đậu liên tiếp, năm Thìn là do xung gặp hợp.
Ví dụ 2
Ngày Canh Tuất tháng Dậu, xem năm nào sinh con, được quẻ Truân biến Tiết.
Đoán rằng: Dần mộc Tử Tôn trì Thế hóa Tiến thần, Dần mộc lâm Không, hóa Mão cũng Không mà bị Nguyệt Phá. Sau đến năm Dần tháng Mão, thê thiếp sinh liên tiếp được hai con. Đấy là Mão mộc tuy bị Phá nhưng được Nhật hợp, tức hưu tù đợi thời mà dùng.
Ví dụ 3
Ngày Ất Sửu tháng Mão, một người xem việc cầu hôn, được quẻ Phệ Hạp biến Tỉ.
Đoán rằng: Tài hào trì Thế hóa Tiến thần, được Tị hỏa Tử Tôn động sinh Thế, nhưng Tị hỏa hóa Tí thủy hồi đầu khắc. Tất phải đợi ngày Ngọ xung Tí thủy, ấy là theo phép "rút củi dưới nồi". Ngày Ngọ lại sinh hợp hào Thế, hôn nhân tất thành tựu.
Quả đến ngày Ngọ, cầu hôn được chấp nhận.
Có người hỏi: Gian hào Dậu kim Quan Quỷ động há không có trở ngại sao?
Đáp: Nguyệt phá mà hóa Thoái thần tuy có cản trở nhưng không có sức.
Ví dụ 4
Ngày Giáp Thìn tháng Dậu, bị luận tội nhân đó xem tự trình bày sẽ ra sao, được quẻ Sư biến Minh Di.
Đoán rằng: Thế hóa hồi đầu khắc, Quan tinh hóa Thoái, Tử Tôn hóa Tiến. Nội chỉ ba hào này đã thấy không phải điềm tốt.
Quả tháng hai sang năm bị bắt. Ứng tháng Mão vì lúc đó là tháng Tử Tôn xuất Không điền Phá.
Ví dụ 5
Ngày Đinh Mão tháng Mùi, xem công danh, có ra làm quan không, được quẻ Đồng Nhân biến Cách.
Đoán rằng: Nếu lấy điều Tử Tôn động khắc Quan thì suốt đời không làm quan. Nhưng ta đoán năm Thìn ra làm quan. Quả nhiên năm Thìn được tuyển dụng. Lẽ đó là vì sao? Tuất thổ Kỵ thần hóa Thoái nên không thể khắc, lại hợp với Nhật thần, mà hợp phải chờ xung, tức đến năm Thìn vậy. Đấy là phép có bệnh thì dùng thuốc.
Câu Hỏi Thứ Mười Một
CÂU HỎI THỨ MƯỜI MỘT
Xung và Hợp
Hỏi: Xung mà gặp Hợp, Hợp mà bị xung, làm sao mà đoán hung cát?
Đáp: Hợp là tụ, Xung là tán. Xung mà gặp Hợp là trước tán sau tụ, trước mất sau được, trước nhạt sau nồng. Hợp mà bị xung thì ngược lại.
Ví dụ:
Ngày Bính Thìn tháng Ngọ, xem đi xa buôn bán, được quẻ Hằng biến Dự.
Đoán rằng: Thế ở Dậu kim hóa Mão mộc tương xung, chính gọi là Phản Ngâm. Nhưng Mão mộc chỉ có thể xung nhưng không có sức khắc. Thế lại được Nhật thần sinh hợp, đó gọi là "Xung trung phùng Hợp" (Xung mà được Hợp). Huống gì quẻ biến Lục Hợp, lại có Tuất thổ Tài hào ám động sinh Thế. Đây là Phản ngâm mà chủ quay đi trở lại để kiếm lời.
Ví dụ 2
Ngày Giáp Thìn tháng Tuất, xem mượn tiền, được quẻ Khôn.
Đoán rằng: Ứng lâm Không, Hoàng Kim Sách có câu: "Sách tá giả thất vọng" (Tìm mượn thì thất vọng). Nay Ứng đã Tuần Không mà gặp quẻ Lục xung, vốn chủ không được tốt. Tháng Tuất hợp Ứng sinh Thế, Nhật thần hợp Thế, ấy là trong Xung có Hợp, trước khó sau dễ. Đi mượn tất được.
Người xem bảo: Tháng trước đi mượn, người đó không cho. Nay mượn lại không biết có thuận không?
Đáp: Tháng trước đi mượn không được đã hiện ở quẻ Lục xung, nay mượn tất được, hiện rõ ở Lục hợp.
Người xem hỏi: Ứng vào ngày nào?
Đáp: Mão mộc Tuần không, giao tuần Giáp Dần đã xuất Không, ngày Dần lại hợp với Hợi thủy Tài hào, tất sẽ được.
Quả nghiệm.
Ví dụ 3
Ngày Mậu Tuất tháng Dần, xem mất tiền của có lấy lại được không. Ra quẻ Tốn biến Tụng.
Đoán rằng: Quẻ Lục xung, Mùi thổ Tài hào hóa Ngọ hỏa hồi đầu sinh hợp, hiện rõ tượng mất mà lại được.
Người bên cạnh hỏi: Ứng trì Bạch Hổ Kim Quỷ, Huyền Vũ lâm Tài, khó mà được lại.
Ta nói: Ứng là người, bị Ngọ hỏa hồi đầu khắc chế, Tài hào là Dụng thần, bị xung mà được hợp. Nhật thần hợp Thế, chắc chắn lại được.
Người xem hỏi: Ngày nào được?
Đáp: Tị hỏa Thanh Long là Nguyên Thần lâm Không tất có bệnh. Ở Tị tất phải đợi ngày Ất Tị là trị nhật của Nguyên thần xuất Không.
Quả nghiệm.
Ví dụ 4
Ngày Đinh Dậu tháng Thìn, tự xem hôn nhân có thành không, được quẻ Bĩ.
Đoán rằng: Quẻ Lục Hợp rất thích hợp hôn nhân. Nay Thế bị Nhật thần xung, Ứng bị Nguyệt Phá, đấy là Hợp mà bị xung, nói chung không tốt.
Người xem nói: Tuổi tác đã chuyển xem toán mệnh lại bảo rất tốt.
Đáp: Ta xem thường thấy nghiệm nên mới đoán như vậy.
Quả nhiên trong tháng này tự nhiên mắc bệnh nặng. Tháng Mùi Thế, Tài đều nhập Mộ, người con gái bị bệnh chết.
Câu Hỏi Thứ Mười Một: ví dụ 5–8
Ví dụ 5
Ngày Ất Mão tháng Mão, xem mưu sự cầu tài, được quẻ Lữ.
Đoán rằng: Thế Ứng tương sinh, gặp quẻ Lục Hợp, mưu sự vốn có thể thành tựu. Nhưng không nên ngày tháng Mão xung Ứng hào Dậu Kim Thê Tài, e thất vọng với tiền của người khác.
Người xem nói: Có viết giấy hẹn ước, ngày mai tôi đi, há có lý nào không thành việc.
Ngày mai người ấy đi, quả thành tựu. Đến ngày Nhâm Tuất, hối hận nên việc không thành.
Ứng ngày mai thành việc, vì ngày mai là Thìn hợp với Ứng. Ngày Tuất không thành vì Thế bị xung, ấy là được hợp mà bị xung.
Ví dụ 6
Ngày Tân Hợi tháng Ngọ xem cận bệnh của thầy, được quẻ Tiết.
Đoán rằng: Cận bệnh gặp quẻ Lục hợp thường ứng nghiệm là chết. Nay Thế ở Tị hỏa Tài hào, Nhật thần xung. Đó là hợp gặp xung, lâm nguy được cứu.
Người xem hỏi: Nguy vào lúc nào, được cứu ngày nào.
Ta đáp: Kim nhập Mộ ở Sửu, ngày Sửu phòng nguy hiểm. Ngày Dần xung phát hào Dụng ở Ứng tất được cứu.
Quả ngày Sửu mê man, nhưng đến ngày Dần thì lành.
Ví dụ 7
Ngày Mậu Thìn tháng Dần, xem cận bệnh của anh hung hay cát, được quẻ Tấn.
Đoán rằng: Dậu kim Huynh Đệ là Dụng Thần, được Nhật thần hợp. Cận bệnh không nên được hợp. May ngày mai giao tiết tháng Mão, tức có thể lành.
Quả nghiệm, đây cũng là hợp mà gặp xung.
Ví dụ 8
Ngày Đinh Tị tháng Mùi, xem đã hồi hôn rồi, có thể lại thành được không. Ra quẻ Li biến Lữ.
Đoán rằng: Quẻ này Lục xung biến thành Lục hợp, thường thấy ứng nghiệm là tan rồi lại thành, lìa mà lại hợp. Lại được Mão mộc động sinh Thế đều ứng hôn nhân nhất định sẽ thành.
Quả sang năm Dần tháng ba thành hôn.
Cầu hôn lấy hào Tài làm Dụng Thần. Quẻ Lục xung biến thành Lục hợp, hào Tài lại được hợp với biến hào Thìn thổ. Ấy là khi bói đã hiện rõ sự thế. Ứng vào năm Dần, vì là năm hợp với hào Ứng ám động.
Câu Hỏi Thứ Mười Hai
CÂU THỨ MƯỜI HAI
Sinh, Mộ, Tuyệt
Hỏi: Tứ Sinh (chỉ Dần - Trường sinh của Hỏa, Thân - Trường sinh của Thủy, Thổ, Tị - Trường sinh của Kim, Hợi - Trường sinh của Mộc), Mộ, Tuyệt đoán hung cát như thế nào?
Đáp: Tứ Sinh, Mộ, Tuyệt có ba trường hợp:
- Sinh, Mộ, Tuyệt ở Nhật thần
- Sinh, Mộ, Tuyệt ở Phi hào.
- Động mà biến thành Sinh, Mộ, Tuyệt.
Kỵ thần mà Trường Sinh thì họa không nhỏ, Dụng thần lâm Mộ, Tuyệt có cứu thì khỏi hung. Phép qui định là thế nhưng linh động do người đoán.
Ví dụ:
Ngày Mậu Dần tháng Tị, xem ngày nào được tiền, ra quẻ Li biến Phong.
Đoán rằng: Dậu kim Tài hào an tĩnh, ngày mai là Mão tất được.
Người xem hỏi: Huynh Đệ động trì Thế làm sao mà có tiền.
Đáp: Huynh Đệ hóa nhập Mộ tại Tuất nên không thể khắc. Ngày mai Mão xung Dụng thần an tĩnh, ông chẳng biết sao?
Quả nghiệm.
Ví dụ 2
Ngày Kỷ Mão tháng Ngọ xem vợ bị bệnh được quẻ Chấn biến Phong.
Một người cầm quẻ này đến hỏi ta rằng: Quẻ có Thìn thổ phát động. Thìn thổ Tài hào là Dụng thần, hóa Hợi Thủy là Lâm Quan (Thổ có Trường Sinh tại Thân, Lâm Quan ở Hợi). đoán sẽ không chết. Nhưng Thìn thổ có Tử tại ngày Mão. Quẻ này sẽ đoán ra sao? Hoặc là theo Thổ mà chết vào ngày Mão.
Ta đáp: Cận bệnh gặp quẻ Lục xung không chết.
Lại hỏi: Ngày nào lành?
Đáp: Thìn thổ động xung Thế, Thế ở Tuất thổ hợp với Nhật thần, tất đợi ngày mai là Thìn xung Thế là hào Tài, tất vợ lành bệnh.
Quả nghiệm (quẻ này đâu cần đoán rắc rối thế. Thế trì Tài vượng nhưng phải lấy hào Tài động để đoán. Thìn là Dụng thần vượng nhưng bị Nhật khắc, chỉ cần đến trị nhật tất lành, tức là ngày Thìn. Nếu dùng quẻ Lục xung để đoán cũng phải ứng vào trị nhật).
Ví dụ 3
Ngày Mậu Tí tháng Dần xem sinh sản được quẻ Bác biến Quán.
Đoán rằng: Tí thủy Tử Tôn hóa Tị hỏa. Thủy Tuyệt tại Tị. Hôm nay giờ Tị sinh con mà chết.
Trong những người chung quanh, có người biết Dịch, hỏi: Thanh Long lâm Tử Tôn làm sao mà đoán như thế?
Ta nói: Để xem có nghiệm không đã.
Quả nghiệm.
Người ấy lại hỏi ta: Tử Tôn ở Nhật thần, có Thanh Long phụ họa, sao mà đoán thần kỳ vậy.
Đáp: Nhật thần lâm Tử Tôn là ngày hôm nay, giờ Tị này sinh mà chết vì cát thần hóa Tuyệt, hóa Quỷ vậy (quẻ này không nói rõ ai coi. Chắc chỉ có đứa bé sinh ra chết mà thôi).
Câu Hỏi Thứ Mười Hai: ví dụ 4–6
Ví dụ 4
Ngày Tân Mùi tháng Tí xem con bị bệnh hung cát ra sao, được quẻ Tiệm biến Trung Phu.
Đoán rằng: Thân kim Tử Tôn trì Thế hóa ra Sửu thổ. Kim Mộ tại Sửu, ngày Mùi xung khai, lại được Nhật thần với động hào Thìn thổ sinh. Hôm nay sau giờ Ngọ thì lành.
Quả nghiệm.
Ví dụ 5
Ngày Giáp Dần tháng Thìn, xem cha của bạn bị bệnh, được quẻ Truân biến Chấn.
Một người cầm quẻ này đến hỏi ta: Thân kim hào Phụ Mẫu là Dụng Thần, Kim Tuyệt tại ngay Dần phải không?
Ta đáp: Phải.
Hỏi: Tuất thổ Nguyên thần hóa Thân là hóa Trường Sinh, sinh phò Phụ Mẫu. Ấy là Tuyệt xứ phùng sinh (Ở nơi Tuyệt mà được sinh) phải không?
Đáp: Phải
Lại hỏi: Cha ông bạn bệnh nặng hết cách chữa phải không?
Đáp: Hôm nay giờ Ngọ khó thoát.
Người xem không nói gì bỏ đi.
Sau quả chết vào giờ Ngọ.
Người xem lui lại hỏi ta: Tuyệt xứ phùng sinh quả vô dụng chăng?
Đáp: Tuyệt xứ phùng sinh thường lâm nguy được cứu. Nay Thân kim Tuyệt tại ngày Dần, không nên Dần sinh trợ Ngọ hóa hồi đầu khắc. Tuất thổ sinh Kim vốn là tốt, nhưng Tuất thổ Nguyệt phá không có sức để sinh phò. Tuy hóa Trường Sinh ở Thân mà Thân bị Nhật xung lại Tuyệt ở ngày Dần. Vì những cớ ấy nên đoán hung.
Ví dụ 6
Ngày Bính Thìn tháng Thân, xem em bị bệnh được quẻ Ký Tế biến Phong.
Đoán rằng: Tí thủy lâm Không, Hợi thủy bất Không, nên bỏ thực mà chọn Không, lấy hào Tí thủy Huynh Đệ làm Dụng thần, nhập Mộ tại Nhật thần. Thân kim là Nguyên thần phát động lại được Tuất thổ động ngược lại sinh Nguyên thần (ý nói quên khắc Dụng thần). Tí thủy tuy nhập Mộ nên chẳng qua bệnh nặng. Giao ngày Giáp Tí, Dụng thần xuất Không, khử Ngọ hỏa, Nguyên thần hết bị thương tất lành.
Quả nghiệm.
Nếu cho nhập Mộ là chết, Đằng Xà động chủ chết, Bạch Hổ động có tang, rồi mùa thu hào Tuất lại là Mộc dục sát, bệnh nhân tối kỵ. Nay bệnh nhân không chết, vì sao vậy?
Phàm xem quẻ phải suy tôn Dụng thần, có sinh không khắc rất tốt, giúp Kỵ thần thương khắc Dụng thần là rất hung. Nghiên cứu phép này từng quẻ một, xét kỹ từng hào. Thiên cơ phải thận trọng linh động xem xét, bốc dịch đâu có bình thường.
Câu Hỏi Thứ Mười Hai: ví dụ 7–8
Ví dụ 7
Ngày Quí Sửu tháng Thân coi con buôn bán tại Sở ngày nào trở về, được quẻ Tổn.
Đoán rằng: Thân kim Tử Tôn phục dưới hào Thế là Sửu thổ Mộ khố, vốn đã không nên, há lại Mộ tại Nhật thần, lệnh lang (chỉ con của người xem) e rằng có đại họa.
Hỏi: Gần đây đã có tin nói đến tháng tám sẽ khởi hành, nên xem có về không?
Đáp: Quẻ này khó đoán ngày về, vì khi tới xem bảo xem con ở ngoài có bình an không.
Lại xem, được quẻ Vô Vọng biến Di.
Đoán rằng: Quẻ trước Tử Tôn không hiện mà nhập Mộ, quẻ sau này hiện mà hóa Mộ. Huống gì Dần mộc Nhật thần là chân Phá, chân Không không được sinh trợ. Thêm nữa Thân kim Nguyệt kiến Quan Quỷ là hào lộ phát động, hai quẻ đều cho thấy điều không may.
Người xem nói: Hôm trước nghe đồn tháng năm ở Trường Giang cháu bị lật thuyền mà chết, tin này đã chính xác, mà quẻ thật rõ ràng, đó là đùa mà bói thế thôi.
Ví dụ 8
Ngày Bính Dần tháng Hợi chị dâu xem bệnh cho em chồng, được quẻ Hàm biến Kiển.
Đoán rằng: Xem cho chị em của chồng lấy hào Quan Quỷ làm Dụng Thần. Nay Ngọ hỏa là Quan tinh có Trường Sinh ở Nhật thần, bị Hợi thủy động khắc. Lại không tốt vì Hợi thủy hóa Trường Sinh Thân kim, hồi đầu sinh, trợ Thủy khắc Dụng Thần. Bệnh này tất chết.
Sau chết vào ngày Ất Hợi, ứng Ất Hợi vì Hợi thủy lâm Không mà Ất Hợi là ngày thực Không (ngày xem là Bính Dần, Tuần Không tại Tuất Hợi. Tuần này khởi đầu từ Giáp Tí chấm dứt ở Quí Dậu, qua Giáp Tuất là sang tuần khác, tức xuất Tuần. Đến ngày Ất Hợi là ngày điền thực).
Câu Hỏi Thứ Mười Hai: ví dụ 9–12
Ví dụ 9
Ngày Ất Mùi tháng Mão, chị em cho em dâu mang thai đã đủ tháng nhưng bệnh, sinh sản có bình yên không. Được quẻ Khốn biến Khảm.
Đoán rằng: Xem vợ của em, lấy Tài hào làm Dụng Thần. Nay Dần mộc Tài hào Mộ tại Nhật thần. Hiện như vậy là vì bệnh. Hợi thủy hóa Thân kim được Trường Sinh mà sinh hợp với hào Tài thì thoát thân bình an.
Người xem hỏi: Ứng vào ngày nào?
Đáp: Hợi thủy hóa Thân động hợp Thế. Ngày mai tất sinh.
Quả ngày mai sinh, mẹ con bình an. Sau khi sinh bệnh cũng lành hẳn (quẻ này giải đoán quá rắc rối. Có lẽ người xem lo ngại mà đi coi, nên mới hiện ra Tử động. Nhưng Phúc thần động hóa hồi đầu sinh, mà quẻ biến lục xung, nên đến ngày Thân thì sẽ yên mà thôi).
Ví dụ 10
Ngày Đinh Mão tháng Tị năm Tị, xem tâu đàn hặc người khác, được quẻ Lữ.
Người xem nói: Ta muốn tâu hặc tội kẻ quyền gian mà sợ ngược lại bị hại, cho nên xem bói, đừng ngại cứ nói thẳng.
Ta đáp: Ứng hào Dậu kim nếu không bị ngày Mão xung, phải luận Trường Sinh tại năm và tháng. Nay bị Mão xung nên phải luận bị năm, tháng Tị khắc, tất tổn thương không được cứu. Thế kẻ có quyền chắc chắn nay đã suy.
Lại hỏi: Có hại cho ta không?
Đáp: Tử Tôn trì Thế đâu có gì hại.
Quả tâu được chuẩn thuận.
Ví dụ 11
Ngày Mậu Thân tháng Mùi xem nhân lầm lỡ lương của quân nên bị hặc tội, được quẻ Phong biến Lữ.
Đoán rằng: Thế lâm Nhật thần, được Nguyệt kiến sinh, Tuất thổ động lại sinh, quan chức chắc chắn khỏi lo.
Mọi người không cho là thế, nhưng đâu biết nhân lập được kỳ công mà công danh lại như cũ.
Một người nói: Tử Tôn phát động làm sao chẳng trở ngại.
Ta nói: Mộc có Tuyệt ở Nhật thần lại Mộ tại Nguyệt kiến, trở ngại thế nào được.
Ví dụ 12
Ngày Nhâm Dần tháng Mão xem tìm huyệt chôn, được quẻ Cách biến Ký Tế.
Đoán rằng: Thế hào Hợi thủy hóa Thân kim hồi đầu sinh, tuy hưu tù nhưng được sinh nên vượng, chỉ ngại Dần mộc xung Thân nên qua Thu mới được đất đẹp. Thế hòa Thân nên đất ở Tây Nam.
Quả đến tháng bảy được đất chôn. Sau ba con đều đỗ đạt.
Một người hỏi ta: Thân kim bị xung mà hợp với tháng Tị, làm sao ứng vào tháng Thân.
Ta nói: Tị hợp với Thân mà Thế Hợi bị xung, há không thành sao?
Câu Hỏi Thứ Mười Ba
CÂU HỎI THỨ MƯỜI BA
Lục Xung - Lục Hợp
Hỏi: Làm sao để đoán với Lục xung và Lục hợp?
Đáp: Điều người ta ghét thì nên xung, điều mà người ta thích thì nên hợp. Chỉ có xem về bệnh, thì chia ra cận bệnh và cửu bệnh. Cận bệnh gặp xung tất lành, cửu bệnh gặp xung thì chết. Gặp quẻ Lục hợp thì lý luận ngược lại.
Phàm gặp quẻ Lục xung có Nhật thần tương hợp với Biến hào thì gọi xung trung phùng hợp (trong xung có hợp). Phàm quẻ Lục hợp mà Nhật thần tương xung với Biến hào ấy là hợp xứ phùng xung (trong hợp có xung). Nếu xung Kỵ thần, hợp với Dụng Thần gọi là khử Sát lưu ân (ra ân trừ Sát) thì mọi việc đều cát; nếu xung Dụng Thần, hợp với Kỵ thần gọi là lưu Sát hại mệnh (để Sát hại mệnh), mọi sự đều hung.
Ví dụ:
Ngày Nhâm Tí tháng Dậu xem cháu gặp sự cố có hại gì không, được quẻ Đại Tráng biến Thái.
Đoán rằng: Quẻ Lục xung thì việc chủ tán. Thế ở Ngọ hỏa Phụ Mẫu bị Nhật thần xung, nên cháu vô hại.
Người xem nói: Tôi về định quở trách cháu, nhưng có người giải thích nên chú cháu không đến xung nhau.
Đó là gặp quẻ Lục xung, mà Kỵ thần bị xung khử.
Ví dụ 2
Ngày Đinh Dậu tháng Tị xem văn thư ngày nào đến, được quẻ Càn.
Đoán rằng: Hào Thìn lâm Không ở Ứng là Dụng Thần, hợp với Nhật thần, nên văn thư ngày Giáp Thìn sẽ đến.
Quả nghiệm.
Đấy là quẻ Lục xung mà chỉ Dụng Thần là hợp, tức xung trung phùng hợp, ngày Giáp Thìn là ngày thực Không (quẻ này tác giả luận hào lâm Không là Dụng thần. Nhưng đúng ra nên chọn hào Tuất ở Thế làm Dụng Thần mới phải. Quẻ này an tĩnh, Phụ Mẫu Tuất thổ ở tháng Tị vượng tướng, nên đợi đến ngày Thìn (là văn thư) xung Tuất thổ thì văn thư đến).
Ví dụ 3
Ngày Bính Tí tháng Ngọ, xem mở hàng được quẻ Đại Tráng biến Tốn.
Đoán rằng: Quẻ Lục xung biến Lục xung, không mở tiệm là thượng sách.
Người xem nói: Mọi chuyện đã chuẩn bị xong xuôi rồi.
Đáp: Ngọ hỏa là Nguyệt kiến hóa Mùi thổ tương hợp, bị Nhật thần xung, không tán e mùa đông này có sự cố.
Quả mùa đông, người quản lý có việc nên phải ngưng công việc.
Câu Hỏi Thứ Mười Ba: ví dụ 4–7
Ví dụ 4
Ngày Ất Hợi tháng Mùi, xem đi buôn bán cầu lợi, được quẻ Đoài biến Chấn.
Người xem hỏi: Có bình yên không.
Đáp: Đoài biến Chấn, có xung mà không bị khắc, tất bình an.
Người này đi, mua đậu nhưng không đủ hàng đổi mua bông vải. Quả lỗ vốn.
Người học nên biết Lục xung biến Lục xung, nói chung dù cát tượng, cát hào, được sinh được hợp rồi cũng tán.
Ví dụ 5
Ngày Kỷ Tị tháng Tí xem đánh bạc được quẻ Khôn.
Đoán rằng: Thế khắc Ứng là ta thắng, nhưng không nên ngày Tị xung động hào Hợi để sinh hào Ứng, không ích lợi gì cho Thế. Lần này tất thua, may gặp quẻ Lục xung nên không đánh đến hết cuộc.
Quả thua không nhiều, vì tranh tiền nên đánh không lâu mà giải tán.
Lục xung nên thua không nhiều, Tài lâm Không sinh Ứng, tranh tiền mà tan vì Chu Tước lâm Tài mà ám động.
Ví dụ 6
Ngày Canh Ngọ tháng Thìn, xem đi thi Hội, được quẻ Quán biến Bĩ.
Đoán rằng: Thế trì hào Mùi hóa Nhật thần Ngọ hỏa là Quan tinh sinh hợp, chắc chắn đậu.
Quả đậu Thám hoa.
Ví dụ 7
Ngày Giáp Ngọ tháng Dần xem con bị bệnh lâu ngày được quẻ Đại Tráng.
Đoán rằng: Cửu bệnh gặp Lục xung tất chết. Nay Thân kim Tử Tôn là Dụng thần bị Nguyệt phá. Thế trì Ngọ hỏa bị Nhật thần khắc ứng hung vào ngày này. Nhưng trong quẻ có Tí thủy ám động chế Hỏa, tất có thiên cơ mới hiện thế. Hôm nay không chết, ngày mai Tí thủy, Kỵ thần được hợp, ngày tiếp nên phòng.
Quả chết vào giờ Thìn hôm nay (quẻ này không có hào động, Kỵ thần Ngọ hỏa quá vượng có tác dụng như hào động, khắc Dụng thần, tất phải chết).
Câu Hỏi Thứ Mười Ba: ví dụ 8–10
Ví dụ 8
Ngày Giáp Ngọ tháng Mão, xem đi cho kịp gởi thư, có gặp được không, được quẻ Bĩ.
Đoán rằng: Quẻ Lục hợp, phàm mọi việc đều thành tựu. Nhưng ngày mai giờ Mùi là tiết Thanh Minh, nên đi gấp mới có thể gặp, vì giao Tiết Thanh Minh, Nguyệt kiến là Thìn, xung Ứng, tất người muốn gởi sẽ đi, không thể gặp được.
Quả đi gấp để gởi, vì ngày mai thuyền đã khởi hành.
Ví dụ 9
Ngày Mậu Thân tháng Tị, có người cùng quê đến xem vay tiền, được quẻ Phục biến Dự.
Đoán rằng: Lục hợp biến Lục hợp mọi mưu sự dễ thành, xa gần đều hòa hợp. Nhưng Hợi thủy Tài hào bị Nguyệt phá, Dậu kim Nguyên thần lâm Không. Thế ở Tài hào Tí thủy hóa Mùi hồi đầu khắc. Thêm nữa Nhật thần ám động khắc Ngọ hỏa sinh phò Ứng Sửu thổ khắc Tài. Khắc quá nhiều, tất trong việc mượn tiền nên phòng bất trắc.
Người xem nói: Có người bạn hẹn với tôi cùng đi, hoặc không đồng ý đi chăng?
Ta hỏi: Người nào thế?
Đáp: Người Quảng Đông.
Ta cố ngăn cản, nhưng không nghe mà cứ đi mượn tiền.
Trở về không được mấy dặm thì người này bị hại.
Ví dụ 10
Ngày Giáp Dần tháng Tị bói mời thầy dạy cho con, được quẻ Bĩ biến Càn.
Đoán rằng: Lấy hào Ứng làm Dụng Thần. Ứng lâm Tuất thổ Phụ Mẫu nên thầy là người học rộng. Chỉ hiềm quẻ Lục hợp biến Lục xung, nửa chừng e có biến động, e không lâu.
Hỏi: Vì nguyên nhân nào?
Đáp: Trong quẻ chỉ có hào sơ Mùi thổ là Phụ Mẫu hóa Tử Tôn Tí thủy lâm Không, Phụ động khắc Thủy, nên phòng về con cháu gặp tai ương.
Về sau đến tháng Ngọ Tí thủy bị Nguyệt phá, con bị bệnh nên không thể học được (quẻ này không thể đoán là Phụ động khắc Tử Tôn. Chỉ biết Tử Tôn phục lâm Không, mà Phi thần Mùi thổ được Nguyệt kiến sinh, động hào sinh, nên Phục thần không thể nào thoát ra được, nên kết quả xấu về Tử Tôn. Còn Lục hợp biến Lục xung cho thấy việc chẳng thành, Quan động cho biết về tật bệnh).
Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.
