Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông

Bài tổng quan

Hoàng Kim Sách Câu 40 Đến Hết: Trường Sinh, Mộ Tuyệt Và Lục Thú

Bói Dịch - Bốc Phệ Chính Tông16/09/202624 phút đọc6 lượt đọc
Hoàng Kim Sách Câu 40 Đến Hết: Trường Sinh, Mộ Tuyệt Và Lục Thú

Nửa sau Hoàng Kim Sách chuyển từ những nguyên lý chung sang các trạng thái tinh tế của hào. Các câu 40 đến 50 bàn về Trường Sinh, Mộ, Tuyệt, Mộc Dục, hồi đầu khắc, Kỵ thần cô hàn và phép dùng Mộ khố cất chứa Dụng thần. Kế đó, các câu 51 đến 60 xét gian hào, Tiến Thần, Thoái Thần, Hình hại, Tuyệt xứ phùng sinh và phép đoán ngày ứng việc. Các câu 61 đến 64 nói về Quan Quỷ, Tử Tôn, năm loại Lục Thân và Quái Thân trùng điệp, trong khi những câu sau cùng luận về Bạch Hổ, Thanh Long, Chu Tước, Huyền Vũ. Thế nhưng lời răn sau chót lại hạ thấp chính thần sát: sinh khắc chế hóa mới là gốc, đừng chấp vào tên gọi cát hung.


Hoàng Kim Sách: câu 40–50

Tiếp phần Hoàng Kim Sách, Thiên Kim Phú — từ câu 40 đến câu 50.

40.

德入卦而無謀不遂 - 忌臨身而多阻無成

Đức nhập quái nhi vô mưu bất toại
Kỵ lâm Thân nhi đa trở vô thành

Đức có ở trong quẻ không mưu tính gì không toại ý. Kỵ ở Thân thì nhiều trở ngại mà không thành.

Đức là hợp. Trong hòa hợp có ân tình đức nghĩa. Cho nên phàm mưu sự gì mà Dụng thần động hợp Thế hoặc Dụng thần hóa thành sinh hợp, hoặc Nhật thần lâm Dụng hợp Thế, hoặc Nhật thần sinh hợp Dụng hào đều gọi là Đức vào trong quẻ, thì không mưu sự gì không toại ý. Nhưng mà hợp xứ phùng xung thì e có biến động. Nếu Kỵ thần mà như thế thì nhiều cản trở khó thành.

41.

卦遇凶星避之則吉

Quái ngộ hung tinh, tị chi tắc cát

Quẻ gặp hung tinh, tránh đi tất cát.

Hung tinh ấy là Kỵ thần. Phàm Dụng thần bị Nhật thần, Nguyệt kiến khắc thương, bất luận Không hay Phục, trước sau cũng bị thụ chế, không có nơi để tránh. Nếu không bị Nhật Nguyệt thương khắc, chỉ gặp Kỵ thần trong quẻ động khắc. Nếu Dụng hào lâm Tuần không, phục tàng thì không chịu khắc, gọi là tránh. Đợi ngày xung khắc Kỵ thần, thì hung tự tiêu tan. Nếu Dụng thần xuất hiện mà không lâm Không thì bị hại, khó tránh được thương khắc. Cho nên bảo "tránh đi thì cát".

42.

交逢忌殺敵之無傷

Hào phùng kỵ sát, địch chi vô thương

Hào gặp kỵ sát, được cứu thì khỏi bị hại.

Hào là Dụng hào, như cầu tài lấy hào Tài làm Dụng thần chẳng hạn. Địch có nghĩa là cứu giúp. Ví như cầu tài, trong quẻ hào Tài thuộc Mộc, nếu có hào Kim động khắc Tài là hung, hoặc được hào Hỏa phát động khắc Kim tức hào Kim tự chống không nổi, làm sao có thể khắc Mộc được, hào Mộc khỏi lo. Cho nên bảo "được cứu thì không bị hại".

43.

主象休囚怕見刑冲剋害 - 用爻變動忌遭死墓絕空

Chủ tượng hưu tù, phạ kiến hình xung khắc hại
Dụng hào biến động, kỵ tao Tử Mộ Tuyệt Không

Chủ tượng hưu tù, sợ gặp hình xung khắc hại. Dụng hào biến động kỵ gặp Tử Mộ Tuyệt Không.

Chủ tượng cũng chỉ Dụng thần. Nếu hưu tù đã không thành việc, há lại bị hình khắc sao? Nếu Dụng thần phát động, như người mạnh mẽ tiến tới trước, há có thể hóa Mộ Tuyệt sao?

44.

用化用有用無用 - 空化空雖空不空

Dụng hóa Dụng hữu dụng vô dụng
Không hóa Không tuy Không bất Không

Dụng hóa Dụng có lúc hữu dụng, có lúc vô dụng. Không hóa Không tuy là không mà chẳng không.

Dụng thần hóa Dụng thần có Dụng thần hữu dụng, có Dụng thần vô dụng. Hữu dụng là Dụng thần hóa Tiến thần. Vô dụng là Dụng thần hóa Thoái thần, cùng quẻ Phục ngâm. Cho nên mới phân biệt "hữu dụng" và "vô dụng".

Hào lâm Không an tĩnh tất không thể hóa thành Không, chỉ hào phát động mới có thể biến thành. Đã phát động thì không phải là Không. Hóa thành Không cũng do động mà biến thành. Phàm hào động lâm Không hoặc hào động biến Không đều không thể luận là thực sự là Không, vì ra khỏi Tuần thì hữu dụng.

45.

養主狐疑 - 墓多暗昧
化病兮傷損 - 化胎兮勾連

Dưỡng chủ hồ nghi - Mộ đa ám muội
Hóa Bệnh hề thương tổn - Hóa Thai hề câu liên

Dưỡng chủ nghi ngờ - Mộ nhiều ám muội. Hóa Bệnh thì tổn hại - Hóa Thai thì khó khăn.

Trường Sinh, Mộc Dục, Quan đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng là 12 Thần. Trong quẻ chỉ ba giai đoạn Trường Sinh, Mộ, Tuyệt là cần xem xét ở mọi quẻ, mọi hào. Còn các giai đoạn khác như Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Thai, Dưỡng mỗi cái đều luận thành sinh khắc xung hợp, Tiến Thoái thần, Phục ngâm, Phản ngâm. Không thể câu chấp Dưỡng là nghi ngờ, Bệnh chủ tổn thương, Thai chủ khó khăn.

46.

凶化長生織而未散

Hung hóa Trường Sinh, sí nhi vị tán

Hung hóa Trường Sinh, mạnh mẽ mà chưa tan.

Dụng thần hóa thành Trường Sinh là tốt. Nếu Hung thần hóa Trường Sinh thì căn họa đã manh nha, ngày tăng trưởng dần, tất đợi ngày Mộ, Tuyệt mới giảm bớt cái thế của hung thần được.

47.

吉連沐浴敗而不成

Cát liên Mộc Dục, bại nhi bất thành

Cát hợp Mộc Dục, bại mà không thành.

Mộc Dục có tên là Bại thần, lại gọi là Mộc Dục Sát, là thần vô liêm sỉ, tính tình dâm bại, nhưng có phân ra nặng hay nhẹ. Tức như Kim bại ở Ngọ, trong bại có khắc; Dần mộc bại ở Tí, trong bại có sinh; Mão mộc bại ở Tí, trong bại có hình; Thủy bại ở Dậu, trong bại có sinh; Thổ bại ở Dậu, trong bại có tiết khí. Hỏa bại ở Mão, trong bại có sinh. Chi xem hôn nhân là hết sức kỵ.

Nếu xem chọn vợ mà được hào Tài hóa Mộc Dục kèm sinh, tất bại gia phong; kèm khắc thì vì gian mà sát thân. Còn xem chuyện khác, nếu hào Thế hóa Mộc Dục, nếu kèm sinh thì vì sắc mà hại danh; kèm khắc thì vì gian mà táng thân. Được cứu thì trong chỗ hiểm có đường sống. Cho nên mới bảo: "Cát thần không nên hóa Mộc Dục".

48.

戒回頭之剋我 - 勿反德以扶人

Giới hồi đầu chi khắc ngã
Vật phản đức dĩ phù nhân

Ngăn hồi đầu mà khắc ta. Chớ trái đức mà giúp người.

Hồi đầu khắc là Dụng thần tự hóa Kỵ thần. Như hào Hỏa hóa Thủy chẳng hạn. Xem mọi chuyện mà Thế hào, Thân hào, Dụng hào gặp thế đều không tốt. Phàm Dụng thần động sinh hợp Thế thì là có tình với ta, mưu sự dễ thành. Hoặc Dụng thần động không sinh hợp Thế Thân, mà ngược lại sinh hợp với hào Ứng cùng hào khác đều gọi là "trái đức giúp người". Phàm xem mà gặp thế mọi mưu sự khó khăn, vì tượng lợi người hại mình.

49.

惡曜孤寒怕日辰之併起

Ác diệu cô hàn, phạ Nhật thần chi tính khởi

Ác diệu mà cô hàn, thì chỉ sợ Nhật thần lâm ở đó.

Ác diệu là chỉ Kỵ thần; Cô là một mình không được sinh phù cùng hợp; Hàn là suy nhược vô khí. Phàm xem quẻ gặp Kỵ thần cô hàn thì vĩnh viễn không tổn hại được ta. Chỉ sợ Nhật thần lâm khởi ở đó, thì cô hàn mà được thế, cuối cùng không tránh được tổn hại. Nếu trị Nguyệt kiến cũng thật đáng sợ.

50.

用交重疊以墓庫之收藏

Dụng hào trùng điệp dĩ Mộ khố chi thu tàng

Dụng hào trùng điệp thì nhờ Mộ khố để cất chứa.

Như trong quẻ Dụng thần trùng điệp thái quá, thích nhật là Mộ của Dụng thần lâm Thân Thế, ấy là qui về cất chứa ở ta.

(Câu này giảng không rõ. Khi Dụng thần trùng điệp tức xuất hiện quá nhiều trong quẻ. Như Dụng thần thuộc Thủy, mà trong quẻ có quá nhiều hào Thủy. Muốn Dụng thần có tác dụng thì phải đợi đến lúc Dụng thần nhập Mộ. Nếu là Dụng thần thuộc Thủy như trên thì phải đợi đến Thìn là Mộ khố của Thủy.)

Hoàng Kim Sách: câu 51–60

51.

事阻隔兮間發 - 心退悔兮世空

Sự trở cách hề gian phát
Tâm thoái hối hề Thế Không

Việc ngăn cản vì gian hào động. Lòng dùng dằng vì Thế lâm Không.

Gian hào là hai hào ở giữa Thế và Ứng. Vốn hai hào ở giữa Thế Ứng này ngăn cách đường giữa ta và người. Gian hào động là có người cản trở. Muốn biết ai ngăn trở cứ lấy Lục thân mà suy. Như Phụ Mẫu động là bậc tôn trưởng chẳng hạn.

Phàm Thế hào gặp Tuần Không, thì trong lòng uể oải không muốn thăng tiến để thành tựu công việc. Cho nên bảo: "Tâm dùng dằng vì Thế lâm Không".

52.

卦爻發動須看交重 - 動變比和當明進退

Quái hào phát động tu khán giao trùng
Động biến tỉ hòa đương minh tiến thoái

Hào trong quẻ phát động cần xem giao hay trùng. Động biến thành cùng hành xem rõ Tiến hay Thoái.

Phàm hào phát động trong quẻ, giao thì chủ tương lai, trùng thì chủ quá khứ. Như xem về Đào vong (bỏ trốn) thấy Phụ Mẫu Chu Tước phát động, nếu hào này là giao, còn có người đến báo tin; nếu là trùng thì tin đã biết trước rồi. Các chuyện khác cứ phỏng theo như thế.

Động biến thành cùng hành, là chỉ đến Tiến thần và Thoái thần. Như Dần mộc hóa Mão mộc là Tiến Thần, Mão biến thành Dần là thoái thần. Tiến chủ đi lên phía trước, Thoái chủ lùi ra sau.

53.

煞生身莫將吉斷 - 用剋世勿作凶看
蓋生中有刑害之兩防 - 合處有剋傷之一慮

Sát sinh Thân mạc tương cát đoán, Dụng khắc Thế vật tác hung khan
Cái: Sinh trung hữu Hình hại chi lưỡng phòng, Hợp xứ hữu khắc thương chi nhất lự

Sát sinh Thân chớ đoán là tốt. Dụng khắc Thế chớ xem là hung. Vốn được sinh cũng phòng hai điều Hình và hại. Được hợp cũng có lo về khắc thương.

Sát là Kỵ thần. Sinh là hợp vậy. Thân là như tự xem thì lấy hào Thế. Nếu trong quẻ Kỵ thần phát động, tất thương khắc Dụng thần, như vậy dù đã sinh hợp với ta thì cũng chẳng ích gì. Huống gì trong sinh hợp có hình, có hại, có khắc. Như Kỵ thần sinh Thế kèm có Hình khắc, không những chi mưu sự không thành, điều mong cầu chẳng được, còn sợ vì mưu sự mà gặp xấu. Như một người đi thi Hương vào ngày Quí Dậu tháng Thìn bói được quẻ Tiết biến Khảm, Thế hào Tị hóa hóa Kỵ thần là Dần mộc, trong sinh có Hình, lại có Mão mộc Kỵ thần ám động sinh Thế. Về sau vào trường bị bệnh. Đấy là Kỵ sinh Thân, trong sinh có mang Hình, về hại cũng tương tự, còn khắc thì nặng hơn.

Lại như Dụng thần động khắc Thế, đó là "vật" đến tìm ta, phàm mưu sự dễ thành, chớ thấy khắc ta mà cho là hung, được Dụng thần khắc Thế vốn là cát. Nhưng không nên đi sinh hợp với Ứng hào. Đó là hậu với người mà bạc với ta, thì tuy Dụng thần khắc Thế cũng xem là hung, không thể không biết đến.

54.

刑害不宜臨用 - 死絕豈可持身

Hình hại bất nghi lâm Dụng
Tử Tuyệt khởi khả trì Thân

Hình hại chẳng nên lâm Dụng. Tử Tuyệt há lại trì Thân.

Phàm Dụng thần, Thân, Thế gặp Nhật thần tương hình, tất chủ bất lợi, xem việc thì chẳng thành. Xem vật thì không tốt, xem bệnh thì trầm trọng, xem người thì có bệnh, đàn bà thì bất trinh, xem văn thư thì sơ hở, xem kiện tụng thì hình. Hại thì không đến nỗi hư việc, đại khái cũng phỏng thế, mà hóa Hình hại cũng thế. Cần xem suy vượng sinh khắc, phân định nặng nhẹ kỹ càng. Hào Tử Tuyệt tại Nhật thần mà trì Thế Thân, Dụng thần xem mọi việc đều bất lợi. Biến động mà hóa Tử Tuyệt cũng vậy, nhưng có "Tuyệt xứ phùng sinh" người học cần nên biết.

55.

動逢冲而事散

Động phùng xung nhi sự tán

Động gặp xung thì việc tan.

Vốn hào xung không phải theo một lệ mà đoán. Như hào Tuần không an tĩnh gặp xung thì gọi là khởi; hào Tuần không phát động gặp xung gọi là thực; hào an tĩnh bất Không gặp xung gọi là ám động; hào phát động bất Không gặp xung gọi là tán, lại gọi là xung thoát. Phàm động hào mà gặp xung tán thoát, cát chẳng thành cát, hung không thành hung.

56.

絕逢生而事成

Tuyệt phùng sinh nhi sự thành

Tuyệt mà gặp sinh thì việc thành.

Phàm Dụng thần ở Tuyệt địa, không thể câu chấp mà luận là phải Tuyệt tại Nhật thần. Dụng thần hóa Tuyệt cũng thế. Nếu gặp sinh phù là trong hung có cát, điềm đại tốt, gọi là "Tuyệt xứ phùng sinh".

57.

如逢合住須冲破以成功

Như phùng hợp trú, tu xung phá dĩ thành công

Nếu gặp hợp, nên xung phá để thành công.

Trong quẻ Dụng thần, Kỵ thần gặp Nhật thần hợp, hoặc tự hóa thành hợp, hoặc có động hào đến hợp. Không kể là hung hay cát đều không có kết quả, phải chờ đến lúc xung phá thì việc cát hung mới ứng. Giả như Dụng hào động sinh Thế, việc dễ thành, nếu gặp hợp, tất lại ngăn trở, cần đợi ngày xung thì việc mới thành. Ở câu sau là phép đoán nhật kỳ.

58.

若遇休囚必生旺而成事

Nhược ngộ hưu tù tất sinh vượng nhi thành sự

Nếu gặp hưu tù tất chờ lúc sinh vượng mới thành việc.

Phép đoán Nhật kỳ không thể chấp nhất, phải linh động mà suy đoán để không nhầm lẫn. Như:

Dụng hào hợp trú thì dùng nhật kỳ xung để đoán.
Dụng hào hưu tù tất lúc sinh vượng mới thành việc. Cho nên vô khí thì phải dùng tháng ngày vượng tướng mà đoán.
Dụng hào vượng tướng bất động thì dùng ngày tháng xung động mà đoán.
Dụng hào hữu khí phát động thì lấy ngày hợp mà đoán. Hoặc hữu khí mà động mà hợp Nhật thần, hoặc Nhật thần lâm mà động sinh hợp Thế thân, tức lấy ngày đó mà đoán.
Dụng hào bị thụ chế tất lấy tháng ngày chế sát mà đoán.
Dụng hào được thời vượng động mà lại được sinh phù, đấy là quá vượng, nên dụng tháng ngày Mộ khố để đoán.
Dụng hào vô khí phát động mà được sinh phù tức lấy ngày tháng sinh phù mà đoán.
Dụng hào nhập Mộ thì dùng ngày tháng xung Mộ mà đoán.
Dụng hào Tuần không an tĩnh, tất lấy ngày xuất Tuần gặp xung mà đoán.
Dụng hào Tuần không phát động, tức dùng ngày trị lúc xuất Tuần để đoán.
Dụng hào phát động Tuần không mà bị hợp tức dùng ngày xung khi ra khỏi Tuần mà đoán.
Dụng hào Tuần không phát động mà gặp xung, tức là xung thực, tất lấy ngày đó mà đoán.

Trên đây là phép đoán tổng quát, trong đó lý lẽ vi diệu, học giả phải thông suốt, linh động phân ra nặng nhẹ. Phân định rõ Dụng và Kỵ thì đoán chẳng sai.

59.

速則動而剋世 - 緩則靜而生身

Tốc tắc động nhi khắc Thế
Hoãn tắc tĩnh nhi sinh Thân

Nhanh thì động mà khắc Thế. Chậm thì tĩnh mà sinh Thân.

Đây cũng là phép đoán nhật kỳ, để định ứng nhanh hay chậm. Nếu Dụng thần động mà khắc Thế thì việc đến nhanh, nếu động mà sinh Thế thì ứng chậm. Nếu tĩnh mà sinh Thế lại trì trệ. Lại dùng suy vượng động tĩnh mà suy nghiệm, tất vạn điều chẳng lầm. Như suy mà phát động khắc Thế so với vượng động mà khắc Thế thì xảy ra chậm hơn. Ngoài ra cứ phỏng thế.

60.

父亡而事無頭緒 - 福隱而事不稱情

Phụ vong nhi sự vô đầu tự
Phúc ẩn nhi sự bất xứng tình

Phụ lâm Không thì việc không đầu mối. Phúc phục thì việc không vừa lòng.

Câu này chỉ nói đến việc công. Xem văn thư thì hào Phụ Mẫu là văn thư. Phàm xem công danh thì việc công, cơ quan đều dùng hào Phụ Mẫu làm đầu mối. Đầu tiên là dựa vào văn thư, tiếp đến mới theo Quan Quỷ, nếu hào văn thư gặp Không vong, sợ việc chưa xác đáng. Cho nên mới bảo: "Phụ Không vong thì việc không có đầu mối".

Phàm xem việc tư lấy hào Tử Tôn làm thần giải ưu, lại dùng hào Tài làm căn nguyên. Há Tử Tôn phục mà không hiện sao. Cho nên mới bảo: "Phúc Đức ẩn mà việc chẳng vừa lòng".

Hoàng Kim Sách: câu 61–64

61.

鬼雖禍災伏猶無氣

Quỷ tuy họa tai, phục do vô khí

Quỷ tuy là tai họa, phục thì vô khí.

Hào Quan Quỷ tuy bảo là thần sát về tai họa, nhưng trong sáu hào của quẻ không thể không có, nên xuất hiện mà an tĩnh, không nên phục tàng. Nếu phục thì trong quẻ vô khí. Vả lại hào Quan đó cũng là nơi dựa khi xem mọi chuyện, tức cũng cần. Như xem về quan chức thì Quan là Dụng thần; xem văn thư thì Quan là Nguyên thần; xem kiện tụng thì Quan là quan lại; xem bệnh tật thì Quan là bệnh; xem trộm cướp thì Quan là trộm cướp; xem việc quái dị thì Quan là quái dị; xem về tiền bạc nếu không có hào Quan sợ Huynh Đệ nắm quyền khó tránh tổn hại.

62.

子雖福德多反無功

Tử tuy phúc đức, đa phản vô công

Tử tuy là phúc đức, bị khắc nhiều thì vô ích.

"Đa" là xuất hiện nhiều, "Phản" là chịu khắc. Chỉ xem công danh thì Tử Tôn là ác sát. Ngoài ra đều lấy Tử Tôn làm thần phúc đức. Như xem thuốc men đều lấy Tử Tôn làm Dụng thần, nếu trong quẻ xuất hiện nhiều hào Tử Tôn thì dùng thuốc lộn xộn, có uống cũng vô ích. Như xem cầu tài gặp hào Tử Tôn bị thương, không chi không lợi sợ còn bị hao vốn.

63.

究父母推為體統 - 論官鬼斷作禍殃
財乃祿神,子為福德 - 兄弟交重必至,凡謀多阻滯

Cứu Phụ Mẫu suy vi thể thống
Luận Quan Quỷ đoán tác họa ương
Tài nãi lộc thần, Tử vi phúc đức
Huynh Đệ giao trùng tất chí, phàm mưu đa trở trệ

Xét Phụ Mẫu suy được thể thống. Luận Quan Quỷ đoán được hoa tai. Tài là lộc thần, Tử là phúc đức. Huynh Đệ động tất mưu sự nhiều trở ngại.

Ở đây tuy nói đại lược về năm loại, nhưng cũng có phân ra để mà dùng. Giả như xem chung thân, lấy hào Phụ Mẫu để luận xuất thân, nếu gặp Quý Nhân mà có sát, tức hậu duệ của nhà quan lại, nếu bị hình hại vô khí là con nhà nghèo hèn. Giả như xem về tai họa nên xem Quan Quỷ lâm vào loại thú nào, nếu ở Huyền vũ thì họa về đạo tặc. Tài là thực lộc của người ta, cho nên gọi là lộc thần; Tử Tôn có thể giải ưu khắc Quan Quỷ cho nên gọi là phúc đức. Huynh Đệ là ngang hàng với ta mà lấn Tài, động thì khắc Tài mà tranh đoạt, cho nên mới bảo: "mưu sự nhiều trở ngại".

(Tức lục thân gồm 5 loại Phụ Mẫu, Quan Quỷ, Tử Tôn, Thê Tài, Huynh Đệ, nếu thêm Ta vào thì thành 6.)

64.

卦攤重疊須知事體兩交關

Quái thân trùng điệp, tu tri sự thể lưỡng giao quan

Quái thân trùng điệp, nên biết sự việc có liên quan đến hai nơi.

Quái thân là Nguyệt quái thân, phép khởi là "Thế dương khởi từ tháng Tí, Thế âm khởi từ tháng Ngọ". Cần phải luận rõ câu này. Phàm hào Quái thân là thể của sự việc cần xem. Nếu trong quẻ có đến hai hào xuất hiện, tức là việc có kết hợp, hoặc sự việc liên quan đến hai nơi. Nếu ở Huynh Đệ tất cùng mưu sự với người, hoặc lâm Quan Quỷ phát động tất có người tranh giành việc này.

Trong quẻ không xuất hiện Quái thân, việc chưa định hướng; xuất hiện sinh Thế, trì Thế, hợp Thế thì sự việc đã định. Quái thân nên xuất hiện mà không nên động, động thì phòng có biến đổi, nếu biến hoại thì việc sẽ biến hoại. Nếu trì Thế thì biết việc này mình có thể điều động. Nếu Quái thân lâm Ứng thì việc này quyền bính ở người, hoặc do hào khác động biến thành tức biết người liên quan hào này cũng thuộc vào việc đó. Như Tử Tôn là tăng đạo hoặc bọn cháu chắt chẳng hạn, hoặc phục ở dưới hào khác cũng như theo vậy mà suy đoán.

Nếu sáu hào cùng Phi hào, Biến hào, Phục thần đều không có Quái thân, thì việc ấy chưa chắc, ở Không vong, Mộ, Tuyệt thì việc khó thành. Đại để Quái thân dùng để xem sự thể, không thể lầm là để xem thân mệnh, như xem tướng mạo xấu đẹp thì xem Quái thân có thể biết.

Phàm gặp Thân khắc Thế thì sự việc tìm tới ta là tốt, Thế khắc Thân thì hung. Nếu được hào Thân sinh hợp hào Thế lại càng tốt.

Hoàng Kim Sách: câu 65–69

65.

虎興而遇吉神不害其為吉 - 龍動而逢凶曜難掩其為凶
玄武主盜賊之事亦必官爻 - 朱雀本口舌之神然須兄弟
疾病大宜天喜若臨凶煞必生悲 - 出行最怕往亡如係吉神終獲利
是故吉凶神煞之多端何如生剋制化之一理

Hổ hưng nhi ngộ cát thần bất hại, kỳ vi cát
Long động nhi phùng hung diệu nan yểm, kỳ vi hung
Huyền Vũ chủ đạo tặc chi sự, diệc tất Quan hào
Chu Tước bổn khẩu thiệt chi thần, nhiên tu Huynh Đệ
Tật bệnh đại nghi Thiên Hỷ, nhược lâm hung sát tất sinh bi
Xuất hành tối phạ Vãng vong, như hệ cát thần chung hoạch lợi
Thị cố cát hung thần sát chi đa đoan, hà như sinh khắc chế hóa chi nhất lý

Hổ động mà gặp cát thần chẳng hại, mà là tốt. Long động mà gặp sao hung khó tránh, ấy là hung. Huyền Vũ chủ việc đạo tặc không nên ở hào Quan. Chu Tước vốn thần khẩu thiệt nhưng không nên ở Huynh Đệ. Tật bệnh rất nên có Thiên Hỷ, nếu lâm hung sát tất sinh đau buồn. Xuất hành rất sợ Vãng Vong, nếu gặp cát thần cuối cùng được lợi. Cho nên Thần sát cát hoặc hung tuy quá nhiều, đâu bằng một lý sinh khắc chế hóa.

Đại để Bốc dịch nên định Ngũ hành của Lục thân, không thể dùng thần sát lộn xộn để đoán. Vốn Thần sát ở sách xưa đến lúc Kinh Phòng tiên sinh làm Dịch, để lại quá nhiều sao hung cát làm mê hoặc người học về sau, đại loại như Thiên Hỷ, Vãng Vong, Đại Sát, Đại Bạch Hổ. Nay người đời lấy làm tông chỉ, không gì là không tin. Nhưng thần sát quá nhiều, há có thể dùng được sao. Với phép dùng Lục thú mà nói, chẳng ai không lấy Thanh Long làm tốt, Bạch Hổ làm hung, thấy Chu Tước cho là khẩu thiệt, thấy Huyền Vũ cho là đạo tặc, không phân biệt lầm trì Dụng thần, Nguyên thần, Kỵ thần hay Cừu thần, đại khái lấy tính chất của Lục thú để đoán mà thôi, làm mất diệu chỉ của tiên thiên. Chẳng lẽ Bạch Hổ động chắc chắn là hung, nếu lâm vào hào thích ứng để sinh phù cùng hợp với Thế thân, thì có gì hại đến ta, cho nên bảo là hung mà chẳng hại, ấy là tốt.

Thanh Long động vốn là tốt, nếu lâm vào hào kỵ, hình xung khắc hại Dụng thần, thì có ích gì cho việc. Cho nên bảo là tốt mà chẳng ngăn được hung.

Chu Tước tuy chủ khẩu thiệt nhưng chẳng phải Huynh Đệ tính lâm, tất không thể thành khẩu thiệt.

Huyền Vũ tuy chủ đạo tặc, nếu không phải là hào Quan tinh lâm, thì không gọi là đạo tặc.

Vốn Lục thú dựa vào sinh khắc ngũ hành của Lục thân.

Lại như Thiên Hỷ là cát tinh, xem bệnh mà gặp, tuy đại lợi nhưng hung hiểm, lại không đoán chết, là có nhớ Thiên Hỷ; nếu lâm vào Kỵ thần, thì ta lấy làm buồn mà chẳng lấy làm vui. Vãng Vong là hung sát, xuất hành mà gặp tuy đại tượng cát lợi, lại đoán hung, vì cớ là thần chết.

Nếu lâm vào hào ưa thích động mà sinh phù cùng hợp với Thế thân Dụng thần, ta tất lấy làm lợi mà không cho là hại. Vì quyền của Thần sát là nhẹ mà quyền của Ngũ hành là nặng. Do vậy mà xem, gặp cát thì cát, gặp hung thì hung, do ở Ngũ hành mà không do ở Thần sát, nghiệm ở lý mà không nghiệm ở sát, hà tất phải theo thuyết ảo vọng đó. Nếu không thì ta quá lẫn lộn, đã hại lý lẽ mà loạn nhân tâm, há làm sao có thể chắc đúng được.

Thần sát vốn không bằng chứng, chỉ khiến việc đoán dịch rẽ ra nhiều lối, mà không thỏa bằng lẽ sinh khắc chế hóa, đã sáng tỏ lý lẽ mà linh động, rành mạch mà chẳng mê hoặc. Lục thân là cái gốc, Lục thú là cái ngọn. Đến như các cát thần hung sát như Thiên Hỷ, Thiên Y, Tang xa đều là từ ngọn này đến ngọn khác, muốn dùng thì chỉ có Lục Thú là được. Tức trọng ở gốc mà nhẹ ở ngọn vậy. Nhưng Lục thú chỉ có thể suy tính tình, hình trạng, còn như cát hung đắc thất, lấy sinh khắc của Lục thân làm chủ. Học như vậy thì gốc ngọn đều đầy đủ không mất diệu chỉ, mà từ một lẽ có thể thông suốt hết.

66.

嗚呼卜易者知前則易

Ô hô! Bốc dịch giả tri tiền tắc dịch

Than ôi! Người bói dịch trước hết phải biết thông biến.

Người đời bói dịch đều câu nệ vào cổ pháp, người biết biến thông hiếm có. Cho nên gặp Long, Hổ thì đoán vui buồn, thủy hỏa thì đoán mưa tạnh, Không vong thì cho là hung, Nguyệt phá thì bảo vô dụng, Thân thì cho là mình, Ứng hào thì cho là người. Phàm loại như thế khó nêu lên cho hết. Lưu Bá Ôn tiên sinh viết sách này, dùng cái hay của lý lẽ mà bỏ cái hẹp hòi của ý nghĩa, tỏ rõ cái tối tăm xưa, định lại cho đúng sai lầm ngày nay. Người đời chấp mê vào cổ pháp chẳng ai là không lấy đó mà lý giải. Người có chí với thuật này nên xét những điều nói trên, thì tự biết linh động.

67.

求占者鑑後則靈

Cầu chiêm giả giám hậu tắc linh

Người cầu bói phải xem xét sau đó mới linh.

Người đoán dịch đương nhiên phải thông biến, mà người cầu bói cũng không thể không biết đạo về bói. Đấy là thành tâm.

68.

筮必誠心

Phệ tất thành tâm

Bói phệ phải thành tâm.

Thánh nhân làm Dịch ca ngợi thần minh, vì đem đạo hợp với trời đất. Cho nên phàm bói Dịch, tất cần chân thành kính cẩn, hết lòng mà cầu, tất cát hung họa phúc không gì là không nghiệm. Ngày nay người cầu bói đông, mà cử chỉ chẳng nghiêm trang, ăn mặc bê bối, thậm chí có người chẳng thắp nhang, chẳng rửa tay. Lại có người giàu có tự kiêu, sai gia nhân xem bói thay mình, hoặc nhờ thân hữu đi coi giúp, mà không biết mình tuy phát tâm xem mà người đi thay tâm chưa kính. Cẩu thả như thế mà muốn cầu thần minh cảm ứng sao, há không thận trọng ư?

69.

何妨子日

Hà phương Tí nhật

Ngày Tí có hại gì.

Trong sách lịch âm dương có câu "Tí bất vấn quái" (Tí chẳng xem bói). Cho nên người đời nay phần lớn kỵ ngày Tí. Lưu quốc sư nói: Việc ứng hung cát đều do cảm của thần minh. Thần minh không lúc nào không có, không lúc nào không cảm. Cảm được với thần minh thì không lúc nào không nghiệm. Cho nên phàm bói Dịch do tại người có lòng thành hay không, chẳng do tại ngày Tí hay không phải ngày Tí.

Lời kết Chương 6

Toàn chương trên đây trình bày chung phép đoán Dịch, là chương nói những nét chính yếu. Không theo như thế thì mọi việc khó quyết. Người có chí trước hết đọc chương này, nếu có thể suy đi nghĩ lại mãi, đọc kỹ chú thích tất rõ lý lẽ, thì mọi điều mọi việc xảy ra đều có thể lý giải. Nào có gì hơn được Bốc dịch.


Nguồn: Tăng Bổ Bốc Phệ Chính Tông (增補卜筮正宗) – Vương Hồng Tự, bản dịch và chú thích của Vĩnh Cao.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bốc Phệ Chính Tông